- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

CAO VỊ KHANH – MỘT NGÀN LẺ BƯỚC ĐỘC HÀNH

19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 1515)

thuan015
Tranh Nguyễn Đình Thuần



nguyễn thị khánh minh

 

CAO VỊ KHANH – MỘT NGÀN LẺ BƯỚC ĐỘC HÀNH

-Nhân đọc tập thơ Ký Ức Tháng Tư, và Khúc Đoạn Trường của nhà thơ Cao Vị Khanh.

 

 

viết bao nhiêu chữ cho vừa lệ

một cuộc tang thương, mấy đoạn trường(CVK)

 

Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.

 

CAO VỊ KHANH- NGƯỜI NHẶT KÝ ỨC

 

Độc hành trong triệu bóng độc hành. Mỗi người oằn vai một gánh đau chung và một nợ đau riêng, họ trôi dạt theo lớp sóng thời gian, họ bước đi trên mảnh vỡ của một không gian rách toạc, mỗi mảnh vang mỗi địa chấn, của nghèo đói, của tù ngục, của thuyền nhân, của lưu vong. Có ai nhìn thấy bóng lẻ loi ấy. Ký ức nào người nhặt về, thời gian nào người níu lại, không gian nào người đang chắp nối? - dẫu lòng ngập mặn đã tầng sâu-, vẫn không ngại xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ.

 

Có ai cảm thấy cái tận dài của đêm khóc một mình, cái hút sâu của ai oán bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng? Nghe nó bẽ bàng, tủi nhục và cô đơn cùng tận. Cảm thương cho khí phách dưới trăng tà, tiếng bi ai của nghìn nghìn trái tim ngủ vùi trong cát trận, và xa chưa, mà ngọn gió biên ải vẫn sướt da, mà âm vang áo bào, dấu trận vẫn lửng lơ đầu vực? Tàn cuộc lửa binh ư? Không, một vở bi hài kịch vừa kéo màn, mà tất cả diễn viên, khán giả kẻ khóc người cười biết lấy gì vui mà đắp đổi...

 

… người tù trẻ

trả súng rồi.

đêm khóc một mình.

(Tàn Cuộc- Ký Ức Tháng 4)

 

Ta đánh mất trái tim ngoài bãi trận

Lấy gì vui đắp đổi buổi tàn thu

(Lệ Khôn Cùng- Ký Ức Tháng 4)

 

Sợi giây oan khuất treo đầu vực

Manh áo bào phai dấu trận mờ

(Góc Biển- Ký Ức Tháng Tư)

 

Lũ lượt người đi lên ải bắc

Tấc lòng mông muội nhớ mang mang

Máu xương đòi đoạn còn ngây dại

Bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng

(Điếu Khúc – Ký Ức Tháng Tư)

 

Còn những người đi chẳng thấy về

Những bồ mỹ tửu lạnh môi tê

Qua sông Dịch trắng thù chưa trả

Kiếm gãy cờ tan lạnh bốn bề

(Buồn Xưa)

 

Và đây là 4 câu thơ đánh bật ta ra khỏi biên giới của đau nhói, sững sờ, một nỗi gì như tâm tan hoang:

 

Ta đi rong khắp Nam cùng Bắc
Gom hế́t muôn ngàn vải tám thô
May đủ hai hàng cờ lá phướn
Treo lên trắng toát một cơ đồ

(Hành Tháng Tư- Ký Ức Tháng Tư)

 

Người đi lánh nạn cuối ghềnh xa

Không gió Nhạn môn vẫn sướt da

Lạc bóng Trường An từ lửa dậy

Tủi người mài kiếm dưới trăng tà

(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng Tư)

 

Chợt nghe gió hú dặm trường,

hồn Đặng Dung khóc tiếc đường kiếm hư.

Người về, thắp nến án thư,

họa bài Chính Khí, lệ từ nét ngang.

(Hận Xưa- Ký Ức Tháng 4)

 

Kẻ ngóng đầu non, đợi cuối gành

Đếm từng tiếng vạc suốt thâu canh

Đã lâu vắng bóng người qua ải

Ngâm tiếp cùng ta vạn lý hành

Kẻ sống như người chết loạn đao

Róc từng sớ thịt xẻ niềm đau

Trái tim từ buổi đời xuôi ngược

Đập chỉ trường thiên nhịp biển dâu.

(Góc Biển- Ký Ức Tháng 4)

 

Người thua trận chót đền trăm tuổi -tử sĩ đã đành-, mà kẻ sống cũng máu xương đòi đoạn:

 

Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ
Mười năm đánh đổi chuyện keo sơn
Người thân biệt xứ lên rừng núi
Kẻ ngóng đầu non đến mỏi mòn

(Hành Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)

 

Ký ức nào bứt ra từ nấm mồ chung đáy biển xanh, để nay về trên chữ của người kể chuyện mắt nhắm không đành của tử thi, của hoang đảo nhuốm tiết trinh một thời huyết biển? Biển nào để tang, biển nào chứng nhân muôn đời của Dặm ngàn sinh mạng nhẹ như tơ…?

 

Mẹ gởi con đi ngoài biển lạnh
Bằng như cọng cỏ ném sau gành
Thuyền con mỏng mảnh trời đen kịt
Mẹ thức từng đêm mắt lạnh tanh

Con đi một sống trăm lần chết
Mẹ đứt từng khoanh ruột đoạn đành

(Hành Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)

 

Còn nấm mồ chung đáy biển xanh

Mắt khô trống hoác nhắm không đành

Những trinh tiết gái ngoài hoang đảo

Phơi trắng đầu doi cuối bãi gành

(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng 4)

 

Ai, ai là người cùng nhà thơ ngồi bên kho ký ức ấy, làm một lễ chiêu hồn:

 

Ta nằm úp mặt trên bờ cát

Nghe sóng tiền thân vỗ bập bùng

Bỗng thấy quê hương như có thật

Bên trời bạc trắng tóc rưng rưng

(Lệ Không Cùng- Ký Ức Tháng 4)

 

Ôi những mồ hoang người tử trận

Ai thắp giùm ta một nén hương

Ai khắc trên đầu bia đá tảng

Sống trung can chết vượt đời thường

(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng Tư)

 

Những tưởng mười năm đời sáng lại
Ta về bươi kiếm miểng xương khô
Vét hết oan khiên người lỡ vận
Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
(Hành Tháng Tư)

 

Quê hương hư thực như môt niềm hy vọng lẫn ảo vọng… và những nấm mồ hoang là phế tích, là chứng nhân, chiến sĩ vô danh đã là hồn thiêng của núi sông. Tôi ngậm ngùi nhớ Khánh Lý đã hát …hòa bình hay chiến tranh cũng chỉ là rêu xanh bám trên nấm mộ hoang… (Những nấm mộ hoang- Lê Minh Bằng-1972)

 

CAO VỊ KHANH- VÀNG CÁNH RONG PHIÊU BẠT

 

Ta bỏ người. Không phải Ta xa người, “Bỏ” này đoạn trường biết mấy cái Xa kia. Thân phận cánh rong phiêu bạt, theo đưa đẩy vào cõi trời quen đất lạ, và cõi vô biên của thời gian. Ta mang mặc cảm rời bỏ, bên kia chân trời là Người-quê hương- đau đáu lệ kêu thương, cả hai dằn vặt tâm phủ nhau. Tội lỗi với Người chăng dù đó là cái Bỏ bị động, của bức bách?

 

Ta bỏ người đi biệt mấy thu

Người chờ mắt lệ mấy dòng sâu

Còn ta vàng cánh rong phiêu bạt

Đổ tắp ghềnh cao, nắng dãi dầu

(Lệ Biển Xanh- Ký Ức Tháng 4)

 

Như ngựa Hồ hí khi gió bấc về, người thơ mỗi khi rượu cay lại nghe mùi quan ải ngày binh đao, nhân lên ngàn lần nỗi dặm dài

 

Rượu nốc từng đêm sầu cặn lại

quê nhà xa huốt một đường bay

men cay có ướp mùi quan ải

mà nối xa thêm những dặm dài

(Túy Bút)

 

Để mũi tên đau: Lịch Sử- Ký Ức- Di chứng- cứ ghim hoài trong tâm thức. Mười năm được nhắc đi nhắc lại như tiếng đều đều của chiếc cối xay thời gian, tỏ bật nỗi phận gởi thân lê. Như vừa sống vừa chịu gia hình, …biết đâu bờ bến mà về/ linh đinh phận gởi thân lê xứ đày. Có thật không một nơi nào trên mặt đất hoang vu này, gọi là quê hương, mà để…ta sống như loài thú thất tung…? 

 

Ta sống mười năm kề cực bắc

Mười năm xuyên suốt mũi tên đau

Mười năm thương phế từ tâm phủ

Còn lại gì không ước nguyện đầu

(Biển Bắc- Ký Ức Tháng 4)

 

Còn tấm thân cằn tẩm gió mây

mươi năm thắc thẻo chuyện sum vầy

mươi năm đuối mộng. Hèn vong quốc

rượu nhắp bên trời, cay. Rất cay.

(Túy Bút)

 

Chờ ai mà nghe mòn mỏi. Như thể đi xuyên qua ta, thời gian đã để lại lời nguyền lỗi hẹn, Chắc tại quê hương ngoài cõi đợi…  

 

Có bữa chợt thấy lòng đau dội

Đau suốt con tim đến lạ thường

Chắc tại quê hương ngoài cõi đợi

Bên trời đau đáu lệ kêu thương.

(Quê Hương- Ký Ức Tháng 4)

 

Vì đó không phải là cái xa của cách trở dặm dài, nó là cái xa của máu lệ những người khuất mặt. Hai câu thơ dưới dây nghe đẫm phận hoài, tình nào có thể nối lại nghìn trùng máu lệ kia, lịch sử ơi!

 

Quê xa đâu phải ngàn dặm mỏi.

Xa tự muôn trùng máu lệ xưa…

(Ký ức 1)

 

Cõi đợi đã không, cõi mộng cũng gần như trắng tay, nó chỉ là những dặm đường đầy chua chát của bước đi không trọn:

 

Đã đuối phong trần, đẫm gió mưa

Đêm còn đuổi mộng? -những dặm thừa

(Ký Ức 1- Ký Ức Tháng 4)

 

Và đúng là nỗi đau dội, khi nhìn lên trời, một ngày đầy mây, có lời thơ vỡ ra:

 

Sao vẫn ngùi thương chuyện bể dâu

Bao nhiêu xương cốt vùi chung chỗ

Đã bốc thành mây. Mây trắng phau

(Mây Trắng)

 

Mây trắng, một biểu tượng đầy thiền vị cho sự phù du, vô thường, giờ là hồn cốt của bao oan khiên, đã đi qua lịch sử và giờ ở đó, -mây trắng phau- là sự thong dong của giải thoát chăng, mà sao khi nhìn nó cùng với câu thơ này tôi không tránh khỏi rợn buồn, ngùi ngùi cho một níu kéo.

 

Và có phải đây là bờ vực khi con người bị dồn vào biên giới của chịu đựng, phủ nhận tất cả, kể cả ẩn dấu một cảm thức hiện sinh, tại sao ta bị ném vào sự tồn tại này. Cánh rong phiêu bạt, một trạng thái không định hướng, đẩy tồn tại ấy đồng nghĩa với hư vô, và cơn đau dội kia như một cú choáng khiến người đâm ra ngờ vực, cả đến chất vấn con chữ. Chẳng lẽ không còn gì ngoài sự chịu đựng? Tôi không tin như vậy, bởi còn một dấu hỏi sau chữ Phù Vân kia.

 

Còn tôi với bóng. Một tôi

Với trăm xác chữ lạc loài kêu than

Năm mươi năm lệ đã tràn

Nghĩa nhân đã nát, đá vàng đã phai

Chữ-nghĩa hẳn cũng phận bày

Đọa đày cố quận… rạc rày ý thân

 

Ới ơi chữ-nghĩa! Phù vân?

(Xác Chữ)

 

ngồi chia với tượng nỗi lòng

mặt tôi với mặt tượng đồng, y chang.

(Túy Bút)

 

Người chờ cho hết đời cô quạnh
Ta đứng bên trời, lệ chảy nhanh

(Hành Tháng Tư)

 

Chờ bao giờ hết? Đời là trăm năm và cuộc chờ kia vô tận. Và đã bao tượng chờ ở thế gian này?

 

Và Biển. Ở đây, biển thời gian: Cuộn- Xóa- Lấp. Thời gian đang làm công việc của nó. Ký ức là sự tỉnh thức của ta, ta hiện hữu vói nó, không chỉ hẳn là gìn giữ quá khứ mà là một mốc cho ta biết cội rễ của lưu vong. Và để, nhân ái, Xóa vết thù xưa…

 

Biển Bắc chon von tận đỉnh trời

Âm hàn nhọn sắc xé da tươi

Tai nghe tiếng sóng thời gian cuộn

Xóa vết thù xưa, lấp dấu người.

(Biển Bắc- Ký Ức Tháng 4)

 

Xóa vết thù xưa… xóa vết thù xưa… Nhẹ nhàng như đang lật qua một trang sách. Chỉ còn Tình Người.

 

 

 

KẾT TỪ

 

Trong khép lại tập thơ Ký Ức Tháng Tư này, tôi đọc những câu mở ra của Khúc Đoạn Trường (trường thi,155 đoạn) của Cao Vị Khanh, đã đẩy tôi đến nhiều suy tư.

 

Không biết đây có phải là khoảnh khắc người thơ đối diện với hư vô chăng:

 

Rồi tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra.

Mọi trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ.

Không có chi. Không còn chi.

 

Cả ba câu thơ trùm một không khí cô đơn của thất lạc, của nỗ lực đang tìm lại mình, như một nghi vấn hiện sinh tôi là ai nếu không còn lại gì?   về sự phi lý của cuộc tồn tại như nhà văn Albert Camus đã nói, có phải đó là ý thức trần trụi về sự hiện hữu? 

 

Rồi tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra. Không ghi nhớ, không phán xét, không ký ức, chấp nhận thực tại cuộc sống với những phi lý hiển nhiên.

 

Mọi trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ, -thống khổ không được trân trọng sao-? Rỗng đây là một vết thương, thế giới này không phải là nơi cân đo cho nỗi đau, và thân phận con người là điều mà thế giới này không quan tâm.

 

Không có chi. Không còn chi. Chỉ thấy sự im lặng, vắng bặt, trống không. Không còn hình ảnh, ký ức, ẩn dụ, biểu tượng… nghĩa là tất cả những gì thuộc về “trước đó” bỗng biến mất. Như thể hư vô. Ngôn ngữ co lại thành một điểm: Không. Một phủ định, câm nín, thúc thủ.

 

Và. Qua những chặng đó, tôi dừng chân ở một liên tưởng khác thuộc Phật học:

Nhận thức vô thường trong tất cả sẽ qua đi. Không còn Ta nào để thống khổ. Và một rốt ráo Không của Buông Bỏ, để rỗng rang trong sáng. Lúc đó không phải đối diện với hư vô, mà là Tự Do.

 

Nguyễn Thị Khánh Minh

Upland, tháng 11-2025

 

Giới thiệu link để đọc bài thơ Hành Tháng Tư của Cao Vị Khanh:
https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2025/05/27/bai-hanh-thang-tu-3/

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Tám 20259:54 CH(Xem: 8973)
Một lần, khi bước lên tam cấp bằng gạch tàu xưa của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô Sài Gòn, tôi cảm thấy rất sống động, bóng ba tôi trong bộ quần áo màu mỡ gà của ngày ông ra đi, cầm một cây gậy tre đứng dưới bóng cây, tôi nghe rõ như hồi tôi 19 tuổi, ba sẽ làm một hòn non bộ dưới gốc cây này, và tôi đã viết, ở đó, câu thơ … hãy bước lên bậc-tam-cấp-thời-gian, quá khứ-hôm nay-và ngày mai. Và chọn một giấc mơ … đó là điều gắn bó tôi với ba bậc thềm tam cấp. Không phải vì cái ý nghĩa của ba chủ thể Trời – Đất – Con Người trong tri giác tam sinh, để nhắc nhở vô thường Sinh Lão Bệnh Tử, mà tôi cảm giác ba bậc thềm ấy như một dòng thời gian hư ảo. Khi bước lên nó như thể bước vào ngưỡng của giấc mơ. Nó là kinh nghiệm tôi có được khi cảm giác ấy được lặp đi lặp lại, thành một quy ước vô thức mà tôi cho rằng chỉ những ai sống thường trực trong nó mới cảm biết.
19 Tháng Tám 20255:49 CH(Xem: 10649)
Trương Vĩnh Ký (1837–1898) từ lâu đã là một nhân vật nhiều tranh cãi trong lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông là trí thức Tây học sớm nhất, thông thạo nhiều ngoại ngữ, có đóng góp nhất định cho việc phát triển chữ Quốc ngữ. Nhưng đồng thời, ông cũng là viên chức phục vụ trực tiếp cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Giữa hai cực sáng – tối ấy, giới nghiên cứu và văn học Việt Nam đã có những cách đọc rất khác nhau. Một số nhà phê bình văn học, tiêu biểu như Nguyễn Vy Khanh, xem ông là “tinh hoa văn hóa” và là niềm tự hào của dân tộc. Trong khi đó, sử gia Vũ Ngự Chiêu, dựa trên tư liệu gốc và phương pháp khoa học, đã khẳng định Trương Vĩnh Ký là một trí thức bản xứ cộng tác với ngoại bang. Câu hỏi lớn được đặt ra: chúng ta cần văn học để dựng nên huyền thoại, hay cần sử học để nói sự thật?
16 Tháng Tám 20254:58 CH(Xem: 9311)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
13 Tháng Tám 20251:51 SA(Xem: 9629)
Nhân vụ một giảng viên trường Cao đẳng y tế tại Hà Nội tối ngày 16/7/2025, sau khi nhậu say về đã đâm liên hoàn, gây tai nạn thảm khốc. Một người tử vong tại chỗ, ba mẹ con bị thương, một cháu nhỏ tiên lượng xấu, làm hư hỏng 8 phương tiện khác. Khi tỉnh rượu chỉ còn biết ôm lấy nỗi ân hận sâu sắc, nhưng lỗi không chỉ thuộc về người cầm lái mà còn trách nhiệm của những bạn nhậu, những người ép uống. Lời khai của can phạm, do uống say, mấy lần trước có gọi xe về, có app đặt xe lái hộ, nhưng hôm nay, không hiểu sao lại tự tin lái được (người say khôngbao giờ nghĩ là họ say) lên xe lao đi, đạp nhầm chân ga…
31 Tháng Bảy 202511:31 CH(Xem: 7638)
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
04 Tháng Bảy 202512:16 SA(Xem: 9997)
Một ngày của trung tuần tháng Chín năm 2002, sau khi thoát ra được vòng rào con Đập Mạn Loan, con đập lịch sử, con đập thủy điện đầu tiên trên sông Langcang-Mekong. Từ huyện Manwan bằng đường bộ, chúng tôi lên tới cổ thành Đại Lý (Dali) trời cũng đã sẩm chiều. Đại Lý vẫn được so sánh như một tiểu Kathmandu của Nepal, nơi có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử của hơn 1 triệu sắc dân Bạch (Bai) với gốc rễ văn hóa lâu đời từ hơn 3 ngàn năm. Từ thế kỷ thứ 7, đã có một nước Nam Chiếu (Nanzhao) rất hùng mạnh từng đánh bại quân nhà Đường vào thế kỷ thứ 8. Sang thế kỷ thứ 10 trở thành vương quốc Đại Lý cho tới thế kỷ 14, thời Nguyên Mông (Mongol Yuan) thì không chỉ Đại Lý mà toàn vùng Vân Nam đã trực thuộc vào nước Trung Hoa.
29 Tháng Năm 202512:23 SA(Xem: 13627)
Trong những năm gần đây, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI : Artificial Intelligence) đã tạo ra một làn sóng quan tâm sâu rộng trong giới viết lách. Với nhiều người, đây là một phương tiện mới mẻ, đáng để thử nghiệm. Nhưng với không ít người khác , nhất là những cây bút kỳ cựu hoặc thủ cựu, thì sự xuất hiện của AI đặt ra những hoài nghi, thậm chí phản ứng: Có nên xử dụng AI khi viết văn? Nếu có sự trợ giúp như thế, tác phẩm đó có còn là của cá nhân? Người viết có còn xứng đáng đứng tên tác giả? Tôi từng bỡ ngỡ và đặt những câu hỏi ấy khi mới tiếp xúc với AI. Nhưng nhờ trải nghiệm thực tiễn, tôi dần nhận ra bản chất thật sự của công cụ này – và càng hiểu rõ hơn đâu là ranh giới giữa công cụ hỗ trợ và ý tưởng sáng tạo. Bài viết này chia xẻ góc nhìn cá nhân ấy, không nhằm tranh luận hay áp đặt, mà như một cách giúp bạn đọc hiểu rõ hơn: trí tuệ nhân tạo không hề thay thế con người, và việc xử dụng AI trong sáng tác – nếu trung thực và có ý thức – là điều hợp lý và xứng đáng.
25 Tháng Tư 20255:54 SA(Xem: 13609)
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng. Có bố là công chức từ thời Vua Bảo Đại, ngay sau Hiệp định Genève 1954 ông quyết định đem toàn gia đình vào Nam và chọn định cư ở Đà Lạt. Vũ Xuân Thông tiếp tục theo học trường công lập Trần Hưng Đạo, tới Tú tài 2 không có lớp nên VXT phải vào Sài Gòn theo học trường Chu Văn An cho đến hết năm cuối trung học
16 Tháng Tư 20259:16 CH(Xem: 14889)
PHIM “ĐỊA ĐẠO” của Đạo diễn BÙI THẠC CHUYÊN “Từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước. Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!” TRẦN KHẢI.
18 Tháng Hai 202510:37 CH(Xem: 15666)
Rising Asia là một tạp chí học thuật đa ngành, ra 3 số mỗi năm, hoạt động từ 2021, chủ bút là TS Harish C. Mehta, hiện giảng dạy tại Đại Học Toronto, có trụ sở tại Bengal Ấn Độ. Tạp chí là nguồn tài nguyên để nghiên cứu, và giảng dạy về các vấn đề xã hội Châu Á. Mỗi tập của tạp chí đều có các bài bình luận giải thích về mọi khía cạnh của lịch sử, kinh tế, ngoại giao, văn học, y tế, khoa học, quân sự và văn hóa Châu Á.