- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

CAO VỊ KHANH – MỘT NGÀN LẺ BƯỚC ĐỘC HÀNH

19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 1520)

thuan015
Tranh Nguyễn Đình Thuần



nguyễn thị khánh minh

 

CAO VỊ KHANH – MỘT NGÀN LẺ BƯỚC ĐỘC HÀNH

-Nhân đọc tập thơ Ký Ức Tháng Tư, và Khúc Đoạn Trường của nhà thơ Cao Vị Khanh.

 

 

viết bao nhiêu chữ cho vừa lệ

một cuộc tang thương, mấy đoạn trường(CVK)

 

Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.

 

CAO VỊ KHANH- NGƯỜI NHẶT KÝ ỨC

 

Độc hành trong triệu bóng độc hành. Mỗi người oằn vai một gánh đau chung và một nợ đau riêng, họ trôi dạt theo lớp sóng thời gian, họ bước đi trên mảnh vỡ của một không gian rách toạc, mỗi mảnh vang mỗi địa chấn, của nghèo đói, của tù ngục, của thuyền nhân, của lưu vong. Có ai nhìn thấy bóng lẻ loi ấy. Ký ức nào người nhặt về, thời gian nào người níu lại, không gian nào người đang chắp nối? - dẫu lòng ngập mặn đã tầng sâu-, vẫn không ngại xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ.

 

Có ai cảm thấy cái tận dài của đêm khóc một mình, cái hút sâu của ai oán bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng? Nghe nó bẽ bàng, tủi nhục và cô đơn cùng tận. Cảm thương cho khí phách dưới trăng tà, tiếng bi ai của nghìn nghìn trái tim ngủ vùi trong cát trận, và xa chưa, mà ngọn gió biên ải vẫn sướt da, mà âm vang áo bào, dấu trận vẫn lửng lơ đầu vực? Tàn cuộc lửa binh ư? Không, một vở bi hài kịch vừa kéo màn, mà tất cả diễn viên, khán giả kẻ khóc người cười biết lấy gì vui mà đắp đổi...

 

… người tù trẻ

trả súng rồi.

đêm khóc một mình.

(Tàn Cuộc- Ký Ức Tháng 4)

 

Ta đánh mất trái tim ngoài bãi trận

Lấy gì vui đắp đổi buổi tàn thu

(Lệ Khôn Cùng- Ký Ức Tháng 4)

 

Sợi giây oan khuất treo đầu vực

Manh áo bào phai dấu trận mờ

(Góc Biển- Ký Ức Tháng Tư)

 

Lũ lượt người đi lên ải bắc

Tấc lòng mông muội nhớ mang mang

Máu xương đòi đoạn còn ngây dại

Bẻ kiếm vùi gươm đợi chiếu hàng

(Điếu Khúc – Ký Ức Tháng Tư)

 

Còn những người đi chẳng thấy về

Những bồ mỹ tửu lạnh môi tê

Qua sông Dịch trắng thù chưa trả

Kiếm gãy cờ tan lạnh bốn bề

(Buồn Xưa)

 

Và đây là 4 câu thơ đánh bật ta ra khỏi biên giới của đau nhói, sững sờ, một nỗi gì như tâm tan hoang:

 

Ta đi rong khắp Nam cùng Bắc
Gom hế́t muôn ngàn vải tám thô
May đủ hai hàng cờ lá phướn
Treo lên trắng toát một cơ đồ

(Hành Tháng Tư- Ký Ức Tháng Tư)

 

Người đi lánh nạn cuối ghềnh xa

Không gió Nhạn môn vẫn sướt da

Lạc bóng Trường An từ lửa dậy

Tủi người mài kiếm dưới trăng tà

(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng Tư)

 

Chợt nghe gió hú dặm trường,

hồn Đặng Dung khóc tiếc đường kiếm hư.

Người về, thắp nến án thư,

họa bài Chính Khí, lệ từ nét ngang.

(Hận Xưa- Ký Ức Tháng 4)

 

Kẻ ngóng đầu non, đợi cuối gành

Đếm từng tiếng vạc suốt thâu canh

Đã lâu vắng bóng người qua ải

Ngâm tiếp cùng ta vạn lý hành

Kẻ sống như người chết loạn đao

Róc từng sớ thịt xẻ niềm đau

Trái tim từ buổi đời xuôi ngược

Đập chỉ trường thiên nhịp biển dâu.

(Góc Biển- Ký Ức Tháng 4)

 

Người thua trận chót đền trăm tuổi -tử sĩ đã đành-, mà kẻ sống cũng máu xương đòi đoạn:

 

Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ
Mười năm đánh đổi chuyện keo sơn
Người thân biệt xứ lên rừng núi
Kẻ ngóng đầu non đến mỏi mòn

(Hành Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)

 

Ký ức nào bứt ra từ nấm mồ chung đáy biển xanh, để nay về trên chữ của người kể chuyện mắt nhắm không đành của tử thi, của hoang đảo nhuốm tiết trinh một thời huyết biển? Biển nào để tang, biển nào chứng nhân muôn đời của Dặm ngàn sinh mạng nhẹ như tơ…?

 

Mẹ gởi con đi ngoài biển lạnh
Bằng như cọng cỏ ném sau gành
Thuyền con mỏng mảnh trời đen kịt
Mẹ thức từng đêm mắt lạnh tanh

Con đi một sống trăm lần chết
Mẹ đứt từng khoanh ruột đoạn đành

(Hành Tháng Tư - Ký Ức Tháng Tư)

 

Còn nấm mồ chung đáy biển xanh

Mắt khô trống hoác nhắm không đành

Những trinh tiết gái ngoài hoang đảo

Phơi trắng đầu doi cuối bãi gành

(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng 4)

 

Ai, ai là người cùng nhà thơ ngồi bên kho ký ức ấy, làm một lễ chiêu hồn:

 

Ta nằm úp mặt trên bờ cát

Nghe sóng tiền thân vỗ bập bùng

Bỗng thấy quê hương như có thật

Bên trời bạc trắng tóc rưng rưng

(Lệ Không Cùng- Ký Ức Tháng 4)

 

Ôi những mồ hoang người tử trận

Ai thắp giùm ta một nén hương

Ai khắc trên đầu bia đá tảng

Sống trung can chết vượt đời thường

(Điếu Khúc- Ký Ức Tháng Tư)

 

Những tưởng mười năm đời sáng lại
Ta về bươi kiếm miểng xương khô
Vét hết oan khiên người lỡ vận
Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
(Hành Tháng Tư)

 

Quê hương hư thực như môt niềm hy vọng lẫn ảo vọng… và những nấm mồ hoang là phế tích, là chứng nhân, chiến sĩ vô danh đã là hồn thiêng của núi sông. Tôi ngậm ngùi nhớ Khánh Lý đã hát …hòa bình hay chiến tranh cũng chỉ là rêu xanh bám trên nấm mộ hoang… (Những nấm mộ hoang- Lê Minh Bằng-1972)

 

CAO VỊ KHANH- VÀNG CÁNH RONG PHIÊU BẠT

 

Ta bỏ người. Không phải Ta xa người, “Bỏ” này đoạn trường biết mấy cái Xa kia. Thân phận cánh rong phiêu bạt, theo đưa đẩy vào cõi trời quen đất lạ, và cõi vô biên của thời gian. Ta mang mặc cảm rời bỏ, bên kia chân trời là Người-quê hương- đau đáu lệ kêu thương, cả hai dằn vặt tâm phủ nhau. Tội lỗi với Người chăng dù đó là cái Bỏ bị động, của bức bách?

 

Ta bỏ người đi biệt mấy thu

Người chờ mắt lệ mấy dòng sâu

Còn ta vàng cánh rong phiêu bạt

Đổ tắp ghềnh cao, nắng dãi dầu

(Lệ Biển Xanh- Ký Ức Tháng 4)

 

Như ngựa Hồ hí khi gió bấc về, người thơ mỗi khi rượu cay lại nghe mùi quan ải ngày binh đao, nhân lên ngàn lần nỗi dặm dài

 

Rượu nốc từng đêm sầu cặn lại

quê nhà xa huốt một đường bay

men cay có ướp mùi quan ải

mà nối xa thêm những dặm dài

(Túy Bút)

 

Để mũi tên đau: Lịch Sử- Ký Ức- Di chứng- cứ ghim hoài trong tâm thức. Mười năm được nhắc đi nhắc lại như tiếng đều đều của chiếc cối xay thời gian, tỏ bật nỗi phận gởi thân lê. Như vừa sống vừa chịu gia hình, …biết đâu bờ bến mà về/ linh đinh phận gởi thân lê xứ đày. Có thật không một nơi nào trên mặt đất hoang vu này, gọi là quê hương, mà để…ta sống như loài thú thất tung…? 

 

Ta sống mười năm kề cực bắc

Mười năm xuyên suốt mũi tên đau

Mười năm thương phế từ tâm phủ

Còn lại gì không ước nguyện đầu

(Biển Bắc- Ký Ức Tháng 4)

 

Còn tấm thân cằn tẩm gió mây

mươi năm thắc thẻo chuyện sum vầy

mươi năm đuối mộng. Hèn vong quốc

rượu nhắp bên trời, cay. Rất cay.

(Túy Bút)

 

Chờ ai mà nghe mòn mỏi. Như thể đi xuyên qua ta, thời gian đã để lại lời nguyền lỗi hẹn, Chắc tại quê hương ngoài cõi đợi…  

 

Có bữa chợt thấy lòng đau dội

Đau suốt con tim đến lạ thường

Chắc tại quê hương ngoài cõi đợi

Bên trời đau đáu lệ kêu thương.

(Quê Hương- Ký Ức Tháng 4)

 

Vì đó không phải là cái xa của cách trở dặm dài, nó là cái xa của máu lệ những người khuất mặt. Hai câu thơ dưới dây nghe đẫm phận hoài, tình nào có thể nối lại nghìn trùng máu lệ kia, lịch sử ơi!

 

Quê xa đâu phải ngàn dặm mỏi.

Xa tự muôn trùng máu lệ xưa…

(Ký ức 1)

 

Cõi đợi đã không, cõi mộng cũng gần như trắng tay, nó chỉ là những dặm đường đầy chua chát của bước đi không trọn:

 

Đã đuối phong trần, đẫm gió mưa

Đêm còn đuổi mộng? -những dặm thừa

(Ký Ức 1- Ký Ức Tháng 4)

 

Và đúng là nỗi đau dội, khi nhìn lên trời, một ngày đầy mây, có lời thơ vỡ ra:

 

Sao vẫn ngùi thương chuyện bể dâu

Bao nhiêu xương cốt vùi chung chỗ

Đã bốc thành mây. Mây trắng phau

(Mây Trắng)

 

Mây trắng, một biểu tượng đầy thiền vị cho sự phù du, vô thường, giờ là hồn cốt của bao oan khiên, đã đi qua lịch sử và giờ ở đó, -mây trắng phau- là sự thong dong của giải thoát chăng, mà sao khi nhìn nó cùng với câu thơ này tôi không tránh khỏi rợn buồn, ngùi ngùi cho một níu kéo.

 

Và có phải đây là bờ vực khi con người bị dồn vào biên giới của chịu đựng, phủ nhận tất cả, kể cả ẩn dấu một cảm thức hiện sinh, tại sao ta bị ném vào sự tồn tại này. Cánh rong phiêu bạt, một trạng thái không định hướng, đẩy tồn tại ấy đồng nghĩa với hư vô, và cơn đau dội kia như một cú choáng khiến người đâm ra ngờ vực, cả đến chất vấn con chữ. Chẳng lẽ không còn gì ngoài sự chịu đựng? Tôi không tin như vậy, bởi còn một dấu hỏi sau chữ Phù Vân kia.

 

Còn tôi với bóng. Một tôi

Với trăm xác chữ lạc loài kêu than

Năm mươi năm lệ đã tràn

Nghĩa nhân đã nát, đá vàng đã phai

Chữ-nghĩa hẳn cũng phận bày

Đọa đày cố quận… rạc rày ý thân

 

Ới ơi chữ-nghĩa! Phù vân?

(Xác Chữ)

 

ngồi chia với tượng nỗi lòng

mặt tôi với mặt tượng đồng, y chang.

(Túy Bút)

 

Người chờ cho hết đời cô quạnh
Ta đứng bên trời, lệ chảy nhanh

(Hành Tháng Tư)

 

Chờ bao giờ hết? Đời là trăm năm và cuộc chờ kia vô tận. Và đã bao tượng chờ ở thế gian này?

 

Và Biển. Ở đây, biển thời gian: Cuộn- Xóa- Lấp. Thời gian đang làm công việc của nó. Ký ức là sự tỉnh thức của ta, ta hiện hữu vói nó, không chỉ hẳn là gìn giữ quá khứ mà là một mốc cho ta biết cội rễ của lưu vong. Và để, nhân ái, Xóa vết thù xưa…

 

Biển Bắc chon von tận đỉnh trời

Âm hàn nhọn sắc xé da tươi

Tai nghe tiếng sóng thời gian cuộn

Xóa vết thù xưa, lấp dấu người.

(Biển Bắc- Ký Ức Tháng 4)

 

Xóa vết thù xưa… xóa vết thù xưa… Nhẹ nhàng như đang lật qua một trang sách. Chỉ còn Tình Người.

 

 

 

KẾT TỪ

 

Trong khép lại tập thơ Ký Ức Tháng Tư này, tôi đọc những câu mở ra của Khúc Đoạn Trường (trường thi,155 đoạn) của Cao Vị Khanh, đã đẩy tôi đến nhiều suy tư.

 

Không biết đây có phải là khoảnh khắc người thơ đối diện với hư vô chăng:

 

Rồi tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra.

Mọi trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ.

Không có chi. Không còn chi.

 

Cả ba câu thơ trùm một không khí cô đơn của thất lạc, của nỗ lực đang tìm lại mình, như một nghi vấn hiện sinh tôi là ai nếu không còn lại gì?   về sự phi lý của cuộc tồn tại như nhà văn Albert Camus đã nói, có phải đó là ý thức trần trụi về sự hiện hữu? 

 

Rồi tất cả sẽ qua đi như không có gì đã xảy ra. Không ghi nhớ, không phán xét, không ký ức, chấp nhận thực tại cuộc sống với những phi lý hiển nhiên.

 

Mọi trái tim sẽ rỗng không như chưa từng có thống khổ, -thống khổ không được trân trọng sao-? Rỗng đây là một vết thương, thế giới này không phải là nơi cân đo cho nỗi đau, và thân phận con người là điều mà thế giới này không quan tâm.

 

Không có chi. Không còn chi. Chỉ thấy sự im lặng, vắng bặt, trống không. Không còn hình ảnh, ký ức, ẩn dụ, biểu tượng… nghĩa là tất cả những gì thuộc về “trước đó” bỗng biến mất. Như thể hư vô. Ngôn ngữ co lại thành một điểm: Không. Một phủ định, câm nín, thúc thủ.

 

Và. Qua những chặng đó, tôi dừng chân ở một liên tưởng khác thuộc Phật học:

Nhận thức vô thường trong tất cả sẽ qua đi. Không còn Ta nào để thống khổ. Và một rốt ráo Không của Buông Bỏ, để rỗng rang trong sáng. Lúc đó không phải đối diện với hư vô, mà là Tự Do.

 

Nguyễn Thị Khánh Minh

Upland, tháng 11-2025

 

Giới thiệu link để đọc bài thơ Hành Tháng Tư của Cao Vị Khanh:
https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2025/05/27/bai-hanh-thang-tu-3/

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Mười 202311:06 CH(Xem: 28202)
...Mai Ninh, Trần Vũ, Lê thị Thấm Vân vẫn viết về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến đã qua. Trần Diệu Hằng với Vũ điệu của loài công, Mưa đất lạ và Chôm chôm yêu dấu vẫn là những tập truyện ngắn liên quan cuộc sống người tỵ nạn, đến tâm tình từ góc độ một người tỵ nạn. Lê thị Huệ với Bụi Hồng, Kỷ niệm với Mỵ Anh và Rồng rắn vẫn là những soi chiếu vào tâm tình những cảnh đời của nếp sống di dân qua hình ảnh cô sinh viên thuở trước và bây giờ. Nhưng người ta vẫn nhận ra đề tài về tính dục vẫn là nét trổi bật trong các truyện của các nhà văn kể trên (trừ Trần Diệu Hằng). Thứ văn chương với đề tài có xu hướng trổi bật về tính dục đã mở đầu như một thứ cách mạng tình dục trong tiểu thuyết. Trước đây thì cũng có Tuý Hồng, Lệ Hằng, Thụy Vũ... cũng đậm mà chưa đặc, chưa đủ mặn. Ai là người đánh trống, cầm cờ về đề tài này? Có thể là Trần Vũ, Trân Sa hay Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Trường An và nhất là Lê thị Thấm Vân. Truyện sẽ không viết, sẽ không đọc, nếu không có trai gái.
12 Tháng Chín 202312:43 SA(Xem: 33158)
Hai câu trên nằm trong bài thơ mang tên “Lễ Phục Sinh 1916” của William Butler Yeats. Bài thơ nhằm tưởng nhớ tới những người đã ngã xuống cho tự do và độc lập của Ireland. Cuộc hành quyết đẫm máu các thủ lĩnh cách mạng sau cuộc trỗi dậy vào ngày lễ phục sinh đã đánh thức cả một thế hệ Ireland. Cuối cùng, nhân dân Ireland cũng dành được độc lập vào năm 1949 và bài thơ của Yeats được cho là một trong những bài thơ chính trị hay nhất của thế kỷ 20 trong lịch sử văn học nước Anh.
04 Tháng Chín 20238:30 CH(Xem: 30811)
Trong ngót hai chục phim truyện điện ảnh tham dự tranh Giải Cánh Diều năm nay của Hội Điện ảnh VN, có thể nói “Em & Trịnh” là một tác phẩm hoành tráng bậc nhất. Và cũng cần phải thẳng thắn điều này: những người làm “Em & Trịnh” đã rơi vào cả hai tình huống đặc biệt của Điện ảnh: a. thực hiện một bộ phim chân dung vốn đầy thử thách, b. đặc biệt là phim ca nhạc sẽ cực kỳ khó khăn về các yếu tố kỹ thuật!
10 Tháng Bảy 20231:55 CH(Xem: 31845)
PHỤ NỮ GIỮA CHIẾN TRANH VIỆT NAM: THỜI ĐIỂM 1969 Tầm nhìn Chiến tranh, Giấc mơ Hòa bình [Visions of War, Dreams of Peace] [1] là nhan đề một tuyển tập thơ của các nhà thơ nữ; nếu là Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, họ đã là những nữ quân nhân như y tá, bác sĩ đã từng chăm sóc các thương bệnh binh; nếu ở những ngành nghề khác, họ đảm trách các dịch vụ không tác chiến như chuyên viên truyền tin, tiếp vận, kiểm soát không lưu, nhân viên Hồng Thập Tự... Nếu là người Việt, họ là những phụ nữ thuộc hai miền Nam hay Bắc, với những trải nghiệm khác nhau, qua những năm tháng chiến tranh. Và như từ bao giờ, cho dù ở đâu, phụ nữ và trẻ em vẫn là thành phần dễ bị tổn thương nhất trong chiến tranh. Trong tập thơ này, có 34 nhà thơ nữ Hoa Kỳ, và sáu nhà thơ nữ Việt Nam: Xuân Quỳnh (My Son’s Childhood), Hương Tràm (The Vietnamese Mother), Hà Phương (To An Phu, From This Distance I Talk To You), Trần Mộng Tú (The Gift In Wartime, Dream of Peace), Minh Đức Hoài Trinh..., Nguyễn Ngọc Xuân...
09 Tháng Sáu 20234:36 CH(Xem: 28810)
T. cận tôi trai Hà Nội, song có dịp được đi & sống ở nhiều vùng đất trở thành thân quen, rồi yêu quý - và một trong những vùng đất đó là Bình Định. Một sinh viên của tôi làm phim tốt nghiệp về “Võ Bình Định”, tôi rất vui, bảo: “Thầy mới chỉ biết đôi chút về Trời văn Bình Định thôi, phim của em giúp thầy và nhiều người hiểu thêm về Đất Võ Bình Định đáng tự hào”… Mấy Hội thảo Khoa học về cụ Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - người thầy của Đào Tấn vĩ đại, về Tổng đốc Lê Đại Cang, may được ông Tổng BT tạp chí Văn Hiến Nguyễn Thế Khoa chiếu cố mời về cùng với tham luận và làm phim nên càng có dịp thâm nhập sâu hơn vào kho tàng văn hóa Bình Định. Một dạo, có lớp tập huấn về Biến đổi khí hậu do Thái Lan và Diễn đàn “Nhà báo Môi trường” tổ chức tại Quy Nhơn, được mời tham dự và làm phim cho họ, tôi có điều kiện hiểu thêm về giá trị của Môi trường “xứ Nẫu” nói riêng và Biển miền trung Trung bộ nói chung…
24 Tháng Năm 20234:02 CH(Xem: 31315)
Trong số những nhà thơ lớn Việt Nam các thời Cổ - Trung - Cận đại, tình cảm đặc biệt nhất của tôi với tư cách một người làm phim truyện, là dành cho Thi sĩ-Nhà giáo-Thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu. Bởi theo tôi, giá trị lớn nhất, sức hấp dẫn kỳ lạ nhất trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu, chính là trái tim thương cảm của ông đối với Dân, đối với những nghĩa sĩ đã xả thân cho Tổ quốc, và đặc biệt với phụ nữ, trẻ em - những nhóm người yếu thế nhất trong xã hội, nạn nhân đầu tiên của chiến tranh, loạn lạc…
21 Tháng Ba 20235:16 CH(Xem: 28194)
Chẳng thể cứ tự hào Việt Nam nay là đất nước phát triển nếu như dân cư của cả nước vẫn phải sống với nguồn nước bẩn và một môi trường đầy ô nhiễm. “Không có kỹ nghệ không gian các quốc gia vẫn sống được, nhưng không thể sống nếu không có nước.” Oded Distel [chuyên gia về nước của Do Thái] Đề nghị chọn Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 là Ngày Nước Việt Nam / Vietnam Water Day. [Nhóm Bạn Cửu Long]
26 Tháng Hai 20238:39 CH(Xem: 32081)
Mai An Nguyễn Anh Tuấn Ủng hộ lời kêu cứu cho Đồng Bằng Sông Cửu Long của nhà khoa học Ngô Thế Vinh trên vanviet.info và bauxitevn.net
13 Tháng Hai 202312:43 SA(Xem: 32166)
順天者存,逆天者亡 Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong Thuận với thiên nhiên thì còn. Nghịch với thiên nhiên thì mất. [Mạnh Tử] “Kế hoạch phát triển nào cũng phải tính tới cái giá môi sinh phải trả – environmental costs – đối với sức khoẻ của người dân và cả trên nguồn tài nguyên lâu dài của đất nước.” Ngô Thế Vinh
06 Tháng Giêng 202312:11 SA(Xem: 30139)
Nguyễn Du chỉ thốt lên một lần duy nhất: Ta vốn có tính yêu núi khi ông Bắc hành, ở đoạn cuối sứ trình; nhưng cái tính đó, ông đã bộc lộ biết bao lần trong 254 bài qua cả ba tập thơ chữ Hán của mình! Ai ham đọc sách mà không biết câu nói có tự cổ xưa: Trí giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn (Kẻ trí thì vui với sông nước, người nhân thì vui với núi non); song cái ý tưởng sách vở thể hiện khát vọng thoát tục thanh cao, mơ ước được tựa vào non xanh để tìm sự yên tĩnh vĩnh hằng của nội tâm đó đã được Nguyễn Du trải nghiệm bằng toàn bộ cảm giác buồn, vui, qua các đoạn đời phong trần của mình, và ông miêu tả chúng qua bao vần thơ chữ Hán thực thấm thía, rung động.