- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

“EM &TRỊNH” LIỆU CÓ ĐOẠT GIẢI “CÁNH DIỀU” CỦA HỘI ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM?

04 Tháng Chín 20238:30 CH(Xem: 34602)

 EM-tcs

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

“EM &TRỊNH” LIỆU CÓ ĐOẠT GIẢI “CÁNH DIỀU”
CỦA HỘI ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM?

 

Trong ngót hai chục phim truyện điện ảnh tham dự tranh Giải Cánh Diều năm nay của Hội Điện ảnh VN, có thể nói “Em & Trịnh” là một tác phẩm hoành tráng bậc nhất. Và cũng cần phải thẳng thắn điều này: những người làm “Em & Trịnh” đã rơi vào cả hai tình huống đặc biệt của Điện ảnh: a. thực hiện một bộ phim chân dung vốn đầy thử thách, b. đặc biệt là phim ca nhạc sẽ cực kỳ khó khăn về các yếu tố kỹ thuật!

Bộ phim được quay hết sức công phu về tạo dựng - tái hiện bối cảnh, về phục trang, diễn xuất, thể hiện bài hát, âm thanh… được thực hiện bởi các nhà tổ chức sản xuất chuyên nghiệp khiến người làm điện ảnh VN nhiều thế hệ phải nghiêng mình kính nể! Cũng chính vì vậy mà nhiều người trong nghề cảm thấy tiếc cho phim, khi bộ phim công phu này đã không đạt được cái điều mà các tác giả mong muốn & khán giả mong đợi…

Ngay từ cái tên phim và cách khai thác xử dụng tư liệu đời tư cả những nhân vật còn sống vào cấu trúc truyện phim, khán giả thấy rõ là người làm phim đã cố gắng xây dựng những “thiên tình sử” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhằm cái đích tối thượng là câu khách, và dùng các nhạc phẩm của ông để minh chứng cho cái chuyện tựa huyền thoại song có thực: “từng người tình bỏ ta đi, như những dòng sông nhỏ”… Nhưng nếu là cái đích Chân dung thực sự thì đã bị phá sản! Người xem phần đông đã bị cái ma mị của nhạc Trịnh vốn đã quen thuộc cuốn đi theo cảnh phim, chỉ sau khi thôi bị âm thanh KTS hiện đại quyến rũ rồi mới ngớ ra: đâu phải thế, Trịnh đâu có những chi tiết tình ái bịa đặt như thế, người sống sờ sờ kia kìa, sao lại làm vậy!? Nhà sản xuất phim “E&T” tuyên bố với báo chí: “Ngay từ đầu, chúng tôi đã khẳng định và còn ghi rõ trong phim “Lấy cảm hứng từ nhân vật có thật”, chỉ lấy cảm hứng và kể câu chuyện bằng ngôn ngữ điện ảnh chứ không copy y nguyên sự thật ngoài đời vào trong phim!” Nhưng họ đã làm ngược với tuyên bố nọ, dẫn đến những kiện cáo đáng buồn tới nay chưa chấm dứt!

Trong khi đó, khán giả quen xem phim và khán giả chưa quen xem phim (cũng chưa thông thạo thủ pháp làm phim) lại hy vọng những tình khúc của Trịnh đã hé lộ một cách chân xác và đầy rung cảm đời sống tâm hồn ông ra sao - cái tâm hồn vật vã trước những lằn ranh nghiệt ngã của đời sống mà lắm khi Ái tình, sự thất tình chỉ là cái cớ cho ông bộc lộ nỗi bi thương, niềm xót đau cho số phận Con người. Điều đó mới tạo ra sự bất hủ cho tác phẩm của ông! Bộ phim dường như chỉ tập trung miêu tả đời sống Tình Ái của ông, nỗi thất tình của ông - dù ông có buồn cho sự đổ vỡ và “từng người tình bỏ ta đi”, nhưng nếu thế đã vô tình hạ Trịnh xuống thành một nhạc sĩ Tình ca bình thường.

Mấy chục năm trước, các rạp - bãi chiếu bóng nước ta có chiếu một bộ phim Áo đen trắng kể về cuộc đời nhạc sĩ thiên tài Áo Franz Schubert, phim "Bản giao hưởng dang dở" (nguyên tác: La symphony inachevée); gần cuối phim, sau khi cô người yêu buộc phải ngậm ngùi chia tay với Schubert vì gia đình phản đối quyết liệt, cô nói trong nước mắt: "Đừng buồn anh ạ, bởi một người như anh có cái mà những người khác không có, đó là sự bất tử..." Lời động viên đó hẳn không thể làm vợi nỗi buồn của chàng nhạc sĩ nghèo, anh ngơ ngác đi lang thang trên con đường đất chìm ngập trong biển lúa mỳ. Ngay sau đó, chồng hình chuyển cảnh sang người nhạc sĩ bước từng bước lên bậc thang Nhà thờ, và "Bản giao hưởng dang dở" nổi tiếng bắt đầu dâng lên, cùng với những dòng chữ phim cuối xuất hiện cho đến khi hết bản nhạc…

Phải chăng nhạc sĩ TCS khi hình thành các nhạc phẩm “Biển nhớ”, “Diễm xưa”, “Hạ trắng”… cũng từng sống trong nỗi buồn tuyệt vọng về Tình yêu dang dở, Khát vọng đang tìm kiếm, Sự nghiệp còn mờ mịt, Cuộc sống như “Hố thẳm” (chữ của Phạm Công Thiện)... Và ông đã nhớ tiếc về những gì tốt đẹp đã có và cần phải có trong cõi đời phù du đương ngập tràn khói đạn, sự giết chóc, nỗi hận thù; ông mượn giọt mưa tủi hờn, biển động, ngọn liễu rủ, tiếng gió lộng… để bộc lộ “nỗi sầu hoang vu” của mình.  Bác tôi, cố nhạc sĩ Lê Lôi có lần bảo: “Đã mang danh nhạc sĩ thì phải có sáng tác khí nhạc; nhưng với trường hợp TCS thì khá đặc biệt, TCS sẽ sống lâu dài trong lòng người Việt chỉ với danh nghĩa nhạc sĩ của ca khúc. Ca khúc của ông khác biệt với tất cả các dòng ca khúc, tất cả các nhạc sĩ khác - trong mélodie (giai điệu) lẫn ca từ. Chính bác cũng đang tự hỏi mình xem cái khác biệt đó là gì?…”. Tôi thiển nghĩ, cái khác biệt đó phải chăng nằm ở chỗ: toàn bộ tình ca của Trịnh chứa đựng nỗi cô đơn ngậm ngùi, sự nuối tiếc thầm lặng, niềm xót xa cho vẻ đẹp và mơ ước cứ mỗi lúc một lùi xa - giữa một thời kỳ đầy xáo động khiến nhân tính bị méo mó biến dạng đến thê thảm mà bản thân người nghệ sĩ tôn thờ cái Đẹp chưa thể lý giải nổi…

Còn trong “Em &Trịnh”, nhiều trường đoạn phim, cảnh phim rất công phu đã chỉ cho thấy một chàng trai tài hoa đau khổ, thất tình, lặn ngụp trong cô đơn cô độc khi không giải thoát được cho người mình yêu… Trên cái nền ý tưởng và cấu trúc phim như thế, những trường đoạn phim nói về âm nhạc Trịnh “dấn thân” vào cuộc sống hôm qua & hôm nay sẽ trở thành những đoạn phim lắp ghép, minh họa một cách lộ liễu, chúng không thể “đọ” nổi những cảnh phim ướt át về Tình yêu chớm nở, Tình yêu tuyệt vọng, Tình yêu dang dở mà người làm phim đã kỳ công xây dựng trước đó!

Thêm một điều tiếc nuối nữa: giá mà nhân vật Trịnh lúc lớn tuổi cũng do chính nhân vật đó lúc trẻ thủ vai (với nghệ thuật hóa trang hiện đại, đó là chuyện dễ dàng); còn nghệ sĩ Trần Lực có lẽ ở vai trò người đứng sau ống kính máy quay chỉ đạo diễn xuất sẽ phù hợp hơn trong việc hóa thân vào TCS thời ông đã nổi danh toàn quốc và sang cả đất nước Mặt trời mọc khiến một cô gái Nhật mê ông, chấp nhận lời cầu hôn của ông - như hư cấu của phim. Một sự hư cấu khiến đại diện của  bà Michiko Yoshii - người được mượn hình ảnh thể hiện trong “Em & Trịnh” - đã gửi công văn yêu cầu nhà sản xuất xin lỗi công khai, bởi “Đây là hành vi không chỉ xâm phạm đến quyền dân sự của giáo sư Michiko mà còn xâm phạm đến bí mật cá nhân, quyền thân nhân của cố nhạc sĩ”…

 

Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 6967)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 7330)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 7324)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 9910)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 9892)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 9936)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 9853)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 202610:12 CH(Xem: 11668)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 20252:20 SA(Xem: 9439)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
17 Tháng Mười Hai 20252:52 CH(Xem: 10184)
Đặc biệt là với bộ phim: “Rang De Basanti” sản xuất năm 2006 (Hãy tô màu nghệ cho tôi - nguyên gốc tiếng Hindi có nghĩa: Hãy vẽ tôi bằng màu sắc mùa xuân) của đạo diễn Rakeysh Omprakash Mehra, bộ phim đã phá vỡ toàn bộ các kỷ lục phòng chiếu trong lịch sử điện ảnh Ấn Độ và sau đó chiến thắng nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng; và bộ phim “The Last Film Show” sản xuất năm 2021 (Buổi chiếu phim cuối cùng) của đạo diễn Pan Nalin - người xem phim Việt có thể tìm thấy dân tộc mình trên con đường đẫm máu đến với Tự do & Dân chủ và đồng thời tìm đến với Nghệ thuật thứ Bảy như một phương tiện hữu hiệu bậc nhất để tuyên truyền và giáo dục dân chúng.