- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,174,504

Thế Dũng Phỏng Vấn Viên Linh: Văn Chương Tôi Không Phục Vụ Niềm Vui

26 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 5488)
vl4_0_300x198_1Viên Linh, tên thật là Nguyễn Nam, quê ở Đồng Văn, Phủ Lý (Hà Nam). Rời Hà Nội ra Hải Phòng vào Sài Gòn đêm 25 tháng 12 năm 1954. Tác phẩm đầu tay: Hoá Thân , thi phẩm, 1964. Định cư tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn từ tháng 8.1975. Thuỷ Mộ Quan , thi phẩm, 1982. Là tác giả của hơn hai mươi cuốn sách trước 1975. Giải nhất Giải Văn chương Toàn quốc VNCH năm 1974 với tác phẩm Gió Thấp . Viên Linh là một tên tuổi khá nổi tiếng của văn học miền Nam từ những năm ‘60, ‘70 của thế kỷ trước. Hiện đang là Chủ nhiệm Chủ bút nguyệt san Khởi Hành , một tờ Nguyệt san Văn học Nghệ thuật của người Việt ở Mỹ. Đang in thi phẩm thứ ba: Âm Thất.

 

1. THẾ DŨNG: Thưa anh Viên Linh, đúng vào năm 1951, anh đã bỏ quê Đồng Văn lên Hà Nội để học hành. Cho đến bây giờ, từ cái nhìn của một cậu ấm con nhà khá giả năm xưa, anh có thể phân biệt được sự ưu việt của việc dùi mài kinh sử ở Hà Nội so với việc học hành ở Đồng Văn thuở ấy không?

VIÊN LINH: Thuở ở Đồng Văn tôi là một thiếu nhi, lúc năm, sáu tuổi đã mồ côi cha, nên học với Ông Nội trước tiên. Ông tôi, người ta thường gọi là Cụ Tú Đồng Văn, thi đỗ Tú Tài khoá chót hình như năm 1915 ở Trường Nam (Nam Định); thi xong thì Nhà Nước Bảo Hộ dẹp bỏ chữ Nho, nên sẵn có thằng cháu mồ côi quanh quẩn bên ông lo đun nước pha trà, và sai vặt, cụ mang thằng cháu ra dậy. Cụ chỉ có một người bạn là Cụ Cử ái Niên, thỉnh thoảng từ xa vác dép trên vai tới chơi. Thuở đó tôi vừa được học chữ Nho, vừa được học lóm "phép làm thơ," là đề tài hai cụ thường nói suốt bữa trà. Tôi học ông năm, sáu năm, những câu còn nhớ cho tới bây giờ là ‘Đàn ông con trai không đứng trước gương chải đầu,’ ‘Sĩ phu bách nghệ.’ Mãi năm lên tám mới được học ABC rồi đi học ở Trường Làng.

Trường Làng là một ngôi nhà gạch ba gian bên cạnh Đình Làng, trên một cái đồi nhỏ, có Thầy Giáo Vịnh từ làng khác tới dạy. Đầu tuần đứng trên đồi đợi Thầy, thấy bóng Thầy từ xa; Thầy đi bộ từ làng Thầy, không rõ ở đâu, tới dậy bọn nhỏ chúng tôi. Lần nào cũng thấy Thầy mang một cái cặp cũ, và một chai nước mắm. Còn ở Hà Nội tôi học Trường Đồng Nhân, làng Đồng Nhân, ngay trong khu Đền Thờ Hai Bà Trưng; rồi lớp Nhất ở trường Ngô Sĩ Liên Phố Hàm Long, đệ Thất Chu Văn An, khác nhau xa. Nhưng cũng chẳng dùi mài Kinh Sử gì, đọc truyện nhiều hơn. Sự việc in hằn vào đầu tôi từ khi lên Hà Nội học là ở đó, học trò là người tứ chiếng, dân tứ xứ tới, mỗi cá nhân là một mục tiêu để bạn đồng môn châm chọc, chế diễu, nhiều khi độc ác đến bất nhẫn. Tôi vốn nhút nhát, nhưng được cái to con, nên hay can thiệp khi thấy chuyện bất bình.

 

2. T.D.: Tác phẩm đầu tiên anh được trả nhuận bút vào lúc anh mười bốn tuổi, đăng trên nhật báo Tiếng Dân Hà Nội, bây giờ, đúng năm mươi năm qua rồi, anh còn nhớ lúc đó anh ký bút danh hay tên thật dưới tác phẩm tuổi học trò ấy? Nghe nói năm 16 tuổi anh đã mở Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh và chọn cho mình bút hiệu Viên Linh. Anh có thể tiết lộ về những cảm xúc của tuổi 16 dạo đó với cái bút hiệu mà anh đã dùng suốt đời? Thảo nào anh đã tìm kiếm bằng được di cảo của Đào tiên sinh...

V.L.:Chuyện xảy ra quanh cái truyện ngắn đầu tiên được trả nhuận bút ấy như mới xảy ra mới đây thôi. Tôi gửi cho họ mới vài hôm đã thấy nó ở trên mặt báo, không sót một chữ. ở cuối truyện có dòng NHẮN TIN như sau: "Mời ông Nguyễn Nam tới Tòa soạn Tiếng Dân trong giờ làm việc để lãnh nhuận bút 150 đồng." Chỉ có thế. Nhưng tôi đọc đi đọc lại kỹ lắm. Lúc ấy mỗi sáng tôi được phát hai đồng ăn sáng. Chủ nhật nghỉ dĩ nhiên không có hai đồng, vì ăn ở nhà. Vậy một tuần được lãnh đâu mười hai đồng. Số tiền nhuận bút 150 đồng là "lương" hơn mười tuần lễ. Hai chữ nhuận bút từ đó đối với tôi là hai chữ rất khả ái. Mặt khác, truyện tôi viết, nhân vật là đứa nhỏ (thật ra gần bằng tuổi tôi lúc đó), tôi đoán họ sẽ đăng trên Trang Nhi đồng, ai ngờ họ đăng trên Trang Xã hội. Điều này gây cho tôi sự tự hào ngầm (và khiến tôi vượt qua giai đoạn viết văn học sinh, "đi cái một" vào Văn Đàn người nhớn.) Truyện ngắn đầu tiên gửi đi đã được đăng ngay, và được trả nhuận bút luôn, cho nên Nghề Văn đến với tôi trước khi tôi biết có nghề văn.

Khi tôi bước vào báo Tiếng Dân chỉ thấy một ông đang thu cả hai chân lên ghế rít thuốc lào. Tôi nói lớn tôi tới lãnh nhuận bút truyện ngắn Hắn của Nguyễn Nam. Ông xua tay tíu tít "Về bảo bố em tới lãnh mới được." "Thưa ông bố tôi mất rồi." "Thì bảo anh em đến lãnh, trẻ con không lãnh được, 150 đồng to lắm." "Nhưng thưa ông tôi viết cái truyện ngắn ấy."

Ông ta nhìn tôi tròng trọc: "Chú mày có chứng minh thư không?" "Thưa chứng minh thư chắc là thẻ học sinh?" Tôi có cái thẻ học sinh Chu Văn An, có hình đàng hoàng. Ông ta lôi trong ngăn kéo bàn ra một cái phong bì, ngoài có đề Monsieur Nguyễn Nam. Tôi phải ký tên vào cái sổ là đã nhận tiền đầy đủ. Không nhìn tôi cũng biết ông ta ngắm nghía mình kỹ lắm. Ông nói "Chú mày khá lắm. Cố lên nhé. Xem ra chú mày có triển vọng thành nhà văn đấy. Nhà văn gái mê lắm đấy."

Mấy ngày sau tôi đãi hơn mười đứa bạn chơi đá bóng với tôi ở bãi cát gần Viện Viễn Đông Bác Cổ ra hàng Mụ Béo bên Hồ Gươm ăn đu đủ bò kho và bánh tôm. Chưa bao giờ tôi oai phong đến thế. Sau này ở Saigon, tôi viết truyện ngắn gửi các báo với nhiều bút hiệu khác nhau, mục đích lấy tiền chi tiêu thay vì như các bạn cùng tuổi phải đi kèm học tư. Trên các báo Ngôn Luận, Tiếng Chuông, Văn Nghệ Tiền Phong khoảng 1955, 1956 có nhiều truyện ký tên Sầm Tham, Nguyễn Văn Ba, Lê Nguyên đều là tôi. (Tôi là con thứ ba và lúc này tôi đã yêu cô bạn học Đệ Tứ lớp hè trường tư họ Lê, sau là Dược sĩ, và đã tự tử chết lúc 24, 25 tuổi. Còn Sầm Tham, ai yêu thơ Đường đều biết Sầm Tham. Ký lung tung là vì truyện ngắn gửi nhật báo, hay báo tuần không hẳn loại Văn học Nghệ thuật, viết cái vèo vài giờ một cái truyện, mình không quan tâm lắm. Với lại tôi không quí Văn xuôi bằng quí Thơ. Chỉ khi làm thơ tôi mới nghĩ đến chuyện phải có một bút hiệu cho ra gì.

Tôi dở Hán Việt Từ Điển Giản Lược của Đào Duy Anh ra tìm một cái tên ra gì như tôi muốn. Có nghĩa là vừa khó trùng, vừa dễ nhớ, thơ đọc lên dù dở mà bút hiệu hay người ta cũng nhớ tới mình như thường. Ở trang 551 có hai chữ viên linh. Cụ Đào viết: "viên linh: Trời, vì hình trời tròn, nên gọi là viên-linh." Tôi chẳng muốn làm ông Trời với ai bao giờ, nhưng tôi yêu Nắng Miền Nam, yêu nắng đến nồng nàn, nhất là phóng xe máy ào ào trên đường vắng giữa trưa Sài Gòn là điều tôi thường làm, nên tôi đã tìm thấy bút hiệu cho mình. Bút hiệu ấy đã dùng gần 50 năm nay.

 

3. T.D.: Thời anh học đệ lục ở Phủ Lý với thầy Chu Thiên, anh đã có một ngày rất đáng nhớ với tác giả Bút Nghiên vào mùa hè năm 1954. Thủa ấy, anh có xe đạp Peugeot nên thày Chu Thiên đã nhờ anh đèo lên Hà Nội. Hình như trong chuyến đi đó thày Chu Thiên đã hỏi anh: ‘Sao em không đi Nam?’ Bấy giờ, trong mắt tác giả Bút Nghiên: không đi Nam là một sự lạ? Tại sao vậy?

. V.L.:Hè 1954 tôi về quê Đồng Văn, nơi Mẹ, Chị và Em gái tôi vẫn ở, chỉ có em trai Nguyễn Hữu Hiệu và tôi lên Hà Nội trọ học. (Anh tôi đi bộ đội ở xa.) Mẹ tôi là đại lý độc quyền muối Văn Lý (bãi bể Văn Lý, Hà Nam) ở Phố Ga Đồng Văn. Nên hè thì về quê. Ở nhà chán, vả lại có cái xe đạp vào loại tối tân nhất lúc ấy, Peugeot Dura (loại nhẹ, một tay nhấc cao lên được, vì bằng nhôm cứng, dura) nên tôi xuống Phủ Lý học. Phủ Lý cách Đồng Văn 11 cây số, đạp nhanh chỉ khoảng 15, 20 phút. Còn từ Đồng Văn lên Hà Nội có 48 cây số, khoảng một tiếng rưỡi vừa đi vừa ngắm cảnh. Nhưng hôm ấy Thầy bảo tôi ngừng ở bến xe hàng, chứ không muốn tôi chở hẳn lên Hà Nội. Trên đường từ Phủ Lý về Đồng Văn, chúng tôi nói nhiều chuyện. Đúng ra là Thầy hỏi, và tôi trả lời. Sau khi hỏi han gia cảnh, Thày hỏi tôi: Gia đình em có định đi Nam không? Tôi đáp có. Nhiều chú bác đã đi rồi. Thày hỏi tôi: Bao giờ đi? Sao chưa đi?

Cái nhìn của Thày khiến tôi cảm thấy câu nói có một hàm ý gì đó.

Tôi biết Thày Chu Thiên quý tôi. Tôi từng chơi quanh bên Thày khi lớp đổi giáo sư giữa hai môn học. Vì tôi hay hỏi về Việt văn. Tôi nhớ Thày rất rõ: quần áo kaki luộm thuộm bạc sờn, tóc sơ xác, đứng tựa cửa bóc sắn hay chuối ăn vào buổi trưa. Ngày nào cũng thế. Thày gầy teo, ngồi lọt thỏm trên khung ngang của cái xe đạp, giữa hai vòng tay tôi, mà không đụng tay tôi. Lúc ấy tôi đã to con lắm, 16 tuổi mà nặng 54 cân. Cô tôi vẫn gọi tôi là thằng Tạ Gạo. Câu nói của Thày không phải do lấy làm lạ, mà nghe như một câu nhắc nhở: "Sao chưa đi Nam? Hãy đi ngay, kẻo muộn."

 

4. T.D.: Anh đã vào nhập học Đệ ngũ ở trường Chu Văn An từ ngày 26 tháng 10 năm 1954. Trong khi đó họ hàng nhà anh đã đi Nam từ ngay sau hiệp định Geneve, 7.1954. Gia đình anh thì đang ở Hải Phòng chỉ chờ anh nữa để đi Nam. Rốt cuộc, anh đã rời trường Chu Văn An, rời Hà Nội để có mặt tại Sài Gòn vào đêm 25 tháng 12 năm 1954. Cho đến nay, chưa một lần trở lại Hồ Gươm. Tính đến năm 2004 là vừa tròn 50 năm anh xa Hà Nội. Kể từ cuộc phân ly ấy cho đến bây giờ chắc anh thấy rõ sự tàn phá cũng như sức sinh thành của những cơn bão thời thế lên số phận của mình?

V.L.:Năm mươi năm giữa những cuộc phân ly của Đất Nước, của Dân Tộc, những cuộc chính biến nửa thế kỷ bên này cũng như bên kia, sự tàn phá hẳn không tránh được, tuy nhiên tàn phá không phải là tiêu hủy. Trái lại, tôi cứng cỏi và trưởng thành lên nhiều qua những đổi thay. Tôi luôn luôn nhớ một câu thơ của Thế Lữ, và chỉ một câu thôi: "Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy?" Câu hỏi để tự định lại vị trí và vị thế mình sau một biến động.

 

5. T.D.: Cha anh mất từ năm 1945. Lúc ấy anh mới bảy tuổi. Cho đến tháng 12 năm 1954, anh phải thú thật với thầy Tạ Quang Bửu là anh phải đi Nam theo mẹ, theo gia đình (dù không muốn). Như vậy có thể nói, người mẹ (của anh) là người đã ảnh hưởng tới cuộc đời anh nhiều hơn người cha của anh ư? Có lúc anh đã viết: "Anh nhớ lại từ đầu. Anh nhớ lại lúc anh ngọn tóc phất phơ, chân đi guốc mộc, trong ngõ trúc, trên đường làng. Lúc anh ngất ngây vì một giải thắt lưng màu hoa thiên lý. Một mái tóc ngang vai. Lúc mẹ dẫn anh đến trường. Lúc cha cầm roi chỉ sách. Cuộc đời anh từ đó bắt đầu." Nghe nói Mộ của ông cụ hiện nay đang ở gần Ga Đồng Văn. Có lần Phùng Quán đã về đó cắm nhang? Anh biết Phùng Quán là người gọi Tố Hữu bằng cậu ruột không?

V.L.: Hồi sau này tôi mới biết chuyện Phùng Quán là cháu Tố Hữu. Phùng Quán về Đồng Văn, ra mộ Thầy tôi thắp một nén nhang, là vì anh kết nghĩa huynh đệ với em trai tôi. Những năm ‘80 từ Mỹ Nguyễn Hữu Hiệu đã về Hà Nội thu thập tài liệu quanh về Nhân Văn - Giai Phẩm và giúp làm Chòi Ngắm Sóng cho Phùng Quán trên Hồ Tây. Tôi có đọc nhiều thư Phùng Quán viết cho Hiệu trong đó có nói tới những đêm thức đọc sách trong căn phòng của Hiệu ở Viện Đại Học Vạn Hạnh. Trước 1975 Đại Đức Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu là Trưởng ban Tu Thư của Viện nên có căn phòng trên lầu hai của Viện ở đường Trương Minh Giảng. Phùng Quán từ Hà Nội vào đã ở trong căn phòng này của Hiệu.

Thật không rõ tôi ảnh hưởng ai giữa cha và mẹ. Bố mất khi mình mới hơn 6 tuổi, nhưng tôi còn nhớ rõ khi 4 tuổi hơn ông đã dẫn tôi đi cô đầu trên Phố Khách; gọi Phố Khách vì khu đó có nhiều cửa hàng do người Tầu làm chủ. Đồng Văn là một làng đặc biệt, chia làm hai khu bởi một con sông nhân tạo, gọi là Sông Đào. Bên kia Sông Đào là làng, nơi có Đình làng và 99% cư dân; bên này Sông Đào, chạy dọc Quốc Lộ số 1 khoảng hơn hai hay ba cây số, có đường xe lửa xuyên Việt chạy qua, có ga Đồng Văn, có chùa làng, gọi là Chùa Cảnh Phúc do nhị vị công chúa nhà Lê xây từ thế kỷ XV, và khoảng 1% cư dân của làng. Nhà tôi vừa có nhà trong làng, nhà tranh, vừa có nhà ngoài phố, nhà gạch, nơi U tôi buôn gạo buôn muối (bán sỉ chứ không bán lẻ) và cũng là nơi đặt văn phòng làm việc của làng, vì Thầy tôi là Lý trưởng. Khoảng năm 1943, 1944, đất nước còn thanh bình lắm, từ chiều tới đêm trên phố, gần bến xe hàng, gần nhà ga, có nhà hát êm đềm vui vẻ, các cô thấy bố con tôi đều vui mừng mở rượu mở bia chiêu đãi. Các cô thường ôm tôi chứ Thầy tôi rất nghiêm chỉnh, vì là Ông Lý trưởng, con Cụ Tú Tiên Chỉ, tuy uống nhiều, và tom chát thì tôi không rõ sành điệu hay không, vì lúc ông đàn hát thì tôi say bia đã ngủ mất rồi. Đương nhiên là ông có làm thơ, phú, Hát Nói, đưa cô đầu hát. Ông chết trẻ, năm 38 tuổi, tiếc là tôi không được đọc, được nghe thơ phú của ông. Đương nhiên là hay thôi. Còn nhớ, U tôi, (tôi vẫn gọi Mẹ bằng U), sau này đôi khi có nói: "Anh ấy (tức là tôi), mới bốn tuổi đã đi cô đầu và uống bia cơ đấy."

 

6. T.D.: Thỉnh thoảng trong thơ anh có những câu như

Hỡi ôi hoang phế miếu đường

Lòng son như ngói Âm Dương tan tành

hoặc:

Các con ở tám phương trời

Nhớ cha như nhớ một người ngoài hiên.

Nhiều bạn đọc tò mò vào gia cảnh của nhà thơ đoán già đoán non là gia đình họ

hàng nhà Viên Linh hiện nay phiêu bạt khắp thế giới? Tôi nghĩ đó vừa như rủi

lại vừa như may?

V.L.:Cả hai đều đúng. Vừa rủi vừa may. Gia đình nhỏ của tôi không ảnh hưởng tới tôi mạnh bằng gia đình lớn: bố chết trẻ, mẹ goá mới khoảng ba mươi tuổi ở vậy suốt đời nuôi năm con, mà tôi là con thứ ba. Bố chết hình như sáu bảy tháng thì chiến tranh Pháp Việt bùng nổ, anh cả vào bộ đội, rời nhà, dân Hà Nội tản cư về tràn ngập Đồng Văn. Mẹ và bốn chúng tôi đều còn bé, em gái út ra đời mấy ngày đã phải bế xuống hố tránh bom (Mẹ hoài thai em ít tháng thì bố mất, em ra đời không thấy mặt bố.) Máy bay hai thân của Mỹ ném bom suýt trúng nhà tôi (vì đó là căn nhà gạch nổi bật trong khu phố dưới, giữa đám nhà tranh). Chính chúng tôi phải tản cư.

Gia đình nhỏ phân tán ở Hoa Kỳ. Tôi có làm riêng một tập thơ cho các con tôi, nhan đề là Thơ Của Một Người Cha Xa Vắng . Các con ở tám phương trời là nghĩa đen chứ không phải nghĩa bóng. Lúc này đây thì một đứa ở Thượng Hải, một đứa ở Boston, một ở Rockview, một đứa ở Charlotteville, và Las Vegas, Long Beach, Los Angels, còn một đứa quanh đây. Các cháu đều nên người, mấy đứa tốt nghiệp hậu Đại Học, từ các chuyên khoa như MIT (về vẽ mẫu thời trang) ở New York, Cổ ngữ La tinh ở Boston, Quản trị Kinh doanh ở Las Vegas, Kiến trúc và ấn hoạ ở Charlotteville, Richmond, Đồ hoạ Kỹ nghệ ở Los Angeles...

 

7. T.D.: Có bao giờ số phận những người thân trong gia đình ám ảnh anh mạnh đến nỗi họ được tái hiện trong các tác phẩm của anh không? trong Hóa Thân? Thị Trấn Miền Đông? trong Mã Lộ?

V.L. :Số phận những người thân không xuất hiện trong tác phẩm của tôi, vì tất cả đều thành công tốt đẹp, mà sự thành công ngoài đời không có gì hấp dẫn trong một tác phẩm văn chương. Nếu các nhân vật trong thơ trong truyện của tôi có ở trong cảnh chia tan mất mát, có thể vì tôi bị ám ảnh với những gì đã thấy trong đời, có lẽ cái máy hình trong đầu tôi khá tốt, nhìn cảnh gì cũng thu ngay đuợc vào khiá cạnh sắc nét nhất. Chẳng hạn những xác chết dọc Quốc lộ số 1 năm 1945, những người chết đói năm Ất Dậu đó; chẳng hạn khi bảy tuổi tôi đang chơi trong chùa làng -ngôi chùa Cảnh Phúc do nhị vị Công chúa nhà Lê xây cất cách đây đã 500 năm- chợt nhìn thấy một bóng người bay ngang đầu mình, nhìn lên thì là một cái xác treo cổ trên cành soan; chẳng hạn đang bơi trong Hồ Sen sau chùa thì thấy cái xác một hài nhi trắng bệch trên đầu có một cái lỗ tròn như một đồng xu nhẵn thín bơi theo mình; chẳng hạn chứng kiến Thầy tôi bắt một tướng cướp nhốt vào nhà giam, anh tướng cướp ôm chặt một đưá bé gái một hai tuổi không rời, không cho nó ăn, hơn một ngày Thầy tôi phải thả anh tướng cướp, vì sợ đưá bé chết đói... Chẳng hạn khi mười tám tuổi tôi cùng mấy đứa bạn đã bắt gặp một ông linh mục đang vén áo dòng làm tình với một phụ nữ có gương mặt thánh thiện sáng như trăng rằm, làm tan nát lòng tin của một thanh niên vừa vào đời...Tôi thu những hình ảnh ấy vào trong tâm trí, sống mãi với những cảnh vật tang thương, diễu cợt, phỉ báng, thống khổ...Văn chương tôi không phục vụ niềm vui. Văn chương tôi đào xới sự bất hạnh, để làm gì thì tôi không thể nói. Đời tôi có nhiều người thân yêu ra đi, như cánh rừng có nhiều muông thú bị hại. Tôi sống trong mất mát của đời, tôi khóc trong đêm khuya chia ly mộng tưởng tuy nhiên ban ngày tôi hớn hở chào đón mọi sự gặp gỡ.

 

8. T.D.: Năm 1969 anh in năm cuốn tiểu thuyết và cưới một cô vợ trẻ hơn mình chín tuổi. Lúc ấy chắc anh chưa biết nhà văn Tiệp Milan Kundera đã phải chạy sang Pháp tỵ nạn từ năm 1968. Rồi, ngay từ chiều ngày 19 tháng Tư năm 1975, anh đã cùng bầu đoàn thê tử rời Sài Gòn ra đảo Phú Quốc bằng máy may. Đến đêm 29 tháng Tư năm 1975, anh cùng hai người vợ, kể cả bà vợ cũ, và các con trai con gái đã rời đảo Phú Quốc để tới Mỹ bằng con tàu American Challenger. Gần 30 năm nay anh cũng vẫn chưa về lại Sài Gòn, thành phố thời anh viết Hóa Thân?

V.L. :Chưa, tôi chưa trở lại Sài Gòn lần nào từ khi bỏ đi, năm 1975. Tôi cũng chưa trở về Hà Nội lần nào từ lúc từ giã, năm 1954. Thế kỷ XX là thế kỷ của di dân, của lưu đày; cho nên sống lưu đày hiểu theo nghĩa tiêu cực là sống lưu vong, mà hiểu theo nghĩa tích cực là sống tự do. Ta Việt Nam lưu đày là ta Việt Nam tự do. Người Việt Nam trong thế kỷ XX và XXI không sống lưu đày là người Việt Nam sống trong nô lệ, bị áp bức, bị trị, tha hoá, sống trong môi trường của những nhân danh tập thể, quốc tế, từ Liên bang Đông Dương tới Công xã Xô viết, trong khi hạnh phúc đời người là hạnh phúc riêng; con người khác con vật ở chỗ gìn giữ cá tính và phẩm giá mình theo truyền thống nhân cách riêng của mình, gia đình mình, và xã hội văn hiến miền đất đã nhiều đời khai phá, phát triển. Con người sống với thiên nhiên, theo tiếng chim hót, không sống trong trại tập thể, theo tiếng kẻng kim khí hay tiếng loa, tiếng đài. Tôi không thấy cần phải về khi đã học được một ý nghĩa chân lý của André Malraux: "Nơi nào có Tự Do nơi ấy là Quê Nhà tôi."

 

9. T.D.:Nửa thế kỷ nay anh chưa bao giờ trở lại thành phố Hà Nội, thành phố thời niên thiếu? Giả sử, bỗng nhiên bây giờ, có việc khẩn thiết, bằng mọi giá phải hạ cánh ở Nội Bài, anh đã có sẵn một số điện thoại một địa chỉ để trở lại với bằng hữu cũ của Trường Chu Văn An chưa?

V.L.:Có lẽ chưa, nếu đó là số điện thoại của người thân. Có lẽ có, nếu đó là số điện thoại của một vài bạn văn học. Tôi thư từ, gặp gỡ Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng từ năm 1991 khi anh từ Hà Nội qua Hoa Kỳ làm việc ở Đại học Cornell, Ithaca, New York. Anh cũng dân Phủ Lý "nơi ăn sóng nói gió" như chữ anh dùng. Tôi vẫn liên lạc với anh. Gặp nhau tại xứ người, bên ly rượu, chúng tôi chỉ nói chuyện về các ngõ ngách Hà Nội, về vết đạn Đường Thành, tuyệt nhiên không đả động tới chính trị. Tôi cũng liên lạc bằng điện thoại thư từ nhiều lần với cháu Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng.

 

10. T.D.: Có lần anh kể, năm 1963, anh sống trên một căn gác xép (nhà của Mẹ ở Chí Hòa), căn gác không đủ cao nên chỉ có khoảng giữa là đứng thẳng lưng lên được. Nhiều tháng không ra khỏi nhà vì sợ bị Công an của Chính phủ Ngô Đình Diệm lùng bắt. Thật ra họ lùng bắt Nguyễn Hữu Hiệu. Vì Hiệu lúc ấy là sinh viên Cao Đẳng Phật hoc, đi rải truyền đơn chống Diệm, nên nếu bọn họ thấy anh chắc cũng bắt luôn thôi. Nên phải trốn trên đó khoảng ba tháng. Truyện Thị Trấn Miền Đông được viết trong thời gian ba tháng này. Viết đi viết lại. Cho nên dạo ấy, dùng hai cái tai rất kỹ. Nghe nghóng tiếng giầy ở bên dưới, biết là đàn ông hay đàn bà, đi giầy hay đi dép...

Năm ấy, năm 1963, là năm Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử tại Sài Gòn vào ngày 07 tháng 07. Chính là năm có đảo chính. Các ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị giết vào tháng 11. Phải chăng anh là một người luôn luôn bị (được) ràng buộc, gắn bó với một đời sống gia đình nhiều sự cố? Điều đó mang lại cho văn nghiệp của anh nhiều may mắn hay hoạn nạn?

V.L.: Tôi không nghĩ một gia đình Việt Nam như gia đình tôi là có nhiều biến cố như Dũng nghĩ. Rất bình thường thôi. Các biến cố gia đình nếu có, không gây ảnh hưởng bao nhiêu cho văn nghiệp của tôi.

 

11. T.D.: Tập thơ Hóa Thân được anh khởi viết từ lúc còn trẻ đến năm 1964 mới ra mắt tại Sài Gòn.

Nay anh đang chuẩn bị cho ra đời tập thơ thứ ba, tập Âm Thất . Tính từ 1975 ngược về năm 1960, số lượng đầu sách Thơ của anh ít hơn số lượng đầu sách tiểu thuyết rất nhiều. Tôi thì tôi cho rằng vì Tám chữ Hà Lạc của Viên Linh chỉ có một chữ thuộc hành Hỏa (là chữ Đinh trong Đinh Sửu, chỉ năm sinh), còn lại là bốn chữ thuộc hành Thủy, hai chữ thuộc hành Thổ, một chữ thuộc hành Kim; cho nên Viên Linh không làm thơ ào ạt sòn sòn như làm văn xuôi. Thơ của anh hiếm nhưng hay.

Mãi tới 1992-1994, tôi mới được đọc Hóa Thân Thủy Mộ Quan. Hồi tưởng lại anh thấy anh viết tiểu thuyết dễ dàng hơn là làm thơ hay ngược lại? Trong số ba tập thơ Hóa Thân, Thủy Mộ Quan Âm Thất , anh tâm đắc với thi phẩm nào hơn?

V.L.:Việc tôi viết truyện khó khăn hơn làm thơ là việc dĩ nhiên. Truyện là sản phẩm của tưởng tượng, cho nên ta thường thấy các nhà văn sợ trí tưởng tượng của mình quá hạn hẹp, trùng với sự thật ngoài đời, nên phải cảnh giác người đọc "nếu có sự trùng hợp ngoài đời là do sự tình cờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của tác giả." Có ai phải cảnh giác người đọc khi làm thơ đâu? Cho nên nếu văn là hư cấu, thì Thơ là tình thật. Nhân vật trong Tiểu thuyết là người ta, nhân vật trong Thơ là ta, chính ta. Viết về cái ta khó lắm, trừ phi ta tha hoá, coi ta là người khác, làm thơ tưới sượi như phạt cỏ vét bùn, tát nước sang ao. Làm thơ theo tôi là một cách viết nhật ký, song không viết cho mình hôm nay, mà viết cho mình ở đâu đó, có khi là ở tận mai sau. Viết truyện là dựng nên, hay vẽ ra, những nhân vật điển hình của một xã hội; làm thơ là đào sâu, chôn chặt chính mình vào lòng mộ, có thể là một ngôi mộ tâm linh mà thôi. Mà đường đời thì rải rác những mồ hoang, những mồ vô chủ. Thơ ta mà có người hương lửa thì ta cũng không mong gì hơn.

Tôi còn đang bằng lòng với Thuỷ Mộ Quan. Tuy nhiên Âm Thất là thi phẩm tôi gửi gấm nhiều hơn nữa.

 

12. T.D.: Sau này từ khi làm báo Khởi Hành , tôi thấy anh hay viết Tiểu luận, Chân dung Nhà Văn. Là một người có năng lực hướng nội mạnh mẽ có khi nào anh tự lý giải tâm lý sáng tạo của mình trước hiện tượng thay đổi bút pháp và thể loại trong từng thời kỳ khác nhau?

V.L. :Câu hỏi này nặng lắm, có thể viết thành một cuốn sách. Tâm lý sáng tạo của một nhà văn, nhà thơ thì vô cùng phức tạp, nhất là khi người ấy đã cầm bút 50 năm. Tôi lấy hai ví dụ.

Khoảng 1960, tôi lên Ban Mê Thuột dạy học, và bắt đầu đăng thơ trên các Tạp chí Sáng Tạo của nhóm Mai Thảo và Thế Kỷ 20 của Nguyễn Khắc Hoạch. Tờ Sáng Tạo có khi dành tới 4, 5 trang liền để đăng thơ Lục Bát Viên Linh . Như thế, người ta thấy thơ lục-bát-viên-linh khác với lục bát người khác. Hẳn phải có nguyên do. Trong khi ấy tôi gửi truyện ngắn đăng ở những báo khác. Hẳn tôi có lý do cho sự chọn lựa nơi gửi bài. Ở trường hợp trên, tôi làm mới thơ lục bát, vì Sáng Tạo là tạp chí cổ võ "đứng về phiá những cái mới." Ở trường hợp dưới, tôi viết truyện mà không khổ công khai phá kỹ thuật làm văn cho lắm, viết để lấy nhuận bút, viết để viết, để mưu sinh thôi.

Năm 1978, phong trào vượt biển gây dư luận trên thế giới, thảm cảnh biển Đông với thuyền lật, người chết, hải tặc Thái Lan tấn công thuyền nhân, hãm hiếp phụ nữ Việt, gây rúng động lòng người khắp nơi. Trong khoảng hai năm liền, mỗi sáng sớm tôi trăn trở với mấy tờ báo The Washington Post (vì lúc ấy tôi còn cư ngụ trong vùng thủ đô Hoa Kỳ, là nơi tôi tới định cư từ tháng 8.1975), và các báo Việt ngữ (báo tuần báo tháng, Việt ngữ chưa có báo ngày), chỉ cốt đọc tin về thuyền nhân. Tôi không thể viết như cũ được nữa. Tôi không thể làm thơ như vẫn làm thơ được nữa. Tôi tự hỏi: "Tổ tiên ta đã làm gì để phụ nữ Việt, con cháu Việt phải "trả nợ" đến thế? Trong dòng Lịch Sử nói chung, dòng giống Việt đã làm gì để người Việt đất Việt thảm thương như thế, từ Bắc chí Nam, từ trong nước ra hải ngoại.

Tôi nghe nhiều, đọc nhiều về sự kiêu hãnh ngớ ngẩn của người Cộng sản Việt, sự tự hào thảm thương của người bộ đội bác Hồ, lời nhân nghĩa của cán bộ Lý Thông khuyên nhủ người chủ đất nước Thạch Sanh, ...hay chuyện hai anh em ruột Ngô Xuân Diệu nhà thơ vào Nam gặp Ngô Xuân Phụng nhà báo, quân nhân Cục Tâm Lý Chiến, cũng là nơi tôi từng phục vụ.

Phụng làm một bữa cơm có con cá nướng đãi anh. Anh không đụng đũa mà cứ ngó ra cửa. Mãi rồi hỏi em: Sao mãi những người khác chưa đến. Em nói: Có ai nữa đâu, chỉ có hai anh em mình. Diệu tác xác: Con cá này phải tám người ăn là ít, sao lại chỉ có tôi và chú? Chú là đại úy Nguỵ, quen thói bóc lột nhân dân, v.v... Đại khái, vô vàn chuyện như thế. Anh em trí thức xô xát, chỉ từ cái kim sợi chỉ, miếng cá hạt cơm. Tôi tìm đọc lại Lịch sử Dân tộc, tôi tìm đọc lại Cổ tích dân gian, và tôi thấy...Và tôi "thay đổi một quan điểm sáng tác" như nhan đề bài diễn văn tôi đọc trong Đại Hội Việt Học ở Chicago sau đó vài năm. Năm 1982 Thuỷ Mộ Quan ra đời. Tập thơ này sở dĩ có là do cuộc vượt biển đó. Trong đó nói tới nhiều chuyện, từ cảnh ăn thịt người của đám thuyền nhân trên một cái bè mất hướng trên biển, tới cục đường mang vào Nam của người bộ đội man tưởng; và sự hùng dũng của vài nam nhi Việt khi ở Mỹ, trong có một nhà văn, người từng ngồi im trên thuyền chứng kiến cảnh hải tặc Thái Lan hiếp vợ và con gái mình... Bài thơ "Chuyện Vãn Cùng Sách Cũ" của tôi làm trong giai đoạn này:

Chữ nghĩa đã hàm oan / Tâm kiệt cùng mực cạn / Ẩn mật chút men trong / Cất lòng sầu vô hạn... Có chiều thương bút mực / Bàn viết như mồ hoang / Yên nằm hồn lệ quỉ / Chờ ý xuống hộ tang...Quỉ ơi đời giấy trắng / Chờ ngươi đã nhiều năm / Có nghe nghìn xác sóng / Tìm nhau ngoài hư không?

Nội dung thay đổi thì bút pháp phải thay đổi. Nội dung và bút pháp thật ra chỉ là một: nhiều khi nhà văn không ý thức được là có sự phân biệt. Thơ khẩu khí chẳng hạn. Chữ khẩu khí là nhà phê bình sau này đặt ra, chứ người thi sĩ làm thơ bộc trực, không cần phân biệt nó là khẩu khí hay tâm khí hay chí khí hay não khí hay thân khí hay tinh khí. Nguyễn Biểu thấy cái đầu người cầm đũa móc mắt ăn và làm thơ, chưa rõ lúc ấy ông no hay đói. Chưa rõ đó là thơ khẩu khí hay can khí, vị khí hay thực khí.

 

13. T.D. : Nhà văn Tam Ích Lê Nguyên Tiệp đánh giá cao Thị Trấn Miền Đông [trong bài Văn chương Tân Duy Nhiên ở Việt Nam, đăng trên Khởi Hành số 16, tháng 8.1969.] Năm tháng trôi qua, suy ngẫm lại, có lẽ bởi vì, trong Thị Trấn Miền Đông , anh đã nhìn xứ sở bằng một cái nhìn đầy biểu tượng, căng thẳng, lạnh lùng cho nên ít người hiểu thấu và đồng cảm. Nhất là sự cảm thấu của độc giả miền Nam, một cộng đồng người hay hảo ngọt, ưa không khí cải lương, vừa êm ái nỉ non não ruột vừa ngọt ngào sầu muộn tả tơi?

V.L. :Nhà phê bình Tam Ích trong bài trên gọi văn của Thị Trấn Miền Đông thuộc « nền Văn chương Tân duy nhiên ở Việt Nam, » một nền Văn chương đang được những nhà văn trẻ xây dựng. Ông cũng cho nó là « độ không của Văn chương, » có lẽ lúc đó ông đang say mê Roland Barthes, tác giả cuốn Le Degré zéro de l’écriture . Như anh biết tôi không viết phê bình, nhưng tôi cũng hiểu rằng Tam Ích hay Barthes chủ trương phê bình một tác phẩm không cần tìm hiểu kiểu tra vấn (investigation) ý hướng của tác giả, mà chỉ cần tìm hiểu biểu tượng mà tác giả đưa ra trong tác phẩm. Nghĩa là không phân tích tác phẩm của người ta dựa trên các giá trị truyền thống như lối cổ, mà nói ra những gì các biểu tượng ấy nói.

Để tôi kể chuyện này : Đầu tiên tôi mang Thị Trấn Miền Đông tới tạp chí Bách Khoa đưa cho ông Lê Ngộ Châu, chủ nhiệm tờ tạp chí. Vì nó dài trên 100 trang in, nên ông hẹn tuần sau trở lại, để ông có thì giờ đọc. Khi tôi trở lại xem kết quả, thì ông giận dữ nói : « Tôi không chịu được các anh. [Lúc ấy tôi 25, 26 và ông khoảng gần 40.] Các anh không coi lễ giáo xã hội ra gì cả. Tại sao con cái lại nói giọng đó với bố mẹ ? Em lại nói giọng đó với anh ? V.v... » Tôi xin lại tác phẩm ; không hề giận, chỉ lấy làm buồn cười. Ông nói ông để nó ở nhà. Ông mang về nhà đọc. Tôi đòi ngay. Thế là ông và tôi về nhà ông lấy. Dường như tôi chở ông trên chiếc xe Lambretta của tôi. Trên xe, ông đã dịu giọng, nói là cuốn sách thì hay, nhưng tờ Bách Khoa thì không thể in được. Đó là tờ tạp chí chừng mực và như cái tên báo, gồm bài vở thuộc nhiều lãnh vực : kinh tế, tài chính, chính trị, xã hội, văn học. Bách Khoa đã từng đăng một số thơ của tôi. Khi tôi mang bản thảo lại tạp chí Văn cho Trần Phong Giao thì ông này nói rằng nó dài quá cho báo Văn, ông sẽ in riêng thành một cuốn sách nếu tôi chịu viết lại. Viết lại, vì cho tới lúc ấy, Thị Trấn Miền Đông là một vở kịch. Tôi đành thoả hiệp : Bỏ dạng kịch, chuyển thành dạng truyện. Thật ra thì không phải là viết lại : tôi chỉ sửa mấy cái ghi chú của kịch thành câu văn thường, không thêm gì cả. Nhưng cũng bởi lẽ ấy, văn chương của nó là loại văn gọn ghẽ tối đa, loại văn kịch. Do đó tôi đề hai chữ « Tân truyện » ngay dưới nhan đề. Thị Trấn Miền Đông trở thành một cuốn sách, một tân truyện phát hành vào tháng sau đó, cuối năm 1966. Đó là tác phẩm văn xuôi đầu tay của tôi được xuất bản thành sách.

 

14 . T.D. : Bí quyết gì đã làm cho một Viên Linh Đồng Văn Bắc Kỳ có giọng điệu kể chuyện rất chi là Anh Hai Xè Goòng trong tiểu thuyết Mã Lộ vậy?

V.L. :Tôi cho rằng một thi sĩ phải biết làm đủ mọi thể thơ, từ thơ luật đến thơ tự do, giống như một võ sĩ phải biết thập bát ban võ nghệ, chứ không chỉ biết một vài món quèn, có ngày chết tốt nếu đụng tay giang hồ lão luyện. (Các nhà thơ tự do làm thơ tự do rất dở nếu bản thân chưa từng rành thơ luật.) Viết văn cũng thế, mình người Bắc viết giọng Bắc là thường thôi, phải viết cả giọng Nam. Mà giọng Nam ở đây lại chính là giọng người dân nơi mình trưởng thành, càng quan trọng cho một nhà văn. Nhà văn phải sống trong lòng xã hội mình. Cho nên tôi dùng toàn giọng Nam trong Mã Lộ . Sau này Gió Thấp cũng thế. Tôi vui vì một hôm vào quán cà phê ngã tư, gặp nhà văn Ngọc Linh, với Lê Xuyên, hai nhà văn nổi tiếng Sài Gòn, mà Ngọc Linh, Lê Xuyên lại viết cho các báo tôi làm Thư ký Toà soạn, nên thân nhau, anh nói : « Sao mày viết đặc Nam kỳ tụi tao vậy hả mày? » Chẳng có bí quyết gì hết. Chỉ là do suy nghĩ như trên. Tuy nhiên từ nhỏ (khoảng 17 trở đi) tới lớn, tôi có nhiều bạn gái và người yêu gốc người Nam, Tây Ninh, Vĩnh Long, Sài Gòn, nên tôi thích nghe giọng nữ miền Nam, du dương hơn giọng Huế hay giọng Bắc nhiều. Tôi cũng thích vọng cổ nữa. Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, Khoa trưởng Văn Khoa Đại học Sài Gòn, chủ nhiệm Tạp chí Thế Kỷ 20 tôi quen từ 1960, [nhà thơ Trần Hồng Châu] hay đùa với tôi : « Thằng cha này khôn lắm. Nó có pillow teacher không à ! »

 

15 . T.D. : Thành phố Sài Gòn đã liên quan như thế nào tới truyện ngắn Ngôi Nhà Tôi Đã Ở của anh. Theo tôi đó là một thiên truyện giầu chất điện ảnh? Hình như có lần anh đã tham gia đóng phim hoặc là đã cùng với Chu Tử làm cái gì đó có dính dáng đến điện ảnh ở Sài Gòn?

V.L. : Ngôi nhà trong truyện ngắn đó chính là ... ngôi nhà tôi đã ở, ngôi nhà tôi thuê của Chùa Phú Thạnh tại đường Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận, khoảng 1961. Nó ở sau chùa, vắng tanh, vì lối vào phải đi ngang qua hai nghĩa trang, nhà ván gỗ cất một nửa trên một con kinh, nửa kia trên đất chùa, một mình nổi lên cao. Nhà hàng xóm ở xa xa, và ở dưới thấp. Lúc đầu tôi thuê chung với hoạ sĩ Nguyễn Trung, sau này là hoạ sĩ số 1 của Miền Nam trong nhiều thập niên. Tôi từng cầm cọ vẽ sơn dầu ở trong căn nhà này. Khi Oanh bạn gái của Trung đến thì tôi đi, khi Kim Xuyên của tôi đến thì Trung đi. Bạn gái tôi hay nói : Số em gặp anh thành số hoa rơi cửa Phật. Trước đây ai nói thì em không tin, bây giờ đúng y chang.

Tôi thuê căn nhà được nửa tháng thì Sư bác hỏi tôi : Thày ở đó có yên không ? Tôi nói tôi thích lắm. Sư bác bảo Thày giỏi đa, người ta cứ dọn vào vài ngày là bỏ chạy. Có cặp vợ chồng dọn vào ở đúng một đêm hôm sau trả lại nhà, bỏ cả tiền nhà luôn. Họ bảo nhà có con ma nữ, phá dữ lắm. Thày giỏi đa.

Không biết thì thôi, khi biết nhà có ma thì tôi bắt đầu để ý. Tôi thấy sát mái nhà có một miếng gỗ như cái mặt bàn, bắc ghế trèo lên xem thì hoá ra trên mặt cái bàn chế biến đó có một bát hương thờ, đầy bụi bậm. Thế là ngay đêm đó con ma hiện ra. Tóc nàng rất dài, đè tôi ngạt thở, phủ kín cả người tôi, giãy giụa đến toát mồ hôi mới tỉnh lại được. Lúc ấy khoảng hơn hai giờ sáng, không đi đâu được vào giờ đó, tôi bèn thắp đèn thắp nến sáng chưng, cầm một nắm dao dài ngắn chém nàng lia lịa. Tôi cũng phóng dao vào bốn phiá nhà. Tôi làm như thấy nàng, và chém đến đâu thì nàng chạy đến đó, nên tôi chém một vòng quanh mình. Chém xong tôi nói : Nè, anh ở đời đã là một con ma tổ bố rồi, anh không sợ ma đâu. Em đang là ma, anh giết cho thành mị luôn đấy. Làm ma em có thể trở lại thành người, chứ khi ma chết thành mị, thì không hoá kiếp thành người được nữa đâu nhé. Thế là từ đó lại yên như cũ. Tôi đọc Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh khi còn nhỏ, khoảng mười mấy, còn nhớ có câu « ma chết thành mị, » nên mới đem ra doạ nàng. Có khi là đúng.

Chuyện điện ảnh thì tôi có được mời làm phụ tá đạo diễn phim Yêu , quay theo tác phẩm cùng tên của Chu Tử. Tôi lo về casting, tức là chọn diễn viên và chỉ cho diễn viên cá tính của nhân vật mà họ sẽ đóng. Các vai chính trong phim là Anh Ngọc, Lê Tuấn, Thanh Lan, Thanh Khiết...

 

16 . T.D. : Thời kỳ từ 1960 đến 1975, có thể nói là thời kỳ anh sáng tác rất sung sức. Trong đó từ năm 1965, 66 đến năm 68, anh làm việc tại Đài Tự Do, và 1974 làm Đài Mẹ Việt Nam nơi anh có điều kiện tiếp xúc với các thông tin đa chiều, trực thuộc Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa. Giai đoạn đó, anh có theo dõi được số phận các tác phẩm bị phê phán của các nhà văn miền Bắc như Nguyễn Công Hoan, Hà Minh Tuân, Nguyễn Dậu, Nguyễn Đình Thi, Phùng Quán, Việt Phương, Nguyễn Tuân, Hoàng Cầm... hay không? Các hiện tượng văn học đó ở miền Bắc theo anh, đã ảnh hưởng như thế nào tới anh? Tới các nhà văn Việt nam ở miền Nam?

V.L. :Đài Tự Do do người Mỹ điều hành kỹ thuật, Trưởng đài là một Thiếu tá người Việt, trụ sở ở Gia Định, tôi là môt biên tập viên thường trực từ lúc đầu; đài Mẹ Việt Nam còn Mỹ hơn nữa, trực thuộc Toà Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, trưởng đài là người Mỹ, tôi được người ta tới tận nhà mời vào làm để thay thế vị Trưởng ban Biên tập « bỏ nhiệm sở không baó trước. » Lúc ấy là tháng 11.1974. Ở đó tôi có báo Miền Bắc đọc mỗi ngày, chỉ chậm khoảng một tuần so với ngày báo in ra ở Hà Nội. Văn Nghệ, Nhân Dân, Hà Nội Mới, v.v... Trên hồ sơ lương tôi là political analyst, việc phải làm là phân tích sách báo Miền Bắc và đề ra các đề tài để viết. Mặt khác tôi có hai bạn đồng sự là một đạo diễn tu nghiệp ở Mạc Tư Khoa hồi chánh, nhà văn Xuân Vũ hồi chánh, và một cố vấn là Thượng tá Tám Hà, Trung đoàn phó Trung đoàn VC (hình như 205? Ông nói mà nay tôi không nhớ rõ.) ở Nha Trang, về hồi chánh, là cố vấn của tôi. Bàn ông ngồi ngay bên tay phải bàn của tôi.

Như thế, quả là tôi có thông hiểu tình hình văn học, cũng như các phương diện khác trong xã hội Miền Bắc, hơn nhiều người cầm bút ở Miền Nam. Những um xùm quanh truyện Đống Rác của Hà Minh Tuân thời đó nếu tôi nhớ không lầm, tôi biết ngay khi nó xảy ra. Hay các tố cáo có tính « nêu quan điểm » tôi cũng biết. Nhưng ảnh hưởng về văn học thì không.

 

17. T.D. : Thoạt tiên anh chỉ có ý định hoàn thành Bộ sách có tính chất biên khảo mang tựa đề: Các Khuynh Hướng Văn Học Miền Nam Việt Nam. Sau khi đi Đông Âu và gặp gỡ những người ở đó trở về Mỹ, công trình dự định biên khảo của anh có tên mới là Chiêu Niệm Văn Chương . Anh đã cho biết, thời gian của bộ sách này khởi từ 1950, khởi từ 1954, khởi từ 1975 và chưa chấm dứt...Vì sao anh chọn Vũ Hoàng Chương cho Chiêu Niệm Văn Chương Tập I?

V.L. : Như tên gọi, Chiêu Niệm Văn Chương là bộ sách viết về các nhà văn nhà thơ bị Cộng sản giam hãm, lưu đày và chết vì văn chương của mình. Vũ Hoàng Chương là nhà thơ lớn của Miền Nam và là người chết đầu tiên vì tù đày cộng sản, dù rằng ông chết ít ngày sau khi ở tù ra.

 

18 .T.D : Sau Vũ Hoàng Chương, Lịch Sử Thơ cho tập I, Án Mệnh Quang Dũng sẽ là tập II? Với đà này thì phải bao lâu bộ sách mới xong? Một mình anh làm sao xuể?

V.L. : Án Mệnh Quang Dũng viết xong rồi. Các tập I I I, IV, V cũng đã xong rồi, chỉ chưa in được thôi. Tôi đang thu xếp thời gian và công việc để lo in sách nhanh hơn.

 

19.T.D. : Trong lần trả lời phỏng vấn của báo Văn học (tháng 9 năm 1994) về Hai mươi năm văn học Hải Ngoại có đoạn anh đã phân tích:

« Vậy thì theo tôi, văn học (Việt Nam) hải ngoại thời chiến tranh lạnh chính là Văn học Miền Nam. Nói một cách khác, dòng văn học hải ngoại chính là dòng Văn học Miền Nam nhưng thiếu những người bị Miền Bắc cầm tù và những người đã tự nguyện gia nhập dòng văn học Miền Bắc. Mà trong khi văn học miền Nam trở thành văn học hải ngoại thì văn học miền Bắc trở thành văn học quốc nội. Cùng một phút, cùng một giờ. Chỉ có một thay đổi: biên giới. Thành ra chữ miền Nam-hải ngoại, miền Bắc-quốc nội chỉ có một ý nghĩa là ý nghĩa địa lý, lại là địa lý chính trị: miền Nam hay hải ngoại là văn học Việt Nam Quốc gia; miền Bắc quốc nội là văn học Việt nam Xã hội chủ nghĩa. Cho tới phút tôi đang viết câu trả lời này, Việt Nam vẫn là một nước Xã hội Chủ nghĩa. Chưa ai thấy một nhà văn nào, một Tạp chí văn học nào hay một nhóm nhà văn nào ở trong nước thuộc dòng văn học miền Bắc phủ nhận chủ nghĩa xã hội, phủ nhận thể chế xã hội. Cho nên tôi không thể nghĩ khác được rằng văn học của một nước Xã hội Chủ nghĩa lại không phải là văn học xã hội chủ nghĩa...

 « ... Đoạn trên tôi có dùng mấy chữ trong chiến tranh lạnh. Những nhận định trên của tôi cũng chỉ nói tới các nền văn học Việt Nam trong thời kỳ ấy. Khi cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt: các nền văn học ấy khởi sự thay đổi: Hải ngoại trước chỉ có Bắc Mỹ và Tây âu, nay thêm Đông âu. Trong nước, trước, chỉ có xã hội chủ nghĩa, nay thêm cởi trói. Chính do biến cố chính trị ấy chúng ta mới có chuyện để nói. Không có biến cố chính trị ấy thì không có đổi mới hay cởi trói... »

Như vậy, cuối cùng, chắc chắn Bộ sách Chiêu Niệm Văn Chương của anh khi tới tay thế hệ con cháu chúng ta, sẽ được đón nhận như là một gia sản trong kho tàng Văn học Việt Nam?

V.L. :Hãy tưởng tượng « một gia sản trong kho tàng văn học Việt Nam » sau này như anh nói không có những cáo trạng kể trong Chiêu Niệm Văn Chương (và sách khác của những người khác tương tự) về tội ác đã tung hoành giết hại phỉ nhổ lăng nhục hai hay ba thế hệ nhà văn Việt Nam cuối thế kỷ XX, đồng thời đưa hàng trăm ngàn người khác lý tưởng vào các trại tập trung lao động và mấy triệu người lưu vong, trong có hàng trăm ngàn người vùi thây nói tới trong Thuỷ Mộ Quan ? Tôi làm thơ viết văn là cầm bút viết về đồng loại trong thời đại của mình, không mơ màng chuyện vĩnh cửu. Tôi không muốn con anh và con tôi và bạn bè trang lứa chúng sau này đọc thơ văn của cha chú chúng lại chỉ thấy những tiểu phẩm văn minh phục vụ cho tiện nghi, đường lối văn chương lo toan chuyện mỹ từ pháp, hở rốn hay cắt dòng bá láp, phê bình thì kênh kiệu hàn lâm lẩm cẩm thư lại hay ăn đong kiến thức second hand giao tế và xưng tụng kẻ cầm quyền bằng văn tụng, báo biếu, và đài ké. Cảm ơn Thế Dũng.

THẾ DŨNG thực hiện

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 6267)
(Xem: 8682)
(Xem: 9925)
(Xem: 9595)
(Xem: 9933)
(Xem: 10429)
(Xem: 9218)
(Xem: 9013)
(Xem: 9112)
(Xem: 9442)