- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,520,618

Thăm Chiêu Ứng Từ Ở Huế ...

17 Tháng Giêng 200912:00 SA(Xem: 25085)

w-hopluu98-f2-t68_0_300x172_1

I. Chiêu Ứng Từ

Ở đường Chi Lăng thuộc khu Gia Hội, thành phố Huế có một ngôi miếu Tàu có tên là Chiêu Ứng Từ. Miếu được xây dựng bởi bang hội người Hoa gốc Hải Nam để thờ cúng vong linh của 108 thương buôn người Hoa bị giết vứt xác ngoài biển. Đây là miếu của người Hoa trên đất Huế, ghi dấu một sự kiện lịch sử và pháp chế đời Tự Đức.

 

Thoạt đầu, các vong linh được đem thờ chung ở ngôi chùa Bà gần đó có tên Quỳnh Châu Hội Quán nơi thờ Bà Thiên Hậu. Chùa này cũng do sự đóng góp của người Hải Nam mà xây nên. Ngày qua ngày, tin về tấn thảm kịch của những kẻ chết oan được loan truyền rộng ra, ít nhiều được thổi phồng lên; dần dà các nạn nhân được tôn lên thành những vị anh hùng uổng tử, và thành linh thần. Người dân địa phương khi có điều gì cần thường hay ghé vào đây để cầu xin; nhiều người được toại nguyện, ca ngợi sự linh hiển của các thần linh, uy danh do thế ngày càng lớn. Năm 1887, bang hội người đảo Hải Nam quyết định cho xây một ngôi miếu riêng nằm ở địa điểm ngày nay nhưng qui mô hồi ấy vẫn còn nhỏ. Các nơi khác có người Hải Nam lưu trú, nhiều ngôi miếu tương tự cũng được dựng lên như ở Đà Nẵng, Hội An, Sài Gòn, Singapore, Thái Lan, … nhưng bề thế hơn cả là ngôi miếu ở thị trấn Hải Hậu, huyện Vân Xương, đảo Hải Nam, nơi nguyên quán của những người đã khuất.

 

Về sau, thấy ngôi miếu ở Huế quá khiêm tốn, không xứng đáng với uy danh to lớn của các linh thần, kiều bào người Hoa gốc Hải Nam đứng ra quyên góp và đến năm 1908 mới xây dựng lại như thấy ngày nay. Tất cả công trình kiến trúc đều do bàn tay của các nghệ nhân từ Hải Nam đưa sang, kiểu dáng y hệt như miếu xây ở Hải Nam nhưng với kích thước thu nhỏ lại. Tuy thế đây lại là một trong các miếu cùng loại đẹp nhất với lối trang trí hết sức tỉ mỉ.

Miếu nằm trong khuôn viên rộng khoảng 400 mét vuông, tường rào bằng sắt bao quanh, cổng trước cũng bằng sắt, không trụ biểu, dẫn vào sân ngoài. Sân này được lát bằng gạch, hai bên sát tường có hai bồn hoa đủ các loại.

Kế đến là cổng chính, kiểu nhà có mái, cao 7 m, dài 13 m, rộng 5 m, chia làm ba gian, các cánh cửa đều bằng gỗ. Ở phần tường phía trên cổng là những điêu khắc các nhân vật trong những tích của các tuồng Tàu. Trên cổng có treo tấm biển khắc chữ ‘Chiêu Ứng Từ’, hai tấm liễn treo hai bên có các câu:

‘Để tưởng nhớ đến những đồng hương kính mến’ và ‘Uy danh của các vị bao trùm khắp vũ trụ’.

Ngoài ra, ở trên tường phía tả và hữu có những đoạn văn như sau:

‘Từ lâu người Hoa vốn là khách trú trên xứ An-Nam, trong đó có những người là nạn nhân của sự bất công, vong linh họ chưa được yên nghỉ. Nỗ lực của chúng ta để xoa dịu cơn thịnh nộ của các vị cũng vô vọng như chim Tinh Vệ (1) muốn lấp biển sâu’.

Và:

‘Linh hồn bất tử của các vị mãi mãi lênh đênh trên các sóng, thị hiện như sóng Ngũ Tư (2) để cứu vớt các con tàu bị nạn’.

Đằng sau, ngôi đình tứ giác hai tầng mái kiểu cổ lâu, mỗi bề 7 m, cao 7 m, bốn cột đúc giữa và bốn cột phụ. Bên trên có bức hoành ghi:

‘Tổ quốc chúng ta được che chở bởi linh hồn của các nạn nhân’.

Phía bên phải có một phòng lớn trông như lớp học dùng làm phòng họp của bang hội người Hải Nam.

Chính điện nằm giữa khu sân trong gồm ba gian, dài 12 m, rộng 8,4 m. Bên trên lối vào có bức hoành ghi:

‘Oai danh các vị bao la tựa đại dương’.

Bên trái, bên phải còn có các câu:

‘Sự hy sinh của các vị hộ trì cho sự an ninh của lãnh hải Trung Quốc’

Và:

‘Ân đức các vị nhiều vô kể’.

 

Nội, ngoại thất cả ba kiến trúc đều trang trí bằng phù điêu gốm màu sản xuất từ Trung Quốc với các hình tượng cá gáy hóa rồng, chữ Phúc, Lộc, Thọ, thơ văn chữ Hán viết trên tường bằng bột màu. Nóc quyết đắp tứ linh tinh xảo, rực rỡ.

Bàn thờ nằm ở gian giữa, bài trí đơn sơ với lư hương, các lọ cắm. Đằng trước và ngay bên trên có treo bức hoành phi:

‘Mọi điều cầu xin đều được toại nguyện’.

Hai bên có hai bức liễn ghi:

‘Lưu vong nơi xứ người nhưng vẫn kính yêu tổ quốc, ghi nhớ lời dạy của cổ nhân’

Và:

‘Đất An-Nam biết trọng lễ nghĩa. Dâng người đã khuất những cúng dường cần thiết để xoa dịu vong linh các vị’.

Đằng sau là bàn thờ nhỏ với bài vị của 108 người chết, bên cạnh có câu:

‘Uy danh các vị tràn ngập đất An-Nam’.

Riêng tại miếu thờ ở Đà Nẵng vẫn còn lưu giữ lá cờ vua Tự Đức ban cho, trên có thêu hàng chữ:

‘Sắc Phong Chiêu Ứng Oanh Liệt, Phó Phong Đức Bảo Trung Hưng"

Sự trang trí bởi các tượng chạm, chữ Hán, các tranh vẽ, cùng nhiều câu đối để diễn đạt xuất xứ của ngôi miếu, nhắc nhở đến các thời kỳ lịch sử xa xưa, mô tả đời sống của người Hoa, để vinh danh nước Trung Hoa, người Hoa nói chung, và đặc biệt linh hồn của những kẻ đã khuất.

Hằng năm vào độ rằm tháng sáu âm lịch, thân nhân các nạn nhân sống tại Việt Nam hay từ Hải Nam, cũng như người Hoa kiều từ các nơi qui tụ về đây để làm lễ tưởng niệm, thường thường lễ kéo dài đến ba ngày.

 

II. Vụ Án

Mùa hè năm Tự Đức thứ 4 (1851), Chưởng vệ Phan Xích, cùng Lang trung Tôn Thất Thiều nhận lệnh quản suất chiến thuyền mang tên Bằng Đoàn đi tuần tiểu vùng duyên hải các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Ngày 6 tháng 7 thuyền ra cửa Thuận An.

Theo sớ tâu ghi ngày 25 tháng 7 của Phan Xích và Tôn Thất Thiều dâng về triều đình thì ngày 16 tháng 7 ở ngoài khơi đảo Thanh Châu thuộc tỉnh Quảng Ngãi họ phát hiện thấy ba thuyền lạ của Trung Quốc. Chiếc Bằng Đoàn lập tức nhổ neo chạy vòng sang phía bên kia đảo đề quan sát kỹ hơn. Tình nghi là thuyền của hải tặc nên liền bắn ngay vài phát súng thần công. Bị tấn công bất ngờ, ba chiếc thuyền lạ bèn giương buồm bỏ chạy. Ba ngày sau (19 tháng 7) chiếc Bằng Đoàn bắt kịp chúng. Đôi bên giao chiến ác liệt. Sau đó một chiếc bị trúng đại bác vỡ tan, chiếc thứ hai bỏ chạy về phía đông, còn chiếc thứ ba trong tình trạng què quặt trôi bềnh bồng trên sóng. Một toán quân do Hiệp quản Dương Cử chỉ huy xông lên thuyền địch. Tuy đa số đã chết hoặc bị thương nặng, nhưng khoảng một chục thủy thủ đoàn còn lại vẫn ngoan cố kháng cự nên cuối cùng họ hoặc bị giết hoặc nhảy xuống biển trốn thoát. Chiếc thuyền sau đó được kéo về đảo Chiêm Dự tức Cù Lao Chàm. Bản báo cáo còn thêm rằng mặc dù đụng độ địch nhưng chiếc Bằng Đoàn chỉ hư hại nhẹ, có thể sửa chữa lại được ngay. Ngoài ra thì không có tổn thất nhân mạng nào. Phạm Xích và Tôn Thất Thiều sau đó ra lệnh cho đốt thuyền địch. Tinh thần anh em quân sĩ dâng cao, hai ông xin triều đình xét thưởng công cho tất cả.

 

Vua Tự Đức xem xong tờ tâu liền sinh nghi vì đánh nhau với phỉ mà lính tráng chẳng ai bị thương tích gì, còn phía bên kia thì chết sạch không một người bị bắt làm tù binh. Vua liền giao cho một quan bên Bộ Binh đi tra xét. Viên ngoại Nguyễn Văn Tân điều tra xong trở về xác nhận lời tâu của Phạm Xích và Tôn Thất Thiều là đúng sự thật. Trong tờ sớ tâu về triều, bên Bộ Binh kết luận rằng vì chiếc thuyền sơn màu đen nên không thể là một thuyền buôn được, và dựa theo lời kể của các quan cấp dưới cùng sĩ tốt thì những người trên thuyền đó toàn là quân phỉ. Bộ này xác nhận tất cả đều bị giết sạch nhưng không có chứng tích nào cho thấy bên kia có kháng cự, rõ ràng là nói ngoa.

 

Đồng thời cũng trong thời gian ấy, một tên trong số thủy thủ của chiếc Bằng Đoàn nhà ở gần phố Gia Hội (khu phố người Hoa ở Huế), nhân ăn nhậu không đủ tiền trả bèn cầm chiếc nhẫn cho chủ quán. Chẳng may cho hắn, vợ một người mất tích nhận ra (vì mặt nhẫn có khắc tên chồng bà), bèn đánh trống kêu oan. Vua Tự Đức sai tra xét, tên ấy phải nhận tội và khai ra hết sự tình.

Viên đội trưởng trong vệ Tuyển phong là Trần Hựu cũng thú nhận rằng hôm 17 tháng sáu năm 1851 thuyền quan đang đậu ở cửa biển Thị Nại được tin có ba chiếc thuyền lạ ngoài khơi đảo Thanh Dữ, Chưởng vệ Phan Xích và Lang trung Tôn Thất Thiều liền ra lệnh nhổ neo, chạy vòng ra phía sau đảo. Đến đây họ mới nhận biết đây là ba thuyền của Trung Quốc. Bị bắn, ba chiếc bỏ chạy về phía đông. Thuyền quan rượt theo và tiếp tục bắn thần công về phía chúng nhưng chúng chẳng hề đáp lại. Đến ngày 18 tháng 7, hai chiếc thoát mất dạng, duy chiếc thứ ba vì bị hư hại nặng phải hạ buồm đứng lại chịu trận. Cập lại gần, Phạm Xích ra lệnh cho tất cả những người bên thuyền của Trung Quốc sang trình diện. Họ tuân hành lệnh. Ba mươi ba người sang trình thẻ, nói là nhà buôn ở Thừa Thiên xin về thăm quê Trung Quốc và đã được cấp phép, lại có biết Lang trung Tôn Thất Thiều và Suất đội Nguyễn Tỉ; những người còn lại đều buôn bán ở Quảng Ngãi. Họ còn thêm rằng họ đang trên đường trở về Trung Quốc, và thuyền họ là thuyền buôn, không có chiếc nào là hải tặc. Mặc dù đã khai như thế nhưng Phạm Xích lại sai Hiệp quản Dương Cử dẫn một toán quân sang khám xét chiếc tàu lạ. Họ thấy bên đó chỉ toàn hàng hóa mà không có vũ khí nào cả. Tuy vậy Dương Cử vẫn được lệnh phải trói tất cả những người bên thuyền ấy lại, gồm có 75 người Hoa. Qua đêm thứ hai, có lệnh chém đầu hết rồi quăng xác xuống biển. Phần 33 người Hoa khác đã sang trước bên chiếc Bằng Đoàn cũng chịu chung số phận. Tổng số có đến 108 bị chém chết rồi đem quăng mất xác. Ngoài ra sau đó còn tìm thấy một người khác trốn dưới đáy khoang. Bị phát giác, người này chạy thoát lên boong, phóng xuống biển mất tích. Toàn bộ hàng hóa trên chiếc tàu Trung Quốc được chuyển sang chiếc Bằng Đoàn rồi chiếc thuyền buôn được sơn lại toàn màu đen để trông như tàu hải tặc.

Ngày 7 tháng 8 năm 1851, Bộ Binh trình sớ khác lên triều đình để chờ vua phán.

Vua Tự Đức duyệt xong liền phê như sau:

"Mới đây, Phạm Xích và Tôn Thất Thiều có dâng sớ báo việc bắt giữ một tàu hải tặc Trung Hoa. Qua đó quả nhân nhận thấy chiếc thuyền này bị giữ mà không có thủy thủ đoàn nào bị bắt làm tù binh và không có gì chứng minh rằng thuyền này có sai phạm. Việc này khiến quả nhân quan tâm và động lòng thương cảm. Quả nhân đã lệnh cho Bộ Binh điều tra vụ việc nhưng khi đọc tờ trình đầu tiên, Bộ này cho biết tất cả đều bị giết sạch vì chống cự, quả nhân lại càng sinh nghi thêm. Quả nhân ngần ngại chưa phê chuẩn ngay được là vì lẽ đó.

"Thế mà, kết quả của tờ trình mới nhất của Bộ Binh cho thấy Phạm Xích và đồng bọn đã ngụy tạo công lao để đòi được khen thưởng. Chúng là một lũ giảo quyệt, tham lam và độc ác, không có chút nhân tính. Tội chúng là trọng tội! Ôi chao nghĩ đến mà quả nhân đã thấy run lên vì sợ và quả nhân cảm thấy đau đớn khi diễn đạt sự độc ác như thế!

"Cứ tiến hành điều tra. Đưa những kẻ phạm tội ra trừng trị theo pháp triều.

"Trẫm ra lệnh tước hết quyền của Phạm Xích và Tôn Thất Thiều, lập tức bắt giam và giao cho Pháp ti (tức Tam Pháp ty: tòa tối cao chuyên xử những vụ đại hình) tra xét. Về phần quan viên bên Bộ Binh, trẫm giao phó trách nhiệm điều tra mà không tìm ra lẽ phải. Nay tạm ngưng công tác để thẩm xét…."

Sau khi tra xét từng trường hợp, ngày 18 tháng 11 năm 1851, Pháp ti kết thúc phiên xử và trình bản án lên vua Tự Đức xin phê chuẩn. Vua đọc xong liền phê ngay. Bản án như sau:

"Lang trung Tôn Thất Thiều và Chưởng vệ Phạm Xích, đồng phạm chủ mưu vụ thảm sát bị xử lăng trì đến chết. Riêng Tôn Thất Thiều bị xóa tên ra khỏi gia đình hoàng tộc, nay phải lấy theo họ mẹ và cải tên thành Đặng Thiều. Vợ con Thiều bị đày vào sống ở Nam Kỳ và không được sống gần nhau. Hình phạt tương tự áp dụng cho vợ con của Phạm Xích.

"Hiệp quản Dương Cử, tội tòng phạm, bị xử tử ngay lập tức và đầu bị đem bêu ngoài chợ để làm gương.

"Các Hộ vệ như Lê Kỳ, Tôn Thất Cẩm, Tôn Thất Giá và Tôn Thất Hành, tội đốc quân thi hành việc chém đầu các nạn nhân, bị án chém đầu ngay lập tức. Riêng ba người dòng Tôn Thất bị cải tên theo họ mẹ thành Nguyễn Cầm, Lê Giá và Nguyễn Hành.

"Hộ vệ Tôn Thất Ân vì chống lệnh giết người nên được miễn tố và được giữ nguyên chức vụ.

"Các Suất đội như Hồ Tá Hổ, Dương Đức Bửu, và Nguyễn Tỉ, tuy không trực tiếp liên quan đến vụ thảm sát nhưng đã không hề cưỡng lệnh, bị phạt đòn mỗi người 100 trượng, phải lưu đày xa quê nhà 3000 lí. Kết quả, Hổ phải vào sống ở Biên Hòa, Bửu ở Gia Định, còn Ti thì về Vĩnh Long.

"Hộ vệ Tôn Thất Chẩn, trong thời gian bị cầm giữ đã cắt lưỡi tự tử nhưng không chết, được đưa đi điều trị vì ra máu nhiều. Vì không trực tiếp chỉ huy nên được gia giảm tội bằng cách bị loại ra khỏi hộ vệ đoàn về nhà ngồi chơi xơi nước.

"Hai mươi đội trưởng cùng khoảng 70 lính trên tàu Bằng Đoàn bị phạt đòn 100 trượng và bị cất chức. Riêng Đội trưởng Trần Văn Hựu vì cưỡng lệnh nên được tha bổng.

"Viên ngoại Nguyễn Văn Tân được giao phó đi Quảng Ngãi để điều tra vụ việc mà không tìm ra được sự thật, bị giáng xuống một bậc.

"Ba thượng quan Bộ Binh là Trương Đăng Quế, Trương Quốc Dũng và Nguyễn Đình Tân, có tội làm tờ trình nhiều sai sót, bị treo lương một năm.

"Những kẻ trọng tội bị tịch thu gia sản và giao tất cả cho Phan Ky Ký, bang trưởng bang hội đồng hương Hải Nam để chuyển đến gia đình nạn nhân hầu xoa dịu nỗi mất mát của họ, đồng thời hoàn trả lại tất cả hàng hóa lấy từ chiếc thuyền buôn.

"Cuối cùng, cần mượn một số tiền từ phủ Thừa Thiên để lập trai đàn ở cửa sông tại Thuận An hầu phục hồi danh dự cho các vong linh. Các tội phạm bị án tử hình tức khắc sẽ được thi hành trong cùng ngày tế lễ này.

"Bản án này được nội các phê và vua Tự Đức chuẩn thuận ngày 7 tháng 12 năm 1851."

Triệu Phong

 

 

 

Bàn thờ và bài vị của 108 người Hoa bị chết oan

 

(1) Chuyện tích kể con gái vua Thiều Hiếu bị chết đuối khi đang du hành trên biển. Nàng biến thành chim Tinh Vệ hằng ngày tha đá cuội để mong lấp đầy biển sâu.

(2) Ngũ Tử Tư người nước Sở trốn qua nước Ngô để phục vụ cho vua Hạp Lư. Vua Câu Tiễn nước Việt vời ông qua cộng tác, hứa sẽ gả con gái là Tây Thi đẹp sắc nước hương trời. Ở đất Ngô sau nhiều lần vua không chịu nghe lời can gián của ông về thế sự, Tử Tư ngoảy đi và nói: "Nước Ngô rồi đây sẽ bị diệt và sẽ thành một cái ao của nước Việt mà thôi." Nghe vậy vua Ngô đưa kiếm bảo Ngũ Tư phải tự sát. Sau khi Ngũ Tư chết, xác bị quăng xuống sông. Về sau ông biến thành thần sóng.

Tài liệu tham khảo:

(1) A. Bonhomme, "Le Temple de Chiêu Ứng"; Bulletin des Amis du Vieux Hué, I:3 (7-9 / 1914), pp. 191-209.

(2) Lê Nguyễn Lưu, "Văn Hóa Huế Xưa: Đời Sống Văn Hóa Làng Xã"; Nhà xuất bản Thuận Hóa, trang 321-323.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 23478)
Phần tóm lược dưới đây chỉ nhằm cung cấp cho bạn đọc một tấm “bản đồ” của các lý thuyết văn học lớn trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Khi đọc, xin bạn đọc lưu ý cho một điểm: không có một lý thuyết nào có thể được tóm lược một cách trung thành và trung thực, do đó, tấm “bản đồ” này chỉ nên được sử dụng như một cơ sở để tham khảo, từ đó, đọc thêm, hơn là để đánh giá các lý thuyết ấy.
25 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 22208)
Hai mươi năm sau cái chết của Nguyễn Bính (20/1/1966), tác phẩm của nhà thơ này mới thoát khỏi cõi “im lặng đáng sợ” của sự quên lãng chẳng biết vô tình hay cố ý của những ai ai, trở lại được in ấn, đăng tải, bàn luận. Từ 1986, những sưu tập, tuyển tập thơ Nguyễn Bính liên tục được in ra, liên tục có mặt trên giá các quầy sách các hiệu sách
25 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 22138)
Những nhà văn mới xuất hiện trên văn đàn khoảng 1952-55 viết không giống như hai thế hệ đàn anh phái hậu chiến (Sengoha). Họ mượn hình thức tiểu thuyết tự thuật theo kiểu cũ nhưng để nói về cái trống rỗng của cuộc sống hiện tại. Họ được mệnh danh là lớp nhà văn mới thứ ba (The Third Wave).Yasuoka Shôtarô (An Cương, Chương Thái Lang, 1920-?) trong “Bạn bè xấu” (Warui Nakama, 1953), trình bày tư thế bám chặt của ông vào bản ngã của mình.
25 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 21471)
Đất Nhật không xa đất Việt. Chữ Nhật và chữ Nôm cùng chung gốc Hán, nhưng đối với người Việt, lịch sử và văn hóa Nhật dường như rất xa vời, tuy hai dân tộc có cùng tiến trình lập quốc, xây dựng ngôn ngữ, sao chép văn minh Trung Hoa, cùng tìm cách thoát khỏi nguồn gốc “Thiên triều” để thiết lập bản sắc riêng của mình. Điểm khác biệt giữa Nhật Bản và các nước làng giềng là người Nhật công nhận mình sao chép, họ phân tích và tìm hiểu bản chất những điều vay mượn, từ đó, rút kinh nghiệm, giữ khoảng cách với “nguyên bản”, để xây dựng và đào sâu những nét riêng của mình.
25 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 21324)
Dẫn Nhập: Truyện cổ dân gian Thụy Sĩ có nói đến một chàng kỵ sĩ ruỗi ngựa suốt đêm trên hồ Konstanz và chỉ đến mờ sáng hôm sau mới biết mình vừa đi qua một mặt hồ đóng băng. Nỗi sợ hãi lúc đó thật cùng cực.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20288)
Xem Vũ Ngự Chiêu, “Social and Cultural Change in Vietnam between 1940 and 1946;” Part III: “Brutality of World Politics;” Ph.D. Dissertation, 1984, UW-Madison. Xem thêm Idem., “Hồ Chí Minh – Nhà Ngoại Giao, 1945 - 1946;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 84, tháng 8 - 9/2005, tr. 152 - 193. Bài này cũng đã được phổ biến trên nguyệt san Đi Tới (Québec, Canada, 2004), nhật báo Người Việt (Santa Ana, CA, 2004), cùng nhiều websites như Chuyển Luân, Diễn Đàn Dân Chủ, v.. v... năm 2004.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 19071)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20922)
Trong số những trận đánh có tầm chiến lược quan trọng từ 1959 tới 1975, cuộc tổng tấn công vào các thành phố và tỉnh lỵ miền Nam đúng dịp Tết Mậu Thân (1968) được liệt vào hàng đầu. Đây là một chuyến “làm ăn” táo bạo của Lê Duẩn (1908 - 1986), Bí thư thứ nhất Đảng Lao Động [Cộng Sản] Việt Nam, đưa đến những thiệt hại to lớn về nhân sự cho Bắc quân. Nhưng về mặt chính trị và ngoại giao – dù có dự đoán trước hay chăng – ba đợt tấn công vào Sài Gòn - Chợ Lớn trong năm 1968 tạo một ảnh hưởng sâu đậm tại chính nước Mỹ.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 25432)
Trai gái có tình, tình ấy thể hiện trong thơ ca, trao gửi bằng thơ ca và loại thơ đó gọi là thơ tình. Vấn đề tưởng đơn giản vậy mà thực tế đôi lúc lại như một thách đố khi ta tiếp xúc với thơ tình Việt Nam cổ trung đại, nhất là ở thời kỳ đầu của sự hình thành mà sự hình thành này tính đến thế kỷ XVIII, ít nhất cũng chừng bảy thế kỷ văn chương.
21 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 21540)
Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 7/3/1914 (giấy tờ ghi 1915) tại làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hoà (nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai); mất ngày 7/3/1987 tại Rancho Cordova, Sacramento, California, Hoa Kỳ. Các bút hiệu khác: Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn. Sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, mười đời ở đất Tân Uyên, cha là Tô Phương Sâm làm nghề buôn gỗ, mẹ là Dương Thị Mão. Thuở nhỏ học chữ nho với thầy đồ, tiểu học ở trường làng; trung học (1928-1934) Pétrus Ký, Sài Gòn.