- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,160,953

Thăm Chiêu Ứng Từ Ở Huế ...

17 Tháng Giêng 200912:00 SA(Xem: 22450)

w-hopluu98-f2-t68_0_300x172_1

I. Chiêu Ứng Từ

Ở đường Chi Lăng thuộc khu Gia Hội, thành phố Huế có một ngôi miếu Tàu có tên là Chiêu Ứng Từ. Miếu được xây dựng bởi bang hội người Hoa gốc Hải Nam để thờ cúng vong linh của 108 thương buôn người Hoa bị giết vứt xác ngoài biển. Đây là miếu của người Hoa trên đất Huế, ghi dấu một sự kiện lịch sử và pháp chế đời Tự Đức.

 

Thoạt đầu, các vong linh được đem thờ chung ở ngôi chùa Bà gần đó có tên Quỳnh Châu Hội Quán nơi thờ Bà Thiên Hậu. Chùa này cũng do sự đóng góp của người Hải Nam mà xây nên. Ngày qua ngày, tin về tấn thảm kịch của những kẻ chết oan được loan truyền rộng ra, ít nhiều được thổi phồng lên; dần dà các nạn nhân được tôn lên thành những vị anh hùng uổng tử, và thành linh thần. Người dân địa phương khi có điều gì cần thường hay ghé vào đây để cầu xin; nhiều người được toại nguyện, ca ngợi sự linh hiển của các thần linh, uy danh do thế ngày càng lớn. Năm 1887, bang hội người đảo Hải Nam quyết định cho xây một ngôi miếu riêng nằm ở địa điểm ngày nay nhưng qui mô hồi ấy vẫn còn nhỏ. Các nơi khác có người Hải Nam lưu trú, nhiều ngôi miếu tương tự cũng được dựng lên như ở Đà Nẵng, Hội An, Sài Gòn, Singapore, Thái Lan, … nhưng bề thế hơn cả là ngôi miếu ở thị trấn Hải Hậu, huyện Vân Xương, đảo Hải Nam, nơi nguyên quán của những người đã khuất.

 

Về sau, thấy ngôi miếu ở Huế quá khiêm tốn, không xứng đáng với uy danh to lớn của các linh thần, kiều bào người Hoa gốc Hải Nam đứng ra quyên góp và đến năm 1908 mới xây dựng lại như thấy ngày nay. Tất cả công trình kiến trúc đều do bàn tay của các nghệ nhân từ Hải Nam đưa sang, kiểu dáng y hệt như miếu xây ở Hải Nam nhưng với kích thước thu nhỏ lại. Tuy thế đây lại là một trong các miếu cùng loại đẹp nhất với lối trang trí hết sức tỉ mỉ.

Miếu nằm trong khuôn viên rộng khoảng 400 mét vuông, tường rào bằng sắt bao quanh, cổng trước cũng bằng sắt, không trụ biểu, dẫn vào sân ngoài. Sân này được lát bằng gạch, hai bên sát tường có hai bồn hoa đủ các loại.

Kế đến là cổng chính, kiểu nhà có mái, cao 7 m, dài 13 m, rộng 5 m, chia làm ba gian, các cánh cửa đều bằng gỗ. Ở phần tường phía trên cổng là những điêu khắc các nhân vật trong những tích của các tuồng Tàu. Trên cổng có treo tấm biển khắc chữ ‘Chiêu Ứng Từ’, hai tấm liễn treo hai bên có các câu:

‘Để tưởng nhớ đến những đồng hương kính mến’ và ‘Uy danh của các vị bao trùm khắp vũ trụ’.

Ngoài ra, ở trên tường phía tả và hữu có những đoạn văn như sau:

‘Từ lâu người Hoa vốn là khách trú trên xứ An-Nam, trong đó có những người là nạn nhân của sự bất công, vong linh họ chưa được yên nghỉ. Nỗ lực của chúng ta để xoa dịu cơn thịnh nộ của các vị cũng vô vọng như chim Tinh Vệ (1) muốn lấp biển sâu’.

Và:

‘Linh hồn bất tử của các vị mãi mãi lênh đênh trên các sóng, thị hiện như sóng Ngũ Tư (2) để cứu vớt các con tàu bị nạn’.

Đằng sau, ngôi đình tứ giác hai tầng mái kiểu cổ lâu, mỗi bề 7 m, cao 7 m, bốn cột đúc giữa và bốn cột phụ. Bên trên có bức hoành ghi:

‘Tổ quốc chúng ta được che chở bởi linh hồn của các nạn nhân’.

Phía bên phải có một phòng lớn trông như lớp học dùng làm phòng họp của bang hội người Hải Nam.

Chính điện nằm giữa khu sân trong gồm ba gian, dài 12 m, rộng 8,4 m. Bên trên lối vào có bức hoành ghi:

‘Oai danh các vị bao la tựa đại dương’.

Bên trái, bên phải còn có các câu:

‘Sự hy sinh của các vị hộ trì cho sự an ninh của lãnh hải Trung Quốc’

Và:

‘Ân đức các vị nhiều vô kể’.

 

Nội, ngoại thất cả ba kiến trúc đều trang trí bằng phù điêu gốm màu sản xuất từ Trung Quốc với các hình tượng cá gáy hóa rồng, chữ Phúc, Lộc, Thọ, thơ văn chữ Hán viết trên tường bằng bột màu. Nóc quyết đắp tứ linh tinh xảo, rực rỡ.

Bàn thờ nằm ở gian giữa, bài trí đơn sơ với lư hương, các lọ cắm. Đằng trước và ngay bên trên có treo bức hoành phi:

‘Mọi điều cầu xin đều được toại nguyện’.

Hai bên có hai bức liễn ghi:

‘Lưu vong nơi xứ người nhưng vẫn kính yêu tổ quốc, ghi nhớ lời dạy của cổ nhân’

Và:

‘Đất An-Nam biết trọng lễ nghĩa. Dâng người đã khuất những cúng dường cần thiết để xoa dịu vong linh các vị’.

Đằng sau là bàn thờ nhỏ với bài vị của 108 người chết, bên cạnh có câu:

‘Uy danh các vị tràn ngập đất An-Nam’.

Riêng tại miếu thờ ở Đà Nẵng vẫn còn lưu giữ lá cờ vua Tự Đức ban cho, trên có thêu hàng chữ:

‘Sắc Phong Chiêu Ứng Oanh Liệt, Phó Phong Đức Bảo Trung Hưng"

Sự trang trí bởi các tượng chạm, chữ Hán, các tranh vẽ, cùng nhiều câu đối để diễn đạt xuất xứ của ngôi miếu, nhắc nhở đến các thời kỳ lịch sử xa xưa, mô tả đời sống của người Hoa, để vinh danh nước Trung Hoa, người Hoa nói chung, và đặc biệt linh hồn của những kẻ đã khuất.

Hằng năm vào độ rằm tháng sáu âm lịch, thân nhân các nạn nhân sống tại Việt Nam hay từ Hải Nam, cũng như người Hoa kiều từ các nơi qui tụ về đây để làm lễ tưởng niệm, thường thường lễ kéo dài đến ba ngày.

 

II. Vụ Án

Mùa hè năm Tự Đức thứ 4 (1851), Chưởng vệ Phan Xích, cùng Lang trung Tôn Thất Thiều nhận lệnh quản suất chiến thuyền mang tên Bằng Đoàn đi tuần tiểu vùng duyên hải các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Ngày 6 tháng 7 thuyền ra cửa Thuận An.

Theo sớ tâu ghi ngày 25 tháng 7 của Phan Xích và Tôn Thất Thiều dâng về triều đình thì ngày 16 tháng 7 ở ngoài khơi đảo Thanh Châu thuộc tỉnh Quảng Ngãi họ phát hiện thấy ba thuyền lạ của Trung Quốc. Chiếc Bằng Đoàn lập tức nhổ neo chạy vòng sang phía bên kia đảo đề quan sát kỹ hơn. Tình nghi là thuyền của hải tặc nên liền bắn ngay vài phát súng thần công. Bị tấn công bất ngờ, ba chiếc thuyền lạ bèn giương buồm bỏ chạy. Ba ngày sau (19 tháng 7) chiếc Bằng Đoàn bắt kịp chúng. Đôi bên giao chiến ác liệt. Sau đó một chiếc bị trúng đại bác vỡ tan, chiếc thứ hai bỏ chạy về phía đông, còn chiếc thứ ba trong tình trạng què quặt trôi bềnh bồng trên sóng. Một toán quân do Hiệp quản Dương Cử chỉ huy xông lên thuyền địch. Tuy đa số đã chết hoặc bị thương nặng, nhưng khoảng một chục thủy thủ đoàn còn lại vẫn ngoan cố kháng cự nên cuối cùng họ hoặc bị giết hoặc nhảy xuống biển trốn thoát. Chiếc thuyền sau đó được kéo về đảo Chiêm Dự tức Cù Lao Chàm. Bản báo cáo còn thêm rằng mặc dù đụng độ địch nhưng chiếc Bằng Đoàn chỉ hư hại nhẹ, có thể sửa chữa lại được ngay. Ngoài ra thì không có tổn thất nhân mạng nào. Phạm Xích và Tôn Thất Thiều sau đó ra lệnh cho đốt thuyền địch. Tinh thần anh em quân sĩ dâng cao, hai ông xin triều đình xét thưởng công cho tất cả.

 

Vua Tự Đức xem xong tờ tâu liền sinh nghi vì đánh nhau với phỉ mà lính tráng chẳng ai bị thương tích gì, còn phía bên kia thì chết sạch không một người bị bắt làm tù binh. Vua liền giao cho một quan bên Bộ Binh đi tra xét. Viên ngoại Nguyễn Văn Tân điều tra xong trở về xác nhận lời tâu của Phạm Xích và Tôn Thất Thiều là đúng sự thật. Trong tờ sớ tâu về triều, bên Bộ Binh kết luận rằng vì chiếc thuyền sơn màu đen nên không thể là một thuyền buôn được, và dựa theo lời kể của các quan cấp dưới cùng sĩ tốt thì những người trên thuyền đó toàn là quân phỉ. Bộ này xác nhận tất cả đều bị giết sạch nhưng không có chứng tích nào cho thấy bên kia có kháng cự, rõ ràng là nói ngoa.

 

Đồng thời cũng trong thời gian ấy, một tên trong số thủy thủ của chiếc Bằng Đoàn nhà ở gần phố Gia Hội (khu phố người Hoa ở Huế), nhân ăn nhậu không đủ tiền trả bèn cầm chiếc nhẫn cho chủ quán. Chẳng may cho hắn, vợ một người mất tích nhận ra (vì mặt nhẫn có khắc tên chồng bà), bèn đánh trống kêu oan. Vua Tự Đức sai tra xét, tên ấy phải nhận tội và khai ra hết sự tình.

Viên đội trưởng trong vệ Tuyển phong là Trần Hựu cũng thú nhận rằng hôm 17 tháng sáu năm 1851 thuyền quan đang đậu ở cửa biển Thị Nại được tin có ba chiếc thuyền lạ ngoài khơi đảo Thanh Dữ, Chưởng vệ Phan Xích và Lang trung Tôn Thất Thiều liền ra lệnh nhổ neo, chạy vòng ra phía sau đảo. Đến đây họ mới nhận biết đây là ba thuyền của Trung Quốc. Bị bắn, ba chiếc bỏ chạy về phía đông. Thuyền quan rượt theo và tiếp tục bắn thần công về phía chúng nhưng chúng chẳng hề đáp lại. Đến ngày 18 tháng 7, hai chiếc thoát mất dạng, duy chiếc thứ ba vì bị hư hại nặng phải hạ buồm đứng lại chịu trận. Cập lại gần, Phạm Xích ra lệnh cho tất cả những người bên thuyền của Trung Quốc sang trình diện. Họ tuân hành lệnh. Ba mươi ba người sang trình thẻ, nói là nhà buôn ở Thừa Thiên xin về thăm quê Trung Quốc và đã được cấp phép, lại có biết Lang trung Tôn Thất Thiều và Suất đội Nguyễn Tỉ; những người còn lại đều buôn bán ở Quảng Ngãi. Họ còn thêm rằng họ đang trên đường trở về Trung Quốc, và thuyền họ là thuyền buôn, không có chiếc nào là hải tặc. Mặc dù đã khai như thế nhưng Phạm Xích lại sai Hiệp quản Dương Cử dẫn một toán quân sang khám xét chiếc tàu lạ. Họ thấy bên đó chỉ toàn hàng hóa mà không có vũ khí nào cả. Tuy vậy Dương Cử vẫn được lệnh phải trói tất cả những người bên thuyền ấy lại, gồm có 75 người Hoa. Qua đêm thứ hai, có lệnh chém đầu hết rồi quăng xác xuống biển. Phần 33 người Hoa khác đã sang trước bên chiếc Bằng Đoàn cũng chịu chung số phận. Tổng số có đến 108 bị chém chết rồi đem quăng mất xác. Ngoài ra sau đó còn tìm thấy một người khác trốn dưới đáy khoang. Bị phát giác, người này chạy thoát lên boong, phóng xuống biển mất tích. Toàn bộ hàng hóa trên chiếc tàu Trung Quốc được chuyển sang chiếc Bằng Đoàn rồi chiếc thuyền buôn được sơn lại toàn màu đen để trông như tàu hải tặc.

Ngày 7 tháng 8 năm 1851, Bộ Binh trình sớ khác lên triều đình để chờ vua phán.

Vua Tự Đức duyệt xong liền phê như sau:

"Mới đây, Phạm Xích và Tôn Thất Thiều có dâng sớ báo việc bắt giữ một tàu hải tặc Trung Hoa. Qua đó quả nhân nhận thấy chiếc thuyền này bị giữ mà không có thủy thủ đoàn nào bị bắt làm tù binh và không có gì chứng minh rằng thuyền này có sai phạm. Việc này khiến quả nhân quan tâm và động lòng thương cảm. Quả nhân đã lệnh cho Bộ Binh điều tra vụ việc nhưng khi đọc tờ trình đầu tiên, Bộ này cho biết tất cả đều bị giết sạch vì chống cự, quả nhân lại càng sinh nghi thêm. Quả nhân ngần ngại chưa phê chuẩn ngay được là vì lẽ đó.

"Thế mà, kết quả của tờ trình mới nhất của Bộ Binh cho thấy Phạm Xích và đồng bọn đã ngụy tạo công lao để đòi được khen thưởng. Chúng là một lũ giảo quyệt, tham lam và độc ác, không có chút nhân tính. Tội chúng là trọng tội! Ôi chao nghĩ đến mà quả nhân đã thấy run lên vì sợ và quả nhân cảm thấy đau đớn khi diễn đạt sự độc ác như thế!

"Cứ tiến hành điều tra. Đưa những kẻ phạm tội ra trừng trị theo pháp triều.

"Trẫm ra lệnh tước hết quyền của Phạm Xích và Tôn Thất Thiều, lập tức bắt giam và giao cho Pháp ti (tức Tam Pháp ty: tòa tối cao chuyên xử những vụ đại hình) tra xét. Về phần quan viên bên Bộ Binh, trẫm giao phó trách nhiệm điều tra mà không tìm ra lẽ phải. Nay tạm ngưng công tác để thẩm xét…."

Sau khi tra xét từng trường hợp, ngày 18 tháng 11 năm 1851, Pháp ti kết thúc phiên xử và trình bản án lên vua Tự Đức xin phê chuẩn. Vua đọc xong liền phê ngay. Bản án như sau:

"Lang trung Tôn Thất Thiều và Chưởng vệ Phạm Xích, đồng phạm chủ mưu vụ thảm sát bị xử lăng trì đến chết. Riêng Tôn Thất Thiều bị xóa tên ra khỏi gia đình hoàng tộc, nay phải lấy theo họ mẹ và cải tên thành Đặng Thiều. Vợ con Thiều bị đày vào sống ở Nam Kỳ và không được sống gần nhau. Hình phạt tương tự áp dụng cho vợ con của Phạm Xích.

"Hiệp quản Dương Cử, tội tòng phạm, bị xử tử ngay lập tức và đầu bị đem bêu ngoài chợ để làm gương.

"Các Hộ vệ như Lê Kỳ, Tôn Thất Cẩm, Tôn Thất Giá và Tôn Thất Hành, tội đốc quân thi hành việc chém đầu các nạn nhân, bị án chém đầu ngay lập tức. Riêng ba người dòng Tôn Thất bị cải tên theo họ mẹ thành Nguyễn Cầm, Lê Giá và Nguyễn Hành.

"Hộ vệ Tôn Thất Ân vì chống lệnh giết người nên được miễn tố và được giữ nguyên chức vụ.

"Các Suất đội như Hồ Tá Hổ, Dương Đức Bửu, và Nguyễn Tỉ, tuy không trực tiếp liên quan đến vụ thảm sát nhưng đã không hề cưỡng lệnh, bị phạt đòn mỗi người 100 trượng, phải lưu đày xa quê nhà 3000 lí. Kết quả, Hổ phải vào sống ở Biên Hòa, Bửu ở Gia Định, còn Ti thì về Vĩnh Long.

"Hộ vệ Tôn Thất Chẩn, trong thời gian bị cầm giữ đã cắt lưỡi tự tử nhưng không chết, được đưa đi điều trị vì ra máu nhiều. Vì không trực tiếp chỉ huy nên được gia giảm tội bằng cách bị loại ra khỏi hộ vệ đoàn về nhà ngồi chơi xơi nước.

"Hai mươi đội trưởng cùng khoảng 70 lính trên tàu Bằng Đoàn bị phạt đòn 100 trượng và bị cất chức. Riêng Đội trưởng Trần Văn Hựu vì cưỡng lệnh nên được tha bổng.

"Viên ngoại Nguyễn Văn Tân được giao phó đi Quảng Ngãi để điều tra vụ việc mà không tìm ra được sự thật, bị giáng xuống một bậc.

"Ba thượng quan Bộ Binh là Trương Đăng Quế, Trương Quốc Dũng và Nguyễn Đình Tân, có tội làm tờ trình nhiều sai sót, bị treo lương một năm.

"Những kẻ trọng tội bị tịch thu gia sản và giao tất cả cho Phan Ky Ký, bang trưởng bang hội đồng hương Hải Nam để chuyển đến gia đình nạn nhân hầu xoa dịu nỗi mất mát của họ, đồng thời hoàn trả lại tất cả hàng hóa lấy từ chiếc thuyền buôn.

"Cuối cùng, cần mượn một số tiền từ phủ Thừa Thiên để lập trai đàn ở cửa sông tại Thuận An hầu phục hồi danh dự cho các vong linh. Các tội phạm bị án tử hình tức khắc sẽ được thi hành trong cùng ngày tế lễ này.

"Bản án này được nội các phê và vua Tự Đức chuẩn thuận ngày 7 tháng 12 năm 1851."

Triệu Phong

 

 

 

Bàn thờ và bài vị của 108 người Hoa bị chết oan

 

(1) Chuyện tích kể con gái vua Thiều Hiếu bị chết đuối khi đang du hành trên biển. Nàng biến thành chim Tinh Vệ hằng ngày tha đá cuội để mong lấp đầy biển sâu.

(2) Ngũ Tử Tư người nước Sở trốn qua nước Ngô để phục vụ cho vua Hạp Lư. Vua Câu Tiễn nước Việt vời ông qua cộng tác, hứa sẽ gả con gái là Tây Thi đẹp sắc nước hương trời. Ở đất Ngô sau nhiều lần vua không chịu nghe lời can gián của ông về thế sự, Tử Tư ngoảy đi và nói: "Nước Ngô rồi đây sẽ bị diệt và sẽ thành một cái ao của nước Việt mà thôi." Nghe vậy vua Ngô đưa kiếm bảo Ngũ Tư phải tự sát. Sau khi Ngũ Tư chết, xác bị quăng xuống sông. Về sau ông biến thành thần sóng.

Tài liệu tham khảo:

(1) A. Bonhomme, "Le Temple de Chiêu Ứng"; Bulletin des Amis du Vieux Hué, I:3 (7-9 / 1914), pp. 191-209.

(2) Lê Nguyễn Lưu, "Văn Hóa Huế Xưa: Đời Sống Văn Hóa Làng Xã"; Nhà xuất bản Thuận Hóa, trang 321-323.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Năm 20181:14 CH(Xem: 3861)
Hạnh phúc biết bao cho một người không có quá khứ, hay một dân tộc không có lịch sử—nhiều người quan niệm như thế. Nhưng con người, mỗi người trong chúng ta, đều có quá khứ, vui, buồn hay vui buồn trộn lẫn. Một dân tộc luôn luôn có lịch sử, vinh quang, tủi buồn, hay vinh nhục đủ mùi vị. Quá khứ luôn luôn là tấm gương cho mỗi người tự sửa mình, rút cho mình một kinh nghiệm sống, chuẩn bị cải thiện tương lai. Lịch sử một quốc gia, nếu được ghi chép trung thực, là kho tàng kinh nghiệm cho việc ích quốc, lợi dân, và phát huy tình nhân loại cho một thế giới đáng sống hơn.
28 Tháng Tư 20181:03 SA(Xem: 2868)
Từ ngày 7/3, khi Văn Tiến Dũng bắt đầu cô lập Ban Mê Thuột, tới ngày 30/4/1975, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, vừa chẵn 55 ngày. Thật khó ngỡ chỉ trong vòng 55 ngày và 55 đêm mà đạo quân hơn một triệu người—có hơn phần tư thế kỷ kinh nghiệm tác chiến, với những vũ khí khá hiện đại như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa—bị sụp đổ hoàn toàn. Cảnh tượng “bỏ của chạy lấy người” suốt tháng 3/1975 của các đơn vị Nam quân khiến đó đây vang lên những lời chỉ trích nặng nề như “hèn nhát,” “tồi dở” v.. v... Sự thảm bại ấy, thực ra, chỉ là đoạn kết bi phẫn ngắn ngủi khó tránh của một cuộc chiến kéo dài đã hơn 30 năm. Những hình ảnh điên loạn mà ống kính các phóng viên quốc tế thu nhận được chẳng khác cảnh vỡ đê trước con nước lũ, hay sự sụp đổ của một tòa lâu đài dựng trên bãi cát, khi nước triều dâng lên.
01 Tháng Tư 20184:43 CH(Xem: 2488)
Buổi tối ngày 2/1/1946, tại một biệt thự ở Neuilly, ngoại ô Paris, Tướng Charles de Gaulle đã cảm khái nói với con rể tương lai như sau: "Nước Pháp thật thiếu may mắn!" [Vraiement, la France n'a pas de chance!]" (1) 1. L'Institut Charles de Gaulle, Le général de Gaulle et l'Indochine, 1940-1946 (Paris: Plon, 1982) pp 180, 182, 200. [Sẽ dẫn: De Gaulle et l’Indochine, 1982]. Lời than thở trên đã được thốt ra vì một món quà năm mới mà Thủ tướng Lâm Thời Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp chẳng hề trông đợi: Tám ngày trước, 26/12/1945, một tai nạn phi cơ giữa lòng rừng già Phi Châu đã phá hỏng kế hoạch bí mật mà De Gaulle và giới thân cận trù liệu từ nhiều tháng—Tiểu đoàn trưởng (Thiếu tá) Vĩnh San, lá bài chính của kế hoạch trên, có mặt trong số hành khách xấu số của chiếc phi cơ lâm nạn. (2)
15 Tháng Hai 20183:06 SA(Xem: 5455)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop = political agitation and propaganda]. Chuyến qua Pháp từ ngày 30/5 tới 16/9/1946, Côn đóng vai một quốc trưởng, hy vọng thuyết phục thế giới về chính nghĩa độc lập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] (1945-1976). Chuyến đi này thất bại, vì Linh mục/Cao Ủy Georges Thierry d’Argenlieu và nhóm Gaullist chỉ coi Hồ như lãnh tụ một Đảng, và lãnh thổ Việt Nam không quá vĩ tuyến 16, trừ thêm các khu tự trị cho sắc tộc ở thượng du Bắc Việt cùng vùng rừng núi phía tây Trung Kỳ.
09 Tháng Mười Hai 201711:43 CH(Xem: 3338)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9/3/1945, khi Nhật đột ngột chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương trong vòng 48 giờ, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Trong giai đoạn này, hai chính phủ Việt Nam “độc lập” ra đời, chấm dứt tám thập niên Pháp đô hộ, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa tất cả các cấu trúc xã hội
28 Tháng Tám 201712:46 SA(Xem: 5877)
Dưới thời Nhật chiếm đóng (1940-1945), tại các tỉnh miền Tây, một giáo phái đang thành hình và lực lượng ngày một mạnh. Từ sau năm 1947, giáo phái này thường được biết như Phật Giáo Hòa Hảo, hay ngắn gọn hơn, Hòa Hảo. Hòa Hảo thực ra chỉ là tên ngôi làng mà người khai đạo, Huỳnh Phú Sổ (1919-1947) đã mở mắt chào đời. Đại cương, Hòa Hảo dựa trên một số nguyên tắc và phương pháp tu luyện đại chúng của Phật giáo tại gia.
11 Tháng Bảy 201711:56 CH(Xem: 6020)
Vua thứ 13 và cuối cùng của nhà Nguyễn—Nguyễn Phước Điện (8/1/1926-25/8/1945)—được biết nhiều hơn với niên hiệu Bảo Đại. Chữ "Bảo" [ThCh 25] bên trái có chữ "Nhân," bên phải phía trên có chữ "khẩu," dưới có chữ "mộc," nghĩa là "giữ gìn, bảo vệ;" "Đại" [ThCh 121] là to lớn—"Bảo Đại," như thế, hàm ý "bảo vệ sự vĩ đại, to lớn [của cơ nghiệp nhà Nguyễn]." Mặc dù Nguyễn Phước Điện chỉ duy trì được vương quốc thêm gần 20 năm, và thực thể chính trị Quốc Gia Việt Nam [QGVN] hơn sáu năm nữa, các đối thủ từng sử dụng những thuật ngữ bất nhã—như "mannequin doré" [hình nhân giát vàng](1), hay bù nhìn [puppet, quisling, scarecrow, straw dummy](2)—nhưng vua là một trong những vua lý tưởng, nếu không phải duy nhất, chế độ Bảo hộ Pháp có thể đào tạo suốt hơn 60 năm chiếm đóng Đại Nam (1884-1945).
12 Tháng Tư 201711:55 CH(Xem: 6929)
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 là một đề tài còn gây nhiều xúc động và tranh cãi. Tuy nhiên, tới nay vẫn chưa có nghiên cứu sử đích thực nào về đề tài này. Một trong những lý do là thiếu sử liệu. Tài liệu văn khố chưa được hoàn toàn giải mật. Đa số tác giả đều đứng về phe này hay phe kia, xếp đặt và diễn giải các dữ kiện vốn bị giới hạn và thiếu sót theo sự yêu ghét hay khuynh hướng chính trị, tôn giáo của họ. Tác nhân lịch sử bị đặt lên những chiếc giường của tên tướng cướp, thừa chặt bớt, ngắn kéo dài ra cho vừa khuôn thước thành kiến tiên thiên của mình. Không ít người còn bịa đặt ra những chi tiết không thực để bẻ cong lịch sử.
26 Tháng Hai 201711:42 CH(Xem: 6027)
Ngày 23/4/1925, Toàn Quyền Merlin về nước. Maurice Monguillot, Thống sứ Bắc Kỳ (từ 27/2/1921 tới 5/7/1924), lại được XLTV Toàn Quyền [tới 18 /11/1925], dù tháng 7/1925, Tổng trưởng Thuộc Địa Léon Perrier đã cử Dân biểu Alexandre Varenne (1870-1947)—một lãnh tụ Xã Hội của Đệ Nhị Quốc Tế nổi danh—sang Đông Dương để thực hiện những đổi thay cần thiết giữa thời không mệnh danh là “tăng trưởng kinh tế.”
30 Tháng Giêng 20172:02 SA(Xem: 6219)
Nguyễn Phước Tuấn, vua thứ tư tắm gội thiên mệnh Đại Pháp—cũng vua thứ mười hai nhà Nguyễn—là nhân vật “bị bỏ quên” trong thời Nguyễn mạt. Hầu hết các tác giả chỉ vắn tắt nêu lên bốn đặc điểm của Nguyễn Phước Tuấn: hợp tác chân thành với Pháp, (1) thích dùng chữ Hán trong các Dụ hay diễn văn,(2) bị Phó Bảng Phan Chu Trinh công kích qua Thất điều thư ngày 15/7/1922,(3) và nghi án về phụ hệ với Thái tử Vĩnh Thụy, tức vua Nguyễn Phước Điện (8/1/1926-25/8/1945), thường chỉ được biết đến qua niên hiệu Bảo Đại.