- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

BÙI GIÁNG

19 Tháng Mười 20268:44 CH(Xem: 1449)

 

BUI GIANG
Chân dung Thi sĩ BÙI GIÁNG



BÙI GIÁNG 
Tác giả: NGUYỄN CHÍ TRUNG

 

Mục Lục:

1.      Sài Gòn 1966

2.      Đại Học Vạn Hạnh

3.      Trở Về Việtnam - 1972

4.      BG – NCT * Thư Tín

5.      Chuyện Điên

6.      Hiện Tượng BG

6.      Thiên Tài

7.      Thơ Bùi Giáng

8.      Tình Bạn BG - NCT

 

 

1. SG thời kỳ 1966 er

 

Nhà tôi ở đường Lê Văn Duyệt, trong khu Đình Phú Thạnh, Q.3, thành phố Sài Gòn.

Một người bạn học với tôi ở trường trung học Chu Văn An từ đệ thất đến đệ nhất là con của một bác sĩ. Gia đình bạn ấy ở đường Phan Thanh Giản gần nhà tôi, trong một villa trong ngõ. Villa này có một phòng cho một cô người Đức tóc vàng tên là Helga thuê (sau này tôi được anh Bửu Ý cho biết thêm: chính anh là “bồ ruột” của Helga và Helga – nếu anh nhớ tiếng Đức không sai, có họ là Legefeld hay Lagerfeld - ). Helga giao du  với văn nghệ sĩ đã hay đang có tiếng tăm của thời 1960 er ở SG.

 

Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác.

Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng. Dĩ nhiên tôi đã biết tên Bùi Giáng qua những bài Thơ đăng trên các tạp chí văn học lúc bấy giờ, và hiển nhiên là tôi chưa biết mặt. Lúc bấy giờ một tên tuổi gây ồn ào là Phạm Công Thiện cũng đang ở trên gác của nhà xuất bản, một căn nhà nhỏ hẹp trong một con ngõ. Tên của PCT thì hầu như giới trẻ thanh niên “làm văn nghệ” như chúng tôi, đám bạn CVA, đều biết và có ấn tượng. Tôi nghe mấy anh em văn nghệ nói với nhau: “nó đang đóng vai thiên tài nên phải lập dị”, và đùa giỡn cười: “nó đang điên trên gác”.

 

Anh Giáng vừa gặp tôi đã “khoái” ngay (tôi nhắc lại chữ của anh Giáng), nghĩa là không phải do Thơ, vì lúc bấy giờ tôi chỉ viết thơ như một thanh niên ấu trĩ và chỉ phổ biến thơ trong Giai Phẩm Xuân Chu Văn An 1966 và 1967.  Năm 1966 anh Bùi Giáng đã 40 tuổi, còn tôi 18. Anh vỗ vai tôi và nói “mấy ông thanh niên ra đây uống rượu với tôi” (tôi đi cùng với người bạn), nói xong anh không chờ phản ứng của chúng tôi, kéo chúng tôi đi ra đầu ngõ, sà vào quán cóc bên đường, kêu rượu đế ra, coi như chúng tôi dĩ nhiên là phải ngồi uống và chuyện trò cùng anh. So với tuổi và tên thì anh Giáng hơn tôi quá nhiều, và tiếng tăm anh đã có vững chãi trên làng văn qua những tập Thơ đã xuất bản, nghĩa là không (chưa) qua những giai thoại hay huyền thoại điên. Gọi là nói chuyện nhưng thật ra thì anh Giáng nói và kể nhiều chuyện, tôi ngồi nghe, tiếp chuyện và đôi lúc hỏi vài câu để cho anh kể rõ hơn. Lúc ấy tôi đã đọc Thơ BG trên các tạp chí văn học và trong tập Thơ “Mưa Nguồn” và tôi đã thấy BG là một tài Thơ lạ, ngôn ngữ chữ nghĩa không hề giống những thơ khác mà tôi có đọc trên những tạp chí văn học thời đó. Và nội dung thì càng có một cái gì đó khác thường làm tôi chú ý.

Tôi không còn nhớ anh nói những gì, dĩ nhiên là tôi không thể nhớ hết được, nhưng tôi nhớ rất rõ một chuyện anh kể vì nội dung của câu chuyện đó. Anh đã làm ra một vẻ cực kỳ khoái chí, thích thú, và bí mật khiến bọn trẻ tuổi như chúng tôi càng thêm tò mò và hứng khởi. Anh kể giọng thấp xuống là tối qua anh nằm mơ. Trong lúc mơ anh thấy cô Kim Cương ngồi xòe chân trên mặt anh và đi tiểu xối xả …Kể chưa xong anh đã cười rộ và vẻ mặt dáng điệu cực kỳ vui thú, kêu lên hai tiếng “xè xè” …. Nhưng sau đó anh nói ngay với chúng tôi, anh chỉ kể cho mấy ông thanh niên nghe thôi, chưa kể ai khác nghe, và chúng tôi không được kể cho ai khác. Vì chuyện này - BG với KC - ai biết những giai thoại về / của BG nhiều cũng đều đã biết ít nhiều nên nay tôi kể ra đây mà không mang lỗi bất tín với anh, một người sau đấy đã trở thành một người bạn rất thân của tôi, và chúng tôi đã rất quý nhau qua thời gian. Sau này, khoảng năm 1972, sau khi gặp lại nhau, anh Giáng có tặng tôi hai tập sách của anh, và trong một tập, “Con Đường Ngả Ba”, chính anh có kể lại rõ ràng trong “chiêm bao thấy cô (KC) chan rưới mưa móc thật là nhiều” (trang 393).

 

Kể xong chuyện anh móc trong túi quần ra một đống tiền và giấy lộn xộn và trả tiền cho quán rượu. Chúng tôi vì chưa uống rượu đế bao giờ nên cũng loạng quạng lên xe về. Anh bỏ đi, không quay vào trong ngõ nữa. Lúc ấy nắng chiều đã tắt, trời xâm xẩm tối.

 

2. Đại Học Vạn Hạnh

 

Những năm đó, 1966, 1967 tôi ban ngày thì học ở trường CVA hai lớp cuối cùng, đệ nhị và đệ nhất, để chuẩn bị thi tú tài I và II và làm báo Giai Phẩm Xuân cho trường, Ban đêm tôi có tham dự khóa học ở Đại Học Vạn Hạnh, một đại học do giáo hội phật giáo VN thống nhất thành lập vào năm 1964. Trong không khí của SG vào thời điểm đó, sự hình thành của ĐHVH cùng với sự xuất hiện của tạp chí Tư Tưởng là những sự kiện văn hóa quan trọng của miền Nam VN.

Vào năm 1967 vì có dự định đi Đức du học nên tôi có ghi tên học khóa học Grundstufe I cho tiếng Đức ở Viện Goethe SG. Viện tọa lạc ở đường Phan Đình Phùng (hay Phan Thanh Giản?). Tôi có một thói quen từ thuở còn trẻ cho đến tận bây giờ đã gần 80 tuổi, là hay lục lọi tìm sách trong tiệm sách cũ, ở các chợ trời họp vào thứ bảy, chủ nhật, hay ở các thư viện khắp nơi trên thế giới, những nơi mà tôi vô tình đi ngang qua. Viện Goethe SG lúc ấy cũng có một thư viện nhỏ, tôi tìm tòi các sách lạ, những sách hay những tên của tác giả mà tôi chưa biết, muốn biết hoặc thấy là mình nên biết. Vô tình tôi thấy hai quyển “Tư Tưởng Hiện Đại I và II” (Ấn bản đầu tiên ghi trên bìa sách “Saigon Vĩnh Phước Việtnam - 1963) mà tác giả là BG. Lúc bấy giờ những tên như Albert Camus, Jean Paul Sartre, Martin Heidegger, Edmund Husserl … được nêu trong cao trào gọi là “chủ nghĩa hiện sinh”. Năm đệ tam ở trường CVA (1965) tôi đã được giáo sư môn văn giao cho một việc là thuyết trình về đề tài “chủ nghĩa hiện sinh”. Điều này cho thấy “hiện sinh” thời thượng như thế nào trong đời sống văn học nghệ thuật của những quốc gia thuộc địa của Pháp như VNCH. Qua tác phẩm đầu tay này của BG mà tôi càng thấy mình có lý khi đã quyết định đi Đức du học, để biết tiếng Đức, để học triết học Đức, học tư tưởng nơi Heidegger và thâm cảm nền âm nhạc Đức. Và cũng để đọc thi sĩ Hölderlin, người thi sĩ đã trở thành một sự bí mật trong trí tưởng tượng của tôi, khi tôi được biết đâu đó về sự mất trí, cái điên của Hölderlin.

Trở lại đại học Vạn Hạnh thì đó là nơi tôi thường lui tới vào chiều tối. Tôi còn nhớ rất rõ có khóa học về “Etymologie” của thầy Tam Ích mà tôi đã ghi tên tham dự để học với tư cách là bàng thính viên. Tam Ích là một nhà văn lão thành, cũng như Hồ Hữu Tường vào những năm 60 er là hai tác giả mà lúc ấy tôi có theo dõi đọc, nhất là tôi đã đọc HHT rất nhiều. Cho đến bây giờ (năm 2023) tôi vẫn nhớ đến hình dáng khắc khổ, giọng nói rõ ràng và sang sảng của thầy TI. Nhân đây tôi xin ghi ra một chi tiết, vì là học sinh trường CVA, tôi đã không được học La Tinh như các học sinh của trường Tây (là trường Pháp). Đó là một thiếu sót cho cuộc đời viết Thơ sau này khi tôi sống ở Âu châu, giữa các ngôn ngữ gốc La Tinh. Nhưng cũng chính nhờ vào khóa học về Etymologie này của thầy Tam Ích, mà tôi đã có căn bản để phát triển nhiều hơn trong việc học hỏi các ngôn ngữ chung quanh Đức ngữ, gốc La tinh như Pháp, Anh, Ý, TBN, BĐN. Với kiến thức này, tôi đã có thể dịch hay làm việc chung với các bạn Thơ trên khắp thế giới, nhất là ở Âu châu và châu Mỹ La tinh, trong việc dịch Thơ NCT ra ngôn ngữ nước họ. Sau này với công nghệ Artificial Intelligence (AI) thì sự việc càng đỡ mất thời gian hơn rất nhiều. Bản dịch do AI thực hiện được dùng như bản dịch thô sơ, làm căn bản cho một bản dịch được dịch giả hoàn chỉnh hơn.

 

Tôi chỉ muốn nói trong điểm 2. này là trong suốt thời gian ban chiều đến tối ở ĐHVH tôi đã đôi lúc gặp lại anh G. và qua đó tôi cũng thỉnh thoảng thấy bóng dáng Tuệ Sỹ. Tôi không rõ khoảng thời gian đó anh G. cư ngụ ở đâu. Theo tôi biết sau này, anh sống đâu đó trong xóm nào bên kia đường khu chợ Trương Minh Giảng.

Trong dịp Tết 1966 và 1967 tôi có tham gia vào tạp chí “Giai Phẩm Xuân Chu Văn An”. Điều đó nói lên một chi tiết là tôi có làm báo, viết và quan tâm đến tình hình văn học nghệ thuật cùng chính trị, và dĩ nhiên là tình hình chiến tranh.

Sau hai bằng tú tài I (1966) và II (1967) và kỳ thi trung học toàn quốc với kết quả cực kỳ tốt đẹp, tôi có nhiều học bổng của các quốc gia, nhất là Mỹ, Úc, Tân Tây Lan … để đi du học nước ngoài. Tôi chọn học bổng quốc gia của chính phủ VNCH cấp để có thể sang Tây Đức du học theo ý tôi muốn. Tại sao không đi Mỹ, Úc, hay Tân Tây Lan, Bỉ …, là những nước được đa số người trẻ tuổi muốn đi du học nước ngoài chọn? Lý do là vì tôi đã có tiếp xúc với âm nhạc và triết học Đức, qua tư tưởng của Martin Heidegger trong tương quan với Thơ của Hölderlin, và đồng thời vì cuộc chiến tranh VN mà chủ nghĩa Marx được nêu ra như một ý thức hệ mà tôi muốn tìm hiểu. Và có lẽ nên nói thêm chi tiết này về cá nhân NCT là tôi tự bản tính có khuynh hướng làm những việc gì khó khăn, đòi hỏi. Và tiếng Đức nổi tiếng là một ngôn ngữ khó học. Tôi chỉ muốn đọc Nietzsche, Marx và Heidegger, Hölderlin trong ngôn ngữ gốc, không qua bất cứ một ngôn ngữ dịch nào đó, mặc dù lúc bấy giờ tôi chưa hề có đủ trình độ và kiến thức để biết đến những hệ lụy của “vấn đề dịch” như sau này. Thêm vào đó tôi đã làm quen đến nhạc cổ điển Tây phương qua nhiều lần tham dự những buổi trình diễn âm nhạc cổ điển ở Viện Quốc Gia Âm Nhạc, do các nhạc sĩ người Đức trình diễn và viện Goethe SG mời. Các giấy mời của viện Goethe SG là do cô Helga giao cho người bạn mà tôi đã nêu trên đây lúc gặp anh G. Các nhạc sĩ Đức như Beethoven, Brahms, Schubert, Bach, Mozart (Áo) đều là những tên không lạ với tôi. Nhất là nhạc của Johann Sebastian Bach tôi rất thích nghe, như bị dẫn dắt vào một thế giới dính dáng đến tư tưởng hoặc toán học, hai bộ môn mà tôi vốn chuyên tâm sau khi vào trung học đệ nhị cấp, tức là lớp đệ tam.

 

Tôi rời Việt Nam với máy bay Caravelle của hãng Air France, ngủ đêm ở Paris vì phải đợi có chuyến nối tiếp để sang Stuttgart, là nơi tôi có chứng nhận của đại học cho phép đến học. Lúc bấy giờ theo tôi biết chỉ có Air France là có chuyến bay nối VN với các nước ở Âu châu, chưa có Lufthansa, hãng của Đức quốc, càng chưa có các hãng hàng không khác như trong thế giới hiện nay. Tôi đến Đức (Stuttgart) vào khoảng 23 h đêm 27.11.1967. Đêm hôm đó mưa tuyết tầm tã. Trời hiển nhiên rất lạnh.

 

3. Trở Về VN - 1972:

 

Tháng ba năm 1972 tôi từ Đức về SG, gọi là về thăm nhà sau hơn bốn năm xa cách. Tôi mạn phép xin nhắc các bạn độc giả trẻ tuổi là các bạn nên biết hoàn cảnh sống của những năm 60er khác hẳn trên khắp thế giới, và ở Việt Nam trong chiến tranh thì lại càng khác, càng khó khăn chật vật hơn. Lúc bây giờ không có email, Internet, và cũng chưa có Personal Computer như Microsoft hay Mac. Kể cả điện thoại cũng coi như là không có đối với gia đình tôi, kể từ khi tôi rời VN 1967. Tôi và gia đình tôi không hề nghe giọng nói của nhau trong suốt 4 năm trời. Thỉnh thoảng khi có thư đến, tôi mới được đọc chữ viết của ba tôi, hay của các em tôi. Và gia đình chỉ được đọc thư của tôi với cái được cái không. Trầm trọng hơn nữa VN đang ở trong giai đoạn chiến tranh ác liệt và tàn khốc.

 

Trong bốn năm sống ở Đức đó (1967 - 1972), và cả những năm sau này,  cả sau biến chuyển lịch sử 1975, hầu như là không có cách nào chắc chắn và hiệu quả cho việc liên lạc, thông tin giữa VN và nước ngoài cho những người bình thường. Duy nhất hầu như chỉ có thư tín, và trong hoàn cảnh chiến tranh trước 75, thư nếu được viết và gửi cho nhau thì có khi đến có khi không, vì thư gửi đi có cái  không bao giờ đến và thư chỉ viết trong đầu, không gửi thì cũng sẽ không bao giờ đến. Và sau 75 thì càng tệ hơn nữa vì suốt đến thời kỳ “đổi mới” do Nguyễn Văn Linh (đảng CSVN) tiếp nối theo chiều hướng chính trị của Đặng Tiểu Bình (Trung quốc) khởi xướng, thì hầu như thường dân không ai được xuất và cũng không ai được nhập cảnh VN.

1972 tôi mang về VN một quyển sách của Heidegger để tặng anh Giáng. Đó là tập sách Holzwege. Trong tập sách này có một bài viết quan trọng của Heidegger về câu hỏi “Wozu Dichter?” do thi sĩ Hölderlin đặt ra trong thán ca “Brot und Wein” (Bánh Và Rượu). Anh G. đã căn cứ vào bài viết này để khai triển tiếp trong những tập văn xuôi mà anh viết sau này. Tôi vốn đã có rất nhiều sách của Heidegger từ khi đến Đức (nhắc lại Heidegger là một trong những lý do chính khiến tôi chọn nước Đức để du học, tôi vẫn nói với các bạn học: “ở Mỹ tôi không thấy có gì để tôi học”).

Trong những thời gian gần đây trong sinh hoạt văn học tiếng Việt, nghĩa là trong và ngoài nước, thì cái tên “Heidegger” được nêu lên và sử dụng rất thường như một thương hiệu đang được ưa chuộng, để đánh bóng hoặc trưng bày cửa kính của triết học, văn chương văn nghệ. Tôi thiết nghĩ nên nói rõ vài điểm chính yếu, căn bản cần có khi nói về triết học hay đúng hơn là tư tưởng của Heidegger.

 

Trong chương viết về tình bạn giữa TCS và tôi, tôi có nhắc đến việc anh Hoàng Thiệu Khang và anh Hoàng Ngọc Hiến có mời tôi về Sài Gòn hay Hà Nội để giảng dạy về “Martin Heidegger”. Việc này quả thật là tôi cũng đã đồng ý và đã chuẩn bị.Về VN, SG hay HN, để nói chuyện ở Đại Học cho các trí thức và sinh viên VN về Heidegger đối với tôi, là một việc tôi có thể để thì giờ ra làm, và có khả năng làm.

Tôi đã nghiền ngẫm những quyển sách chính yếu của Heidegger ngay từ những lúc đến Stuttgart từ 1966/67 dù trình độ ngôn ngữ Đức của tôi lúc đầu không thể nào gọi là đủ để đọc được sách của Heidegger và Thơ của Hölderlin.

Tôi đã học tiếng Đức mãi những thập kỷ sau đó qua những sách của Hölderlin, Heidegger, Nietzsche, Bloch và Kafka. Những tác giả này là những người viết tiếng Đức hay nhất, rõ ràng nhất và sâu sắc nhất. Theo tôi thì sau đó không còn tác giả nào thể hiện được tất cả cái hay cái đẹp của ngôn ngữ Đức nữa. Những triết gia đức như Kant Hegel Marx … chỉ thể hiện được sự chính xác và rõ ràng của ngôn ngữ này mà thôi, nghĩa là thiếu phần mỹ học. Heidegger đã viết khá nhiều tập sách “dày và nặng”  giảng giải sâu xa về Thơ Hölderlin, một nguồn Thơ xa lạ, Thi Dựng, khác hẳn những thơ cùng thời của Goethe hay Schiller. 

 

Cho đến ngày hôm nay 2026, tôi chưa được biết một người VN nào, dù ở trong hay ngoài nước, đã học triết hay nay là giáo sư triết, “nghiên cứu” nghiền ngẫm & suy tưởng về những câu hỏi chính yếu Heidegger đặt ra cho viễn tượng của cuộc nhân sinh bằng chính ngôn ngữ mà Heidegger dùng để diễn đạt những tư tưởng sâu xa và chính yếu của ông. Điều đó  đòi hỏi việc phải đọc ông trong ngôn ngữ ông viết và tư tưởng: đó là ngôn ngữ Đức. Tôi xin chú thích: chính người Đức bình thường, đôi khi các giáo sư triết của các ĐH xưa kia và ngày nay … cũng không có khả năng để đọc ngôn ngữ này. Điều thứ hai quan trọng hơn, đó là đọc và hiểu Heidegger trong ngôn-ngữ-riêng của ông. Về vấn đề này, tôi chỉ nêu ra đây hai khía cạnh:

 

-         Thứ nhất: đó là những triết gia người Pháp đều phải công nhận một yếu điểm của ngôn ngữ của họ khi họ đọc sách Heidegger´s được dịch ra. Họ có quan điểm tổng quát: muốn tư tưởng triết lý, thì phải tư tưởng bằng Đức ngữ, nghĩa là không qua bất cứ một ngôn ngữ nào khác như Anh, Pháp, TBN, Ý ….

-         Thứ hai: Heidegger có một ngôn-ngữ-riêng của ông. Người không quen, không có làm bài tập trong ngôn-ngữ-riêng này, thậm chí có dị ứng với nó, khó có thể bắt được sợi chỉ đỏ để truy hiểu những tư tưởng & ý tưởng gì ông muốn nói. Như đã kể trên đây có triết gia nhà trường đã chế giễu ngôn ngữ đó và gọi đó là “tiếng lóng của Heidegger” (Jargon Heidegger´s). Tay triết gia nhà trường này (“Teddy” Adorno) đã không hiểu chút gì về kích thước tư tưởng của Heidegger. Ở Đức ông ta thuộc về Frankfurter Schule, nhóm này rất thịnh hành vào thập niên của những năm 1968, năm nhiều biến động của phong trào sinh viên khắp nơi, ở Âu châu và ở USA.

 

Vì thế tôi có phần ngạc nhiên khi nghe đâu đó rằng bên USA có những vị giáo sư (VN) “chuyên về Heidegger”, đã từng có những bài viết về nhà tư tưởng lớn của Đức, của nhân loại này. Những giáo sư triết học nhà trường này của những đại học tiếng tăm Harvard, Stanford, Yale …, tôi chỉ có chút hy vọng, là họ có thể cũng biết ít nhiều hay lõm bõm chút chữ Đức chăng? Không kể đến những người đã đi học bên Đông Đức (DDR), kể cả những người đã du học triết ở Tây Đức (BRD), xứ sở của Heidegger, và kể cả những người (Đức) dạy triết học ở các đại học thuộc thế hệ sau này - thế hệ không được học hay tiếp cận trực tiếp với giáo sư Heidegger hay tư tưởng Heidegger - tôi đều nhận thấy ở họ một điểm chung: là họ không hiểu và biết gì về Heidegger và ngôn ngữ của ông, dù ông viết tiếng Đức. Tuy nhiên, vì kích thước và cũng vì tai tiếng của Heidegger, họ đều phải có phát biểu, có “ý kiến, tiếng nói” về Heidegger. Hiện tượng này sẽ còn được lập lại với BG, khi anh Giáng mất. Tôi sẽ nói dưới đây.  

 

Tôi phải nói là mình đã học tiếng Đức rất nhiều qua những ý nghĩ, tư tưởng của Heidegger mà ông đã diễn tả - đối với tôi - rất rõ trong ngôn ngữ rất khúc triết của ông (ngôn ngữ mà những tay triết gia đầy lý thuyết mà ít tư tưởng như T. Adorno tiêu biểu của trường phái Frankfurt chế nhạo và một đám triết gia trẻ sau này của Đức quốc tiếp tục phê bình đủ kiểu, nhất là từ khi xuất hiện những tập sách đen của Heidegger vào năm 2014 (Những Tập Sách Đen là nhật ký ghi chép những suy nghĩ của Heidegger, khởi viết từ năm 1931 đến 1975)).

 

Trở lại câu chuyện ở đây, nói về BG. Trong bốn năm học hành ở Stuttgart, tôi vẫn viết thư gửi về cho anh. Những năm ấy  và cả những năm sau đó (đến 1975) tôi viết khá nhiều thơ và tôi đều chọn gửi về cho anh, cũng như cho Phạm Thiên Thư, tuy là ít hơn. Như đã nêu, thư gửi đi gửi lại giữa VN và Đức là một sự việc không chắc chắn. Về đến SG, tôi đến Đại Học Vạn Hạnh để tìm anh. Và gặp anh ở đấy. Lúc đó cũng là lúc anh giới thiệu rõ ràng hơn về tôi với anh Tuệ Sỹ. Tôi có nhiều lần thấy TS lúc học khóa đêm năm 1966/67 hay những lần hai anh BG và TS chuyện trò với nhau và có mặt tôi. Nhưng đây là lần mà anh TS và tôi có dịp để quen biết chuyện trò nhiều hơn với nhau.

Vì tôi đã sống ở Đức và quan tâm nhiều đến tư tưởng Heidegger và Thơ Hölderlin cũng như Nietzsche nên cả ba nói chuyện chung quanh những gì Heidegger viết trong quyển Holzwege, nhất là bài viết về câu hỏi tính vấn “Và Thi nhân để làm gì?”. TS lúc ấy cũng bắt đầu làm quen với Heidegger và Hölderlin, tất cả là qua anh BG. Anh Giáng là người giới thiệu những tên tuổi ấy đầu tiên ở VN, cũng như Trần Văn Toàn, một giáo sư tốt nghiệp triết học ở Bỉ là người ở VNCH đưa triết học Karl Marx một cách đứng đắn vào miền Nam VN. Sau một hồi nói chuyện thì TS (chắc là) bận bịu với việc của đại học VH nên đứng lên tạm biệt. Anh Giáng kéo tôi ra ngoài khuôn viên của ĐHVH và sang bên kia đường phía gần chợ Trương Minh Giảng. Chúng tôi ngồi ăn hủ tiếu với nhau ở một quầy xe hủ tiếu. Tôi còn nhớ ăn xong anh “bị” mời dùng một cốc trà. Anh càu nhàu ngay và kéo tôi đi, nói rằng vừa ăn ngon xong, miệng còn thòm thèm hương vị, đã bị bắt uống trà cho nó tiêu tan cái vị ngon đi, không còn gì là ngon và thơ mộng nữa! Rất may đúng ý tôi, tôi không bao giờ ăn dessert cả, vì tôi vốn ở nhà không có thói quen đó từ nhỏ, và từ đó càng có lý do rõ ràng và tề chỉnh cho việc không uống trà súc miệng tẩy xóa hương vị của món ngon mình vừa mới ăn. Chúng tôi đi lên một con đường ngang vào đường TMG, cứ đi dọc theo lề đường và ghé vào một quán cà phê. Tôi chưa kịp ngồi xuống thì anh lại đứng dậy bất ngờ (anh Giáng hay có những cái bất ngờ trong xử sự mà người đi hay ngồi cùng anh không thể lường trước được) và hai đứa chúng tôi tiếp tục đi trên vệ đường, vừa đi vừa nói chuyện giữa ồn ào của xe cộ làm tôi nghe tiếng được tiếng không, cũng phần vì anh nói giọng Quảng trọ trẹ (đối với tôi). Tay anh cầm giữ quyển Holzwege mà tôi đã giao ngay từ lúc gặp. Thình lình anh ngồi ngay xuống vệ đường, và bảo tôi cũng ngồi xuống để nói chuyện. Anh tiếp tục nói về Heidegger mà lúc nãy trong lúc ngồi chung với TS anh vừa bắt đầu đề cập tới. Anh nói một hồi về Heidegger và Hölderlin và chúng tôi trao đổi với nhau những ý nghĩ về những gì anh suy tưởng, về những câu hỏi anh có trong những bài viết của Heidegger về Hölderlin mà anh biết được ở đâu đó và anh đã nêu ra trong suốt những sách anh viết hay dịch, khởi đầu với “Tư Tưởng Hiện Đại” …, trong tương quan với Nguyễn Du. Sau cùng anh yêu cầu tôi đọc cho anh nghe một đoạn của “Holzwege”, bất cứ một đoạn nào đó. Tôi phải hỏi lại vì không rõ ý anh. Hóa ra là vì anh chỉ biết tiếng Đức qua sách vở và tự điển mà chưa hề nghe thanh âm của ngôn ngữ này. Anh muốn nghe cái Sound của tiếng Đức. Tôi đọc cho anh nghe. Anh chăm chú nghe và không có comment gì. (Thời 60 er trí thức VN khi nói đến tên & chữ ngoại quốc hầu hết đều phát âm như là theo tiếng Pháp; hiện tượng đó bây giờ vẫn được tiếp tục, chỉ thay thế phát âm theo tiếng Pháp bằng phát âm theo tiếng Anh. Dù sao cũng còn tiến bộ hơn lối phát âm tên người nước ngoài theo đường lối phiên âm ra tiếng Việt, một việc làm thiển cận thiếu suy nghĩ).

 

Quay trở lại quán nước anh gọi cà phê ra cho hai người. Anh kể cho tôi nghe một điều khiến anh bực bội, một cái hận của anh với Nhất Hạnh (NH). Nxb Lá Bối của Thích Nhất Hạnh có in ra một quyển sách (“DIALOGUE”, 1965) gồm những thư của những tay viết nặng ký nhất của nền văn học VNCH gửi đến các trí thức thế giới, trong đó có thư của anh, BG, gửi đến thi sĩ René Char của Pháp. Phạm Công Thiện gửi Henry Miller, Hồ Hữu Tường gửi Jean Paul Sartre, Tam Ích gửi André Malraux và NH gửi Martin Luther King. Tập sách mỏng này Lời Tựa do anh viết theo yêu cầu của NH. Nhưng sau đó NH đã thay đổi cắt xén Lời Tựa này của anh, mà không hề hỏi ý anh, hay ít nhất thông báo cho anh biết như một người đường đường chính trực, nhất là đối với một người bạn văn của mình, và nhất là mình dù sao trước tiên cũng là một người tu hành, mang tiếng là sư, sau nữa là một người của văn chương chữ nghĩa, một người viết văn và in sách. Người nào đọc BG thì đều nhận ra đây là giọng văn, style của anh, nhất là những câu hỏi tính vấn của anh đặt ra chung quanh những câu Thơ mà anh hay trích dẫn của Nguyễn Du và Hölderlin (lúc 1965 thì chưa có phong trào ngôn ngữ kiểu “cha già tóc trắng” hay “ba trăm năm khóc” mang tên Nguyễn Du ra để lòe trẻ con văn nghệ). Lời Tựa bị cắt xén, sửa đổi này ở dưới ký tên “Lá Bối”, vì NH cũng không dám lấy tên của ông ta để ký mạo dưới bài viết, vì rõ ràng NH tuy là một nhà sư “biết viết văn” (hơn những nhà sư khác) nhưng ông không có khả năng để viết một bài như vậy (tôi sẽ có mấy dòng về tên tuổi này, để góp phần cho người đời sau có một cái nhìn đứng đắn & chính trực về nhân vật này. Nếu còn thì giờ!). Tôi đã phải mất nhiều dòng về NH chỉ vì người bạn tâm giao của tôi, anh BG đã mang một nỗi giận và bực tức đến nỗi chỉ cần nhắc đến hai chữ NH đó là anh đã mất quân bình tinh thần. Quả nhiên là tôi chưa kịp bày tỏ ý mình thì anh lên cơn điên ngay tức thì. Mặt anh đỏ bừng, mắt anh trợn lên và anh la hét chửi rủa “thằng Nhất Hạnh”. Tôi vội vàng trả tiền và kéo anh đi trở lại phía chợ TMG vì trẻ con đã bắt đầu tụ tập chung quanh. Tôi chưa bao giờ thấy ai mất bình tĩnh hay có thể lên cơn điên dữ dội như thế trong vòng vài giây đồng hồ, chỉ bởi vì một ý nghĩ (có thể là ngoài BG thì cũng có tôi chăng? Tôi có ý nghĩ này vì tự nhiên nhớ đến một lời nhắn nhủ của anh Giáng với anh em văn nghệ, viết trên một trang thơ của tập Thơ “Có hề chi vàng một chút rong rêu” của Phạm Nhuận (nxb Đồng Nội - Huế - 1975). Chuyện NH làm “sau lưng” anh, như thế là một chuyện rất quan trọng cho một người viết văn làm thơ, chưa nói đến một người trọng chữ nghĩa và lại vô cùng kiêu ngạo (rất xứng đáng) như BG.

Trên đường về chợ thì anh vẫn tiếp tục chửi rủa thằng NH với đủ các chữ, tôi không nhớ mà dù có nhớ cũng không ghi ra đây làm gì, vì đám tín đồ của NH rất nhiều, tôi không nên phiền hà đến. Một trong những cái hại của tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào đi nữa, là niềm tin của họ trong căn cơ làm cho con người ta trở thành quá khích và độc đoán. Niềm tin của mỗi người bắt buộc người ấy phải cho đấy là tuyệt đối đúng. Nghĩa là nếu ai tin khác đi thì người đó sai. Đó là một sự thật mãi mãi trong cuộc sống trần gian.

 

Về đến chợ TMG thì nhờ vào khung cảnh náo nhiệt ồn ào chung quanh anh đã hạ xuống cơn điên và có vẻ bình thường trở lại. Anh bảo tôi chờ chút ở hiên ĐHVH rồi anh đi đâu đó, biến mất không biết ngõ nào. Một lúc sau, anh trở lại cầm trên tay hai quyển sách dày, một quyển là “Ngày Tháng Ngao Du”, nxb An Tiêm, in xong tháng 9 năm 1971, nửa năm trước đó. Quyển sách kia là một tập sách chưa có bìa, chưa đóng gáy, và chưa cắt xén bờ giấy. Đó là quyển “Con Đường Ngả Ba” anh vừa mới lấy ra từ nhà in, mùi mực vẫn còn ngửi thấy được. Tôi xem bìa sau thì thấy đề trong impressum: in xong ngày 06 tháng 03 năm 1972. Sau này tôi ghi vào trang đầu tiên tôi dán thêm làm bìa cho tập sách dày đó: “giữa trưa chợ Trương Minh Giảng / ngày 13 tháng 03 năm 1972 / Bùi Giáng trao tay / nguyen chi trung”.

Anh trao tặng tôi cả hai tập sách đó. Trong tập “Ngày Tháng Ngao Du” anh có viết hai câu Thơ, viết xong anh đọc lại, có vẻ không vừa lòng, lại viết hai câu khác chồng lên. Sau cùng anh đóng ngoặc lại tất cả và gạch chéo xóa.

Tôi chia tay từ biệt anh với một ý nghĩ trong đầu chắc sẽ còn lâu mới gặp nhau lại, nếu còn gặp được nhau. Tình hình chiến tranh nam bắc lúc bấy giờ đã ở cao độ. Và tôi đã nhìn trước được sự việc gì sẽ xảy ra.

Nhưng cũng từ lần chuyện trò đó, và chứng kiến tận mắt cơn điên của anh, tôi nhớ mãi “mối hận, nguyên nhân” của sự việc khiến anh lên cơn điên. Đó là cái tên, hai chữ NH. Trong suốt những năm ở nước ngoài, ở Tây Đức, tôi vẫn mang trong tâm trí ý nghĩ nếu có một ngày tôi gặp NH, tôi sẽ nói chuyện với NH về vấn đề này và tôi nghĩ sẽ trả dùm Bùi Giáng, người bạn lâu đời, tâm giao tri kỷ của tôi, “mối hận” mà anh đã mang cả đời, chỉ vì sự bất chính của một người mang danh tu sĩ, của một người cầm bút là NH.

 

4. BG - NCT * Thư Tín

 

Trong đề mục “tác phẩm NCT” (ở những trang cuối bộ “BẢY LỜI” chẳng hạn) có đề danh sách những sách / Thơ chưa xuất bản của tôi. Có một quyển là :

                        “BG - NCT * Thư Tín”


Tôi sống ở Tây Đức từ năm 1967, một năm sau khi anh BG và tôi quen nhau 1966, anh Giáng lớn hơn tôi như đã nói là 22 tuổi, và sống ở VN, phần lớn thời gian nay đây mai đó, không có địa chỉ nhất định. Anh Giáng là một tên tuổi ở VN trước và cả sau 1975. Lúc mới quen nhau, tôi chỉ là một thanh niên trẻ tuổi, chưa có gì để gọi là “nhà thơ”, một danh xưng để những người sính làm văn nghệ gọi nhau hay tự xưng đông đúc như ngày hôm nay trong thiên niên kỷ mới. Thuật ngữ phật giáo gọi đó là “duyên”. Như tôi có lạm bàn trong chương viết về tôn giáo, thì đối với tôi, đó chỉ là một danh từ mang tôn giáo vào để giải thích những sự thể trong cuộc sống, và giải thích theo một thể cách là “không thể cãi lại được”, nghĩa là phi lý luận. Đối với một đầu óc triết học và hơn nữa một tinh thần có tính cách hoài nghi pyrrhon thì đó chỉ giản dị là một sự tình cờ, một sự trùng hợp, một sự ngẫu nhiên, một sự vô tình, một sự bất ngờ.

 

Cũng nên nhắc lại, cùng năm 1966 đó, tôi đã vô tình quen và chắp nối những tình bạn lâu dài bền bỉ với những người làm văn học nghệ thuật tăm tiếng lẫy lừng ở miền Nam như Phạm Thiên Thư, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An. Lúc đó, chưa phải do Thơ tôi viết, mà chỉ là những tình cờ may mắn mà thôi. Gọi đó là duyên, thì đó chỉ là một cách nói theo lý thuyết đã trở thành niềm tin tôn giáo, theo tôi có tính cách “gratuit”, không tốn kém gì hết, miễn phí hoặc không tốn tiền. Sau này đến khoảng năm 1972 là Tuệ Sỹ, sư Viên Minh, thi sĩ Hành Khoai Hoài Khanh là do Thơ, do triết học hiện sinh, do tư tưởng Heidegger và Thơ Hölderlin, là hai tên tuổi của nền văn triết học Đức, nơi mà tôi sống và chuyên tâm.

 

Về sau này, khi tôi về Hà Nội lần đầu tiên 1995 và quen biết với “sĩ phu Hà thành” trong nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm” - Văn Cao, Trần Dần -, kết bạn thân tình với các thi sĩ Hoàng Cầm, Lê Đạt thì tập Thơ “Trong Hồi Tắt Hơi” của tôi là “món quà” tôi (tự) giới thiệu. Sau khi thi đàn thế giới khám phá ra Thơ VN qua tên tuổi NCT tôi đã kết bạn với những thi sĩ lớn trên thế giới như Donald Hall (USA), Yves Bonnefoy (Pháp), Tomas Tranströmer (Thụy Điển) … và những thi sĩ khác, những kích thước quốc gia ở những quốc gia khác trên thế giới. Nhìn chung những sự việc đã xảy ra trong tương quan giữa NCT và thi đàn thế giới thì tôi có thể nói đó một phần là kết quả của những tình cờ may mắn, một phần lớn, là do những gì tôi đã viết ra thành Thơ trong suốt 65 năm tính đến nay 2026 liên lỉ viết.

 

Trở lại tình bạn giữa anh BG và tôi. Trong suốt thời gian của một tình bạn dai dẳng 32 năm (1998 - 1966) chúng tôi hai người đã viết thư cho nhau để chuyện trò qua không gian cách trở, nhất là từ sau 1975 cho đến lúc tôi trở lại VN lần đầu 1989. Trong khoảng thời gian khó khăn đó của một đất nước sau chiến tranh với một nền kinh tế kế hoạch kiệt quệ, cuộc sống cho mọi người đã trở thành một điều bất khả thể, thì cuộc sống của một thi sĩ với tình trạng tâm thần bất thường thường trực càng khó khăn gấp bội. Gấp bội chỉ vì không những về kinh tế, mà hơn nữa về tình trạng tinh thần. Trong giai đoạn này, sau 1975, tôi đang soạn luận án tiến sĩ và chuẩn bị đón một đứa con đầu lòng sắp sinh, đã chăm chỉ viết thư và gửi Thơ về cho anh đọc. Vì tôi biết, và cũng từ những lá thư anh viết gửi cho tôi là anh, BG, cần nhưng thư và Thơ ấy như thế nào để qua giai đoạn ấy. Tôi chỉ muốn nói là lúc ấy, tôi không hề thấy hoặc nghe anh hoặc các em anh (như anh Vịnh chẳng hạn) nói đến tên một người bạn nào khác, những người ở nước ngoài mà sau này lũ lượt trở về làm bạn với B.G.

Những lá thư BG và NCT đã viết cho nhau và những hình ảnh của một tình bạn lâu dài và âm ỉ dù xa xôi cách trở không và thời gian, từ những năm 1966 cho mãi đến sau này đến lúc BG mất (1998), tôi đã cho gom góp lại trong tập sách “Thư Tín” này. Tập sách này có thể sẽ cho xuất bản sau khi tôi mất, khi hoàn cảnh văn hóa nghệ thuật ở đất nước VN thích hợp. Chúng tôi là bạn tâm giao với nhau, vì những gì anh Giáng nói trong sách của anh viết ra, Thơ hay văn xuôi, hay nói trực tiếp trong những cuộc chuyện trò bàn luận, tôi đều hiểu rõ và trao đổi luận bàn với anh. Và ngược lại, những gì tôi viết trong Thơ tôi đã gửi cho anh, ngay từ đầu anh đã đọc ra và đã thâm hiểu chiều sâu của những câu Thơ “đơn sơ thâm thúy ngoài tưởng tượng của mọi thế kỷ xưa nay (nhất là nay)”.

 

Tôi chỉ tiếc một điều, cho anh và cho tôi, là tập Thơ cuối cùng của tôi mà anh được đọc, đó là tập “Thi Ca Ngoại Tập” xuất bản năm 1997 ở Hà Nội mà tôi mang về SG tặng anh và anh đã chăm chú đọc. Có một số hình ảnh chụp lại khoảnh khắc đó, khi chúng tôi ngồi với nhau trên căn vườn trước căn nhà của Nguyễn Thanh Hoài, anh đọc TCNT và tôi có mặt, ngồi im không nói một lời nào, tôi đã linh cảm được đó là lần cuối cùng chúng tôi còn nhìn thấy nhau, còn nói chuyện văn chương tư tưởng thế sự với nhau chăng?

Năm sau tôi được tin anh mất. Gần một năm sau tôi viết bài trường kinh “Bùi Giáng Chết Rồi”:


“Ngày mai Bùi Giáng chết rồi

Quả nhiên tôi chẳng còn người đọc Thơ”

 

Tôi tiếc là tiếc một điều duy nhất, một điều quan trọng cho tình bạn BG - NCT trên khía cạnh Thi Ca & Tư Tưởng, là BG không còn cơ hội để đọc những Thơ của NCT-già, những bài Thơ dài dằng dặc mà tôi gọi là trường kinh mà tôi viết trong tập hợp gọi là “TẠP THI”, bắt đầu vào năm 1998 (!). Nếu anh được biết đến những trường kinh đó, nếu anh được đọc tập hợp đó, dù chỉ một bài thôi, thì chúng tôi hai người sẽ còn tri kỷ đến mức độ nào! Viết đến đây tôi mới vô tình để ý đến con số 1998, là năm anh BG mất. Thật là một sự trùng hợp kỳ lạ ngay cả với tôi. Và một Nỗi Buồn Miên Viễn mà tôi mang trong hồn.

 

Trong vài lá thư anh Giáng có viết đôi lời về NCT. Những lời BG viết đó có những lời rất “thống thiết và trầm trọng”. Tôi chưa cho phổ biến tập sách đó vì lý do là sau khi anh Giáng mất, đã có bao nhiêu là người nhảy ra tự xưng là bạn thân nhất hay là quen biết BG v… v… và viết bài xưng tụng BG và kể lại những kỳ tích điên của anh. Hiển nhiên cũng có một số “bạn thật” của thời kỳ (Viện Đại Học) Vạn Hạnh chứ không phải là không, và rất nhiều người trong giới văn học nghệ thuật miền nam VN trước 75, những người chung quanh tạp chí VĂN.

 

Sau 75 vào thời kỳ VN “đổi mới và mở cửa” (cuối thập niên 80er) những người gọi là “bạn mới” khá nhiều từ nhiều nước ngoài khắp nơi kéo về, tụ tập chung quanh BG (và cả chung quanh Trịnh Công Sơn) rất là đông đảo, vì lúc bấy giờ chỉ có hai tên tuổi này của văn học nghệ thuật miền Nam VN là (còn) nổi tiếng và còn có mặt ở SG. Trước 1975, ít nhất từ lúc tôi quen biết anh Giáng (1966) thì tôi không hề thấy và biết có những người này, như đã nói ở phần 1. Phần đông những người bu quanh BG chỉ muốn được ... có mặt cho xôm tụ hay vinh danh, nhất là sau khi BG mất, lúc mà huyền thoại BG hình thành trọn vẹn.

 

Rất tiếc là không ai nói đến những gì đã làm BG trở thành Bùi Giáng! Đó là tác phẩm Thơ hay tiểu luận của BG! Không ai chú ý đến một việc  chính yếu và quan trọng ở BG: anh Giáng là một Thi Sĩ trước nhất và sau cùng. Theo tôi – nói bằng ngôn ngữ hàn lâm của ngày xưa – thì BG là một người hay chữ, một người thông minh đặc biệt và tài Thơ thật sự, nói ngắn gọn lại có thể gọi là một thiên tài đích thực của văn học VN ở thế kỷ 20, mà không thấy là quá đáng. Một thiên tài không thể và không phải đích thực là thiên tài chỉ vì đám đông hiếu sự hoặc không đủ trình độ để nhận ra đó là một thiên tài mà chỉ xông vào cổ vũ xưng tụng ồn ào. Không phải cứ gọi ai đó là thiên tài thì mình cũng được thơm lây, cũng “gần bằng thiên tài”. Chỉ ai có kiến thức rộng rãi, có tài năng thực thụ, có trình độ thẩm định …, nói ngắn gọn chỉ khi có kích thước thiên tài mới nhận ra thiên tài theo đúng nghĩa của nó.

Ở VN sở dĩ BG nổi tiếng không chỉ trong giới văn nghệ cùng thời với anh mà cũng trong dân chúng là nhờ vào những trò diễn điên khùng của anh hơn là vào Thơ BG. Sự việc đó chung quy cũng là vì chính anh. Chúng ta hãy thử tưởng tượng, cuối thế kỷ 20 xuất hiện một người hay chữ, một thi sĩ thiên tài, mà thi sĩ ấy lại chỉ để lại trong văn học sử VN một điều để nói: đó là những trò điên khùng mà ông bày và diễn ra!

Vì thế tôi không (hay nói rõ hơn nữa là chưa) cho phổ biến tập sách ấy, cũng vì những lời gì trầm trọng mà BG đã viết về NCT trong suốt thời gian ròng rã từ 1966 cho đến lúc BG mất, để khỏi bị mang tiếng.

 

Chỉ một thiên tài thật thì mới có thể thật sự nhìn ra một thiên tài. Còn những người tự vỗ ngực xưng mình là thiên tài, một cách thật ồn ào bằng những từ ngữ đao to búa lớn hay trộn Salade thơ với triết học hay vũ trụ càn khôn, những khái niệm lấy từ Phật giáo hay siêu hình học  … hay chứng tỏ mình đặc biệt hơn nữa với những chữ tục tĩu thì có nhiều và khắp nơi, không chỉ ở cái xứ sở VN là nơi chỉ có tiếng trên thế giới trong thế kỷ 20 là “nhờ vào” cuộc chiến tranh đẫm máu. Những “khả năng” lớn lối nhưng thật ra rất ấu trĩ như thế không có giá trị gì thật cả, vì nó không còn ầm ĩ như lúc mới xuất đầu lộ diện nữa, mà trở thành lố bịch hay trò cười cho trẻ con đã trưởng thành sau một thời gian không dài.

 

5. Chuyện Điên

 

Ai cũng biết, thấy hay nghe nói hay lập lại những gì đã nghe, là BG điên. Nếu chưa hay không biết thì cũng nói BG điên cho thời thượng, hợp tình hợp cảnh, nhất là khi tham gia vào “thương hiệu BG”.

Thiết nghĩ tôi nên bày tỏ những ý nghĩ của mình về chuyện này, vì dù sao anh và tôi cũng có một quá trình tình bạn lâu dài, tuy là không có sống cùng nhau một thời gian dài hay ngắn, nhưng anh và tôi đã đã liên lạc thư từ đều đặn, tôi đã có mặt trong những tháng ngày thiếu thốn vật chất và khốn đốn tinh thần của anh, những ngày mà những người “bạn mới” sau này chưa có, chưa xuất hiện. E. Cioran đã nghĩ và cho rằng chỉ “qua / trong thư từ người ta có thể tìm ra sự thật của một tác giả hơn là qua tác phẩm. Tác phẩm rất thường là một cái mặt nạ”. Ở BG những tập Thơ đầu tiên của anh xuất bản trong những năm 50 - 60 er là những tập Thơ sẽ còn đánh dấu một thời kỳ mới của nền Thi Ca VN. Sau những tập Thơ mỏng đó là những tập sách (văn xuôi) có thể gọi chung là triết luận. Tôi không biết ai ở VNCH xưa kia và ở VN hiện nay đọc những tập sách như Con Đường Ngả Ba, Ngày Tháng Ngao Du. Lễ Hội Tháng Ba, Lời Cố Quận, hay tập Thơ của cõi điên manh nha bắt đầu như Sa Mạc Phát Tiết .. Sau cùng về tuổi già, những bài thơ anh viết phần lớn đều là thơ vui và đùa giỡn, tuy đôi khi có chen vào những câu chứng tỏ là anh có bận tâm và có suy tư về những chuyện đó trong cõi nửa điên nửa tỉnh của anh. Có một lần tôi hỏi anh về những tập sách triết luận của anh, anh đã cười và nói với tôi: “anh đọc làm chi những sách đó, tôi nói tầm bậy mà ….”. Một lần khác anh thú nhận có công kích Trang Tử, đó là một điều “đáng sửa chữa”, một lần khác, anh có công kích Saint John Perse, “một điều đáng tiếc … “ (đối với anh).

 

Những năm tháng khó khăn đó (sau 1975) không chỉ cho riêng anh, mà cho cả nước, khi đất nước sau chiến tranh đã lâm vào tình trạng kiệt quệ ở mọi bình diện, trầm trọng nhất là về kinh tế. Cho đến lúc VN mở cửa theo chiều hướng Glasnost và Perestroika của Gorbatschow thì vào năm 1989 tôi về nước lần đầu tiên trở lại sau lần đầu 1972. Sau năm 1989 đó tôi về SG rất thường. Mỗi lần về SG tôi đều có tìm gặp anh cũng như là đến chơi với TCS, kể cả TS sau khi TS được tự do và về trú ngụ tại SG. Trong thư từ hay lúc gặp nhau, chúng tôi trao đổi những gì vốn vướng bận không ngưng trong đầu óc: đó là chủ đề Thi Ca và Tư Tưởng, nhất là trong thời hiện đại (của lúc đó). Tôi nói cho anh biết về trình độ tư tưởng, dùng chữ này thì có phần quá đáng, đúng hơn là trình độ đầu óc, ít nhất là ở Âu châu, của giới trí thức mà tôi vẫn hằng theo dõi, và về thơ trên thế giới, ít nhất là ở những quốc gia kỹ nghệ (tiền công nghệ) như Hoa kỳ, Anh Đức Pháp. Tôi có thông tin và bàn luận với anh về cuộc phỏng vấn duy nhất của Rudolf Augstein chủ biên tạp chí Der Spiegel (1966) thực hiện với Heidegger và cái nhìn của tư tưởng gia Heidegger về kỹ thuật, và về tương lai của nhân loại. 

 

Quả nhiên anh Giáng có máu điên trong người. Sự việc này tôi được người nhà anh, một người em kế anh (Bùi Văn Vịnh) lúc anh Vịnh còn ở VN xác nhận. Sau khi anh Vịnh và gia đình sang Mỹ sống, vợ chồng anh Vịnh đã sang Đức thăm tôi, đã liên lạc thân tình với tôi xác nhận việc BG điên là do di truyền. Con trai anh Vịnh, một thanh niên vừa tốt nghiệp ở New York City Ballet, đã sang Stuttgart và sống với gia đình tôi một thời gian trong khi tìm việc làm ở một đoàn Ballet của Đức quốc. Dĩ nhiên tôi không có chứng cớ hay giải thích bệnh lý của anh trên cơ sở y học. Theo lời anh kể, cả những bác sĩ tâm thần của bệnh viện Biên Hòa (nôm na là nhà thương điên B.H.) cũng không hề xác nhận là anh điên, ít nhất có bệnh lý của một người điên. Và vì tôi là một người (chỉ) viết Thơ, nghĩa là không có kiến thức và luận cứ chắc chắn hay không chắc chắn của di truyền học, tôi chỉ có thể nói những ý nghĩ, cảm nhận và kinh nghiệm của riêng mình, như đã nói với tư cách một người bạn.

 

Theo tôi, sự vụ điên của anh, ngoài nguyên do di truyền nhiều hay ít, ngoài sự việc quan trọng trong đời anh là anh đã mất phần lớn những gì anh viết trong vụ cháy nhà cháy bản thảo thì phần lớn nhất, phần quan trọng vì chính yếu, là có nguyên nhân ở sự vụ “hiểu & đả thông” giữa nhân vật lịch sử BG (BG dù sao thì đã là một tài nhân trong lịch sử văn học VN hậu bán thế kỷ 20) và thời đại của ông. Có nghĩa là sự việc communication giữa BG và cõi người ta chung quanh anh đã không có trong ý nghĩa tận cùng của nó. Nói giản dị hơn là: người đời không thể nào tiếp cận được, không thể nào hiểu được những gì BG nói, viết, bày tỏ qua chữ nghĩa của anh, qua thơ văn của anh, qua những điều anh ẩn dụ trong Thơ anh, qua những gì anh nói đến trong những tập tiểu luận triết học của anh, qua cuộc sống rất khác thường của anh. Tất cả những gì BG đã “làm” và không làm, viết, làm trò điên và điên thật, cuộc sống hàng ngày của anh, lang thang nay đây mai đó, đầu đường xó chợ, ăn và ngủ trong nghĩa địa (con anh Vịnh khi ở trong nhà tôi, có về VN tìm gặp anh Giáng trong … một nghĩa địa, kể lại) đã tạo thành con người BG. Con người thời đại, kể cả những người thuộc giới văn học nghệ thuật của VNCH, vì không đủ trình độ & kiến thức để có được một communication với anh nên đã căn cứ vào cuộc sống bất thường của anh, và qua đó góp phần dựng nên huyền thoại BG. Ai đã có đủ ngôn ngữ Đức (lúc bấy giờ) để đọc và hiểu Heidegger, ai đã đọc và cảm thấu được Thơ cũng của một thi sĩ điên là Hölderlin? Người nào khá lắm là cũng chỉ đọc và hiểu được triết học của Kant, Hegel, thơ của Goethe hay Schiller, những tên tuổi bậc nhất của văn học Đức.

 

 

Đó là do sự cách biệt giữa những đầu óc của hai bên quá xa, không thể nào có một sự đả thông, đồng cảm hay hiểu. No communication. Cuối cùng đó là một cảnh sống cô đơn tuyệt đối. Nó khác với bệnh Alzheimer vì ý thức và ý nghĩ vẫn còn tồn tại, trong khi bệnh nhân Alzheimer không có nữa (như trường hợp một người bạn Thơ khác của tôi, Phạm Thiên Thư). Vì không có communication với thế giới loài người chung quanh, cõi người ta, vì cuộc sống cô đơn tuyệt đối, vì sự suy tưởng làm cho người suy tưởng buồn rầu, nên BG hay lên cơn điên, mỗi khi có một sự việc gì khiến anh cảm thấy là người đời, từ những người có đầu óc kích thước học giả đến những người làm văn nghệ, “già đầu hay đầu chưa ráo máu” (chữ của BG) bày tỏ sự ngu xuẩn, hạn hẹp do kiến thức không có hay chật hẹp mà chữ nghĩa oang oang ồn ào. Nhất là khi những tay này bàn luận lăng nhăng về Nguyễn Du mà anh đã nhiều lần không tiếc lời mắng chửi.

 

Điều thứ hai để nói là: anh không thích nghe ai “cãi lại”/ khác ý với những gì anh nói. Nếu trong một nhóm bạn văn nghệ tụ tập mà có người phản biện về một điều gì anh nói hay thảo luận với anh với một quan điểm đối ngược, thì anh sẽ không nói gì, cúi mặt xuống cười (khinh bỉ)… Và sau cùng anh đứng dậy bỏ đi, không nói bất cứ lời gì nữa. Nhưng với tôi thì khác. Chúng tôi trao đổi với nhau chung quanh chủ đề Thi Ca & Tư Tưởng trong tương quan Heidegger - Hölderlin rất thường, cũng như trao đổi về Trang Chu và những gì Trang viết trong Nội Thiên của Nam Hoa Kinh, vì tôi đã bỏ khá nhiều thì giờ cho những tư tưởng của Heidegger qua những quyển sách đồ sộ của ông về triết học, và qua tất cả những khảo luận suy tưởng về nguồn Thơ gọi là Thi Dựng của Hölderlin trong những tập sách dày mà tôi có đủ. Trang Chu và Nietzsche và triết học Đại Thừa cũng là những đề tài chúng tôi trao đổi. Trong suốt hơn nửa thế kỷ sống ở Đức quốc, tôi đã để ra khá nhiều thời gian để tiếp cận những tư tưởng triết học của Hy Lạp và La Mã, của Ấn Độ và những dòng triết học & xã hội học cận đại (sau thế chiến II - WW II).

Trong nhiều lần nói chuyện có nhiều lúc tôi nói ý nghĩ khác biệt của mình và anh đã nổi nóng, nhưng thường thì anh to tiếng chứ không lên cơn điên như lần anh nhắc đến tên NH.

 

Chỉ có một lần duy nhất, anh lên cơn đáng kể. Một lần sau khi từ Đức về SG tôi đến gặp anh. Anh lôi tôi rời nơi anh ngụ, đi ra đường, nhảy lên xích lô, kéo tôi lên cùng ngồi và nói “đi”. Hai người chúng tôi ngồi vắt vẻo trên xe, chạy giữa trưa SG nắng nóng. Sau một lúc lâu tôi mong cho xe ngừng, nhưng tôi để anh xử sự vì tôi ở nước ngoài về, muốn “ở / đi chơi” cùng anh. Trong lúc xe chạy thì hiển nhiên là mọi người chạy xe chung quanh nhìn vì thấy một cảnh tượng lạ là hai người kỳ lạ ngồi cùng xe xích lô; hai bên đường khu anh ở, hàng xóm cũng nhìn, trẻ con chạy theo reo hò dĩ nhiên. Rồi bất thình lình như thường lệ, anh đưa tay kêu “thôi ngừng”. Xuống xe anh dĩ nhiên là không để ý chi đến chuyện trả tiền, kéo tôi vào một quán cà phê bên đường, và chúng tôi ngồi vào bàn gọi nước uống. Tôi có nhờ chụp hình chúng tôi trong quán này khi cùng ngồi nói chuyện với nhau. Tôi chỉ muốn kể là lần ấy tôi đã nói một điều gì đó khác ý anh (mà tôi không nhớ) khiến anh nổi giận thật sự. Anh đưa nắm tay ra, la lên: “ngài ngạo mạn với ta, ta đánh cho ngài một cú!” (tôi không rõ chữ “ngài” anh lấy ở đâu ra, lúc bấy giờ đã xuất hiện lối nói phong kiến này như bây giờ (những năm 2020 er) chưa, vì dưới thời VNCH tôi chưa thấy ai nói như thế bao giờ, dù để xưng hô với tổng thống hay với một vị cao tăng của Phật Giáo hay ai có quyền cao chức trọng đi nữa …). Tôi phải  ngồi xa ra một chút để lỡ anh có đánh cũng không trúng tôi. Anh vẫn cung tay và la lối. Tôi nghiêm nghị nhìn thẳng vào mắt anh và bình tĩnh trả lời “anh không được đánh tôi”. Anh gườm gườm nhìn tôi một hồi lâu và sau đó anh yên trở lại. Chúng tôi tiếp tục chuyện trò. Sau đó chúng tôi lại đi cyclo trở về nơi anh cư ngụ, nhà của một người thân trong họ, ở một hẻm gần chùa Già Lam.

Lý do thứ ba làm anh điên là … nỗi buồn, l´ennui, le cafard, la trístesse.

 

(Sau này, sau khi viết trên mười trường kinh chung quanh “Buồn”, tôi mới biết ra và gọi đó là Nỗi Buồn Miên Viễn). Có một lần tôi đến tìm anh nơi nhà một người trong họ mà sau những ngày tháng lang thang (anh gọi là Ngày Tháng Ngao Du) anh thường về cư ngụ cho đến cuối đời (ngõ 482 Lê Quang Định), anh không có nhà. Người nhà đi tìm trong những hẻm ngõ ngách ở khu vực anh sống. Một lúc sau anh về, đầu bịt một khăn trắng, rướm đầy máu đã khô. Trông thật là thảm não. Tôi hỏi anh. Anh buồn bã không nói. Người nhà nói với tôi là anh điên, gây lộn hay cãi nhau với đám trẻ con & thanh niên du côn trong xóm, bị chúng đánh và dùng gậy đập vào đầu anh rất nặng … máu me đầy mặt, phải băng bó lại …

Một lúc lâu tôi lại hỏi anh: “tại sao anh phải làm như vậy?”. Anh nhìn tôi ngao ngán nói: “buồn quá!”. Chỉ nghe anh nói chừng đó thôi tôi đã hiểu ra rằng sự cô độc, sự bất khả thể của việc giao thoa & đả thông với thế giới chung quanh cùng với sự bất mãn với những gì ngu xuẩn của con người trần thế … và cuối cùng một nỗi buồn mà chỉ những thiên tài có linh hồn mẫn nhuệ mới cảm thụ được, tất cả những cái đó đã làm cho anh trở thành điên (chưa kể đến lý do di truyền của y học). Và vì thế anh đã phải có những “trò điên” để giải thoát chính anh ra khỏi vòng cương tỏa của số phận. Hölderlin, Rimbaud, van Gogh … cũng đã có những số phận bi thảm tương tự. Tất cả những thiên tài này, chúng ta không thấy có một người phụ nữ nào bên cạnh đồng hành, nếu có thì chỉ còn là cái bóng cái hình của một người đã qua như trong trường hợp Hölderlin (Diotima). Tôi đi đến nhận định: thiên tài mà không có đàn bà thì hầu hết điên loạn.

 

Đó cũng là tính cách của bọn thiên tài thật sự và có ý thức về mình. Tâm lý này của bọn thiên tài thì người bình thường có thể hiểu và nên hiểu được: giữa thiên tài và người thường, nói cho cùng, quả nhiên không có mẫu số chung, không có cơ sở nào để hiểu nhau, thông cảm nhau. No communication. Giữa những người bình thường với nhau, hơn nữa giữa những người làm văn học nghệ thuật, những nhà văn nhà thơ, những nghệ sĩ … vốn đã không có hay hiếm có communication thì giữa thiên tài và người không có tài thì càng không thể có một mẫu số chung nào nữa, dù mẫu số chung này chỉ là một điểm tiệm cận rất nhỏ.

Tại sao?

Thiên tài là gì? Ai là thiên tài?

 

(Ghi chú: một người bạn già của tôi, hơn tôi 25 tuổi, thi sĩ Pháp Yves Bonnefoy có một bài viết tựa đề là “Melancholie, Wahnsinn, Genie - Poésie” (Nỗi Buồn, Điên loạn, Thiên Tài - Thi Ca). Rất tiếc tôi chưa được đọc bài viết này nên chưa bàn luận gì được khác ngoài những ý nghĩ vốn đã hình thành theo thời gian của tôi)

 

6. Thiên Tài

 

Thiên tài trước nhất có nghĩa giản dị là tài trời, tài năng Trời cho. Một tài năng xuất chúng, một tài năng Trời phú, nghĩa là vô tội, sinh ra là được như thế (về câu chuyện này, sẽ nói ở một chương khác).

Như vậy thiên tài là một loại người có những điểm đặc biệt sau đây. Những nhận định này là của riêng tôi qua quá trình suy nghĩ và kinh nghiệm bản thân.

 

Trước nhất họ là những người vốn đã có tư chất thông minh hơn bình thường ngay từ lúc còn là con trẻ. Dĩ nhiên trẻ nào thông minh không bắt buộc trở thành thiên tài sau đó. Số này rất hiếm và không thể xác định điều gì có tính cách thống kê chính thức được về sự có mặt của thiên tài ở trần gian. Một xứ sở chỉ có thể sinh ra một nhân vật thiên tài sau nhiều thế kỷ nếu có, và điều đó cũng không chắc chắn sẽ có và phải có. Và đặc điểm của một thiên tài là nó không thể được “tạo thành”, dù có dạy dỗ & đào tạo bằng bất cứ chương trình giáo dục nào hay bất cứ một bậc thầy nào đi nữa! Một đặc điểm nữa là không có thiên tài tập thể hay tập thể thiên tài. Những xã hội mang danh hiệu theo một chủ nghĩa nào đó vì giáo điều bắt buộc họ phải phủ nhận ý niệm “thiên tài”. Những phủ nhận ý niệm đó chỉ nói lên sự yếu kém hay không thành thực của trí thức.

 

Sự thông minh đầu óc và tài năng thiên phú sẽ dẫn đến sự thông tuệ và mẫn tiệp về lĩnh vực chính mà họ làm trong đời họ, những thành quả đạt được có ý nghĩa cho nhân loại trong nghệ thuật hay khoa học, ở đây chúng ta có thể nói thêm kể cả lĩnh vực tôn giáo. Để thí dụ tôi giới hạn về lĩnh vực nghệ thuật, chẳng hạn Mozart về âm nhạc và Rimbaud về Thơ. Về Mozart thì không cần phải nói gì nữa. Về Rimbaud thì cái điều làm chúng ta ngạc nhiên là nhận thức: một thanh thiếu niên trẻ tuổi mà đã có một ngôn ngữ với những từ ngữ phong phú như thế, tài năng diễn đạt tinh tế và tinh hoa phát tiết đến độ sau đó đã trở thành một suối nguồn cạn kiệt … thì quả nhiên đó là một thiên tài Thơ trẻ tuổi như thế xưa nay chưa hề xuất hiện ở trần gian, và có lẽ sẽ không bao giờ có một thiên tài trẻ tuổi như thế nữa trong nghệ thuật Thi Ca, trong một ngôn ngữ đẹp như tiếng Pháp. Đó là thiên tài trẻ tuổi duy nhất về Thơ. Trẻ con có khiếu xếp vần làm thơ thì có, nhưng trí tuệ và kiến thức thì không và ngôn ngữ chữ nghĩa cũng không. Vỏn vẹn xưa nay chỉ còn lại mỗi tên tuổi của thiên tài Shakespeare. Về sự vĩ đại của Shakespeare thì nhà văn Pháp Alexandre Dumas đã nói một câu xác định: “sau thượng đế thì chỉ có Shakespeare là sáng tạo nhiều như thế”. Câu này James Joyce trích lại trong quyển tiểu thuyết Ulysses của ông.

 

Sự việc này không có nghĩa là ngược lại những người có một khả năng đặc biệt về nghệ thuật thì cũng có một sự thông minh đặc biệt. Hay một người thông minh đặc biệt thì cũng là một người làm nghệ thuật, một nghệ sĩ siêu việt.

Sự thông minh cao độ thường dẫn một thiên tài đến một trí tuệ rộng, một kiến thức sâu và bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau, vượt xa mọi kiến thức bình thường mà mỗi người có hay đạt được trong cuộc sống của họ. Sự khác biệt quá nhiều ở trình độ, sự việc “đi trước thời đại” là nguyên do sâu xa của hiện tượng: sự cô đơn tuyệt đối và tính cách bi thảm của một số phận thiên tài.

 

Cái sự khác thường, trí tuệ và khả năng vượt trội quá nhiều và quá xa mức bình thường dẫn đến sự việc không có mẫu số chung với chung quanh, không có communication với thế giới “bên ngoài”. Làm sao có một sự đả thông giữa hai trình độ đầu óc quá khác nhau, quá xa nhau? Thiên tài thì hiểu những gì người thường nói hay chưa nói. Nhưng ngược lại những gì thiên tài nói, ít người lĩnh ngộ. Những người thiển cận lại còn cười thương hại. Cô đơn, cô độc, cô quả là số phận tuyệt đối của những thiên tài, đã được định trước. Linh hồn của nó tiếp nhận, mang theo và truyền đời Nỗi Buồn Miên Viễn. Đó là cái giá nó phải trả trong cuộc đời thường là bất hạnh và đầy đau khổ của nó, dù muốn hay không vì nó được (hay bị) một món quà Trời tặng là một đầu não thông minh bất thường và một khả năng sáng tạo xuất chúng.

Giản dị mà nói: nó thông minh, tài năng tuyệt đối như vậy, thì nó phải chịu cô đơn tuyệt đối. Và kết quả là nó có một cuộc sống đau khổ, thường lại là bi thảm. Có lẽ đây là cán cân thăng bằng của Trời Đất, nếu chúng ta dùng chữ này để tránh những thuật ngữ sinh ra từ những phạm trù thông dụng của Phật giáo.

 

Còn một đặc điểm nữa của bọn thiên tài. Đó là nó thường làm một việc gì lớn, một việc có nghĩa và có tầm ảnh hưởng đến nhân sinh và thế giới, một việc mà nếu không xảy ra hay có hiệu lực ngay trong thời đại nó sống thì cũng sẽ ở thời đại sau khi nó biến mất, không sớm thì muộn. Chữ “thiên” trong hai chữ thiên tài đã nói lên sự vụ này trước tiên: vì khả năng thiên phú như thế, vì món quà đặc biệt mà ngay từ đầu Trời Đất đã trao, thiên tài thường tự cảm thấy là qua đó nó phải có một nhiệm vụ khi xuất hiện ở Mặt Đất này. Ý-thức-về-mình của thiên tài trong cặp mắt bình thường bị người đời gọi là mặc-cảm-tự-tôn. Nhưng cũng nhờ vào ý thức rõ rệt về sứ mạng, về trọng trách của mình mà thiên tài kiên định làm những việc mà nó muốn hay phải làm, qua đó (có khi) hoàn thành những tác phẩm nghệ thuật giá trị cho nhân loại trong cuộc sống trần gian mà thường thì mãi về sau người đời mới khám phá ra hoặc ý thức được. Nhưng cũng có khi thiên tài không ý thức rõ rệt về sự việc đó.

 

Tôi kể thêm một chi tiết nhỏ cho rõ nghĩa: có một lần anh BG hỏi tôi nghĩ gì hay nói gì về Phạm Công Thiện? Tuệ Sỹ sau này cũng có hỏi tôi một câu tương tự như thế về PCT trong một lần tôi đến thăm anh, tôi không nhớ rõ là lúc nào và ở đâu nữa, Chùa Già Lam hay nxb Hương Tích. Tôi trả lời BG và sau đó TS (hai trường hợp riêng biệt nhau, nhưng đều có một câu hỏi tương tự nhau) đại khái như sau: Thiện hiển nhiên là một người thông minh, có đầu óc thiên phú từ lúc trẻ. Và là một người đọc sách khá nhiều, có kiến thức về văn chương & triết học (điều mà trong thời đại của google, Wikipedia và sau 2024 với AI Artificial Intelligence không còn cần thiết phải phô trương ầm ĩ nữa). Có điều đặc biệt là Thiện phải tự xưng mình là một thiên tài vì trước sau không có một thiên tài nào cùng thời với Thiện (ngoài BG) xưng tụng hay nhận ra tính chất thiên tài ấy nơi Thiện. Thiện không những tự xưng tụng mình mà lại là người có năng khiếu đặc biệt về một thứ ngôn ngữ đao to búa lớn, càng lớn tuổi Thiện càng có một ngôn ngữ huyễn hoặc nếu không muốn nói là mê hoặc, làm huyền ảo và mờ mịt những chuyện mình muốn nói … Một ngôn ngữ đã gây ấn tượng rộng trong giới trẻ của thời 60er (kể cả với tôi) mà cho đến bây giờ vẫn còn ảnh hưởng đến những người trẻ tuổi ở VN đang tập viết văn hay học triết và được nghe đến tên PCT của thời 1966er của VNCH. Tôi thiển nghĩ Thiện chỉ là một học sĩ, nghĩa là một tay đọc sách nhiều. Thiện tự xưng là triết gia, giáo sư đại học, nhà văn và nhà thơ, sau cùng là thiền sư (!) … Tôi xác định một câu với anh BG và TS như một lời minh chứng, là: “một nhà văn hay một thi sĩ có kích thước trong văn học thế giới, ít nhất phải có khả năng nói ra, để lại cho hậu thế một Lời, une parole, un bon mot, ein Wort trong ý nghĩa một sự thật, một chân lý (thí dụ như những bonmots của Oscar Wilde). Tôi không thấy một Lời nào của PCT được nói ra và để lại cho văn học”. Vì thế Thiện, như tôi đã xác định, chỉ là “một học sĩ”, cả đời làm nhiều trò gây tên tuổi tiếng tăm và vung vãi một cách ồn ào với chung quanh cái danh xưng (tao làm) thiên tài. “Tự khinh bỉ tất cả”, nhưng khi chết không để lại được cho đám dân ngu trần thế một cái bonmot nào cả! Anh BG đã gặt gù không nói chi về câu bình phẩm của tôi. Và anh TS cũng không nói gì.

Tuy nhiên trong lúc sống, Thiện đã được quần chúng VN ở Mỹ xưng tụng. Một tính cách thực thụ của những người thật sự không phải là, mà chỉ muốn làm thiên tài. Và cho những người trẻ ở VN muốn tìm hiểu, thì Thiện vẫn còn giữ được một chút huyền thoại.

 

Còn một người nữa cũng gây ồn ào không kém, cũng “nổi tiếng” không kém BG và PCT, là nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, tục gọi là Sơn núi. Trong không khí văn học của thời 60 er ở VNCH mà chủ nghĩa lãng mạn là sinh khí duy nhất thì bộ ba này đã được người đời xưng tụng là kỳ nhân, trầm trọng hơn nữa và dĩ nhiên là khôi hài hơn nữa NĐS còn được cho vào nhóm gọi là “tứ trụ thi ca của miền Nam”. Trong ý nghĩa này, tôi muốn nêu lên một niềm hồ nghi về hiện tượng BG: nếu không có sự vụ  nổi bật “BG điên” thì có khi Thi Sĩ BG sẽ đi vào lịch sử văn học VN (VNCH) sau này với những tập Thơ đầu tiên, mỏng mà rực sáng của đầu thập niên 60 với một bước chân lớn cho nên thi ca VN. Ở đây tôi nói rõ một điều là lúc bấy giờ cái không khí của chủ nghĩa lãng mạn cổ điển trong văn học thế giới của thế kỷ 19 qua ảnh hưởng của văn học Pháp vẫn còn tồn tại ở miền Nam VN trước 1975, tuy thực tế là chúng ta đã sang hậu bán thế kỷ 20. Cho đến nay, nửa tiền bán thế kỷ 21, trong văn chương VN chủ nghĩa lãng mạn của thế kỷ 19 vẫn còn sống động trà trộn chung với cái không khí nặng nề đầy áp lực của hiện thực xã hội chủ nghĩa vốn đã được đặt để lên văn học miền bắc VN kể từ 1945. Sau 1975 văn học miền Bắc VN choáng váng và bỡ ngỡ trước những giá trị nhân bản của văn học miền Nam. Ngày hôm nay, văn học VN ở vào tình trạng không-định-hướng.

 

Trở lại chuyện BG thì Thơ anh là một dấu hiệu của những bước đầu thoát ly chủ nghĩa lãng mạn hiện hành trước 1975 trong văn giới miền nam VN. Thơ BG được nhiều người yêu thích dù “không hiểu” vì ngôn ngữ Thơ của BG mới lạ, không còn là ngôn ngữ thường được xử dụng của những nhà thơ vẫn tiếp tục làm thơ trong ngôn ngữ cũ dù không ý thức được sự vụ đó. Tôi sẽ còn trở lại trong một dịp khác, khi bàn về Thơ Việt.

 

7. Thơ Bùi Giáng

 

Tôi không viết một bài khảo luận về Thơ BG mà chỉ có ý định bày tỏ một ý nghĩ, a critical note, một nhận xét có tính cách phê bình, nhưng không phải phê bình Thơ.

 

Thơ BG lúc xuất hiện ở SG (Mưa Nguồn xuất bản năm 1962) đã gây một tiếng vang ở miền Nam VN. Những tập Thơ sau đó của anh đã tỏa rộng và đặt để BG vào một chỗ đứng đặc biệt trong thi đàn VN. Lúc ấy vẫn còn những cách điệu & ngôn ngữ vốn đã có từ xưa, một phần lớn vẫn bám giữ hơi hám thơ Đường, và trong căn bản & nội dung vẫn thuộc về cái mà văn học thế giới xác định và xếp loại là chủ nghĩa lãng mạn. Đó là vào giai đoạn đầu tiên của thời “BG trẻ”, lúc anh sinh sống lang thang ở SG và cả ở miền Tây. Có nghĩa là thời kỳ anh chưa phát huy cái điên của mình, còn có thể viết những bài Thơ mà cho đến bây giờ (2026) những người hâm mộ BG vẫn nhớ trong ký ức và hay kể ra mấy câu. Tôi liệt kê dưới đây những tập Thơ của thời kỳ “BG trẻ” mà tôi có trong thư viện của mình như một trong nhiều kỷ vật của một người bạn tri kỷ:

 

Lá Hoa Cồn - Lá Cồn xuất bản – tháng 8 - 1963

Ngàn Thu Rớt Hột – Lá Cồn xuất bản – tháng 9 - 1963

Màu Hoa Trên Ngàn – Lá Cồn xuất bản – tháng 11 - 1963

 

Khi sống ở SG anh dĩ nhiên là tham gia vào giới văn nghệ. Sau một loạt những tập Thơ xuất hiện đầu thập niên 60er anh bắt đầu viết những bài khảo luận và những bộ sách gồm những lĩnh vực chung quanh vấn đề Thi Ca & Tư Tưởng, nêu lên bởi nhà tư tưởng Đức Martin Heidegger trong khá nhiều sách viết về Thi Ca, về ngôn ngữ và về nguồn Thơ tôi gọi là Thi Dựng của thi sĩ Đức Friedrich Hölderlin. Anh đặt để thi sĩ VN là Nguyễn Du vào cùng một phương trời với Hölderlin và soi rọi diễn giảng bình luận … qua những đoạn dịch giải của Heidegger về Thơ của Hölderlin. Qua sự việc này ngoài nội dung những Thơ của anh, thì ngôn ngữ mới lạ đã cho thấy một cách thật rõ ràng sự khác biệt hoàn toàn với giới làm thơ cùng thời đại ở khắp miền nam VN.

 

Trong thời gian này anh cũng dịch khá nhiều văn xuôi của các tác giả Pháp quan trọng của thời ấy như Albert Camus, André Gide và cả những kịch phẩm của Shakespeare. Qua những dịch phẩm đó anh cũng bày tỏ quan điểm của anh về vấn đề dịch Thơ, một vấn đề miên viễn của câu chuyện ngôn ngữ trần gian. Tôi chỉ viết sơ lược về những việc làm của anh trong thời gian đó để đánh dấu là qua đó anh đã bước vào một giai đoạn mới trong đời anh, là giai đoạn “sa mạc phát tiết”,  BG “phát tiết cơn điên”. Trong giai đoạn này cho đến cuối đời, sau khi đã viết rất nhiều văn xuôi (tôi gọi thế để chỉ tất cả những sách mà anh viết không phải là Thơ), anh trở lại chỉ còn làm Thơ, những bài thơ ngắn, viết và vất rải rác trên bất cứ tập giấy nào mà anh có hay tìm thấy được, nhất là trong thời kỳ VN sau 1975, chưa hay vừa mở cửa, tập giấy vàng tiêu biểu của thời kỳ kinh tế thiếu thốn.

Và những bài Thơ này anh viết với một ngôn ngữ khác, không phải, không còn là “phiêu bồng phóng dật” (chữ của chính BG, mà được một số lớn người hâm mộ sử dụng) như ngôn ngữ của những ngày tháng trước giai đoạn cơn điên phát tiết. Và nội dung cũng cho thấy cái điên của anh. Rất nhiều khi giễu cợt đùa giỡn,và như thế anh đã nói những chuyện nghiêm chỉnh bằng sự đùa cợt, có nhiều bài thơ nói chuyện vu vơ … Những bài Thơ này đã được anh ký tên bằng những tên khác tên thật của chính mình. Có lẽ anh đã đạt tới quai nhai cảnh giới và nơi đó mọi sự vụ trần thế đã không còn được xem như là sự vụ trần thế của nửa đời về trước. Nó khiến người ta nhớ đến những bài Thơ của Hölderlin viết và ký dưới một tên khác (Scardanelli) trong giai đoạn điên, cũng là những bài thơ ngắn, khi trú ngụ trong một cái tháp nhỏ trong một ngôi nhà của một ông thợ mộc bên cạnh dòng sông Neckar chảy qua thành phố nhỏ Tübingen (thuộc vùng Schwaben, Đức quốc), kéo dài suốt 36 năm (1806 – 1843).

 

Trong quá trình của một tình bạn lâu dài, qua những lá thư mà cũng trong những lần gặp mặt cùng nhau chuyện trò (như đã viết, mỗi lần về VN tôi đều đến nói chuyện và trao đổi với anh, cũng như là đến chơi với Sơn hay thăm mấy người bạn khác, là năm người bạn duy nhất của tôi trong giới văn nghệ SG từ năm 1966. Tuệ Sỹ và sư Viên Minh tôi không nghĩ là người trong văn giới, tuy cả hai đều có “máu Thơ”) anh đã nói với tôi nhiều lần là sự vụ điên đã trở nên nặng nề và anh “mê tỉnh thất thường không còn đủ cốt cách viết …”, và “một trăm ông Nguyễn Du cứu vớt tôi cũng không nổi - bệnh Tẩu Hỏa Nhập Ma của tôi …”.

Tôi còn nhớ trong một lần nói chuyện tôi có đề cập đến Trang Tử và lời anh chỉ trích (“Trang Tử “khệnh khạng””) trong một quyển sách gồm những bài tiểu luận của anh thì anh có vẻ ngượng ngùng trả lời tôi: “tôi (BG) nói tầm bậy nhiều quá, viết nhiều sách tầm bậy quá, anh đừng để ý mấy thứ đó! …”

 

 

Chúng tôi cũng có nói chuyện với nhau về cái mà anh gọi là “Thơ Thiền” (có một người bạn FB cùng học Thiền với anh cho tôi biết anh có theo học thiền ở một vị sư nào đó tôi không nhớ tên). Đó cũng là danh từ của những người thực hành cái genre này dùng để gọi những thơ họ viết. Anh nói một cách khinh bỉ chế giễu: “làm gì có cái gọi là thơ thiền!!!”. Hóa ra đây không phải là một câu nói không có giá trị, mà chỉ những người nào đã có một thời gian “nghiên cứu hay thực hành” cái mà người đời xưa nay vẫn gọi là “Tu Thiền” mới có đủ nhận thức đúng đắn để xác định một lời như thế. Đó là điều làm tôi thích thú vì tôi vốn đã nghĩ như thế, sau một thời gian khá nhiều năm “làm việc với Thiền”. Hiển nhiên đã có những bài kệ để diễn tả hay biểu lộ cái mà những người tự xưng là thiền sư gọi là “thiền”. Và dĩ nhiên ta không biết hay cũng không thể trả lời cho câu hỏi “thơ là gì?” và vì thế “cái mà người hành thiền gọi là  “thơ thiền” hầu như thuộc về quyền tự do của mỗi người … Ý nghĩ của tôi một nỗi hoài nghi rõ ràng về “ý niệm thiền“, chỉ giản dị là thiền có mục đích là trống, rỗng, hư không, thái hư tịch mặc … mà thật ra trên bình diện sinh học, tôi được biết rằng trạng thái “tâm rỗng, tâm không” thì không thể có được, khi con người còn sống, đầu não luôn luôn sống, nghĩa là luôn luôn có nội dung vì luôn có tế bào, thần kinh và máu huyết hoạt động. Và khi não bộ có sự sống, thì con người luôn có ý nghĩ. Trạng thái “rỗng, không” là trạng thái không thể có. Nó thuộc về tưởng tượng, không phải là trạng thái mà một người có thể đạt được, dù qua tập luyện thân xác bằng cách nào đi nữa. Cũng tương tự như thế, các nhà văn, nhất là các nhà thơ, thường hay viết về hư vô, hư không … Thật ra trong vũ trụ này, vũ trụ vật lý, không hề có cái gọi là hư không hư vô. Trong tập sách mỏng “Siêu hình học là gì?” (1929) Heidegger đã nêu lên một câu hỏi quan trọng mà chưa có câu trả lời đích đáng: „Warum ist überhaupt Seiendes und nicht vielmehr nichts?“ tại sao lại có cái Có mà không phải là cái Không? (câu hỏi này thật ra bắt nguồn từ triết gia Wilhelm Leibnitz, Heidegger đã đặt lại trong một hình thái triệt để hơn).

 

Có lần tôi nói với BG: “anh tỉnh mà giả vờ điên, còn tôi điên nhưng giả vờ tỉnh”. Vì thế cũng đã có lần anh viết mấy lời về tôi, NCT, trên những trang của  một tập thơ mỏng của Phạm Nhuận là  “anh Trung … tính tình có lẽ cũng giống tôi xưa kia nghĩa là điên điên khùng khùng …”

Còn rất nhiều chuyện để kể, nhất là nhận định của anh về Thơ NCT trong liên hệ so sánh với Thơ BG. Như đã nói, tôi sẽ gom góp vào tập sách “BG - NCT * Thư Tín” và sẽ phổ biến sau khi tôi rời mặt đất. Lý do là vì tôi không muốn dính dáng gì đến cái phong trào, cái huyền thoại “BG” vốn đã bắt đầu được tạo dựng khi anh còn sống và đã toàn hảo sau khi anh mất, nhất là khi cái tên NCT trong văn giới VN trước và cả sau 1975 hầu như chỉ một số rất ít người làm Thơ là quen hay biết. Những bạn Thơ & Nhạc & Họa của VN hay nước ngoài (Pháp, USA) này đều lớn tuổi hơn tôi, có nhiều bạn như anh Giáng hay anh Hoàng Cầm lớn hơn tôi trên 20 tuổi, nên đều đã mất từ lâu.

 

Sau khi VN mở cửa thì một số người VN ở nước ngoài, phần lớn là những người rời VN đã lâu trước 1975, nôm na là Việt kiều trí thức, đã lũ lượt về làm bạn với BG và tụ tập quanh anh, làm anh cũng có thời gian hả hê và vui thú sau giai đoạn “thống khổ” của cuối 70 và gần hết 80er. Đó là những người “bạn mới” của BG. Thật ra tôi cũng không nên để dấu ngoặc kép cho chữ bạn, nhưng vì tôi không hề nghe anh nói hay nhắc đến tên hay biết / thấy họ, nhất là giai đoạn sau 75 kéo dài cho đến những năm 80er, khoảng thời gian mà cuộc sống vật chất của mọi người ở VN trải qua một giai đoạn vô cùng khó khăn vì kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh và anh cũng phải chịu đựng số phận chung của dân tộc và đất nước trong tình trạng nghèo đói khẩn trương. Tôi không nên, không được do dự hay ngần ngại mà cũng nên viết ra đây là trong suốt thời gian khó khăn đó, hầu như chỉ có tôi là người đã đồng hành cùng anh và đã chia sẻ, đã tương trợ anh trong khả năng hạn hẹp của tôi lúc bấy giờ, là tôi có đứa con đầu lòng và đang soạn luận án tốt nghiệp tiến sĩ kỹ sư  (1977, Viện Cơ Học của Đại Học Kỹ Thuật Stuttgart). Tôi đã viết thư và Thơ liên tiếp gửi về để “mua vui, chữa bệnh tẩu hỏa nhập ma” cho anh vì anh đã không còn nương tựa vào Nguyễn Du được nữa, một hồn Thơ của người muôn năm cũ đã đồng hành cùng anh và giúp anh sống trong suốt cuộc đời phiêu bồng phóng dật và vật chất khốn đốn của anh. Và tôi cũng không nên không nhắc đến việc giản dị là đã gửi tiền về để giúp anh sống (lúc bấy giờ không có phương tiện nào khác để gửi tiền trực tiếp từ Đức mà phải gửi vòng qua Pháp, qua ngõ gửi “thùng thuốc tây”, phải nhờ vã địa chỉ của nhiều người khác ở VN mà anh cho), mà đôi khi người nhận đã không giao lại cho anh, vì lý do là anh như thường lệ không có địa chỉ nhất định, hay nếu có tiền tôi gửi nhiều trong túi do anh được người ta giao lại thì chỉ sau một ngày long nhong ngoài đường thì cuối cùng cũng bị người khác lấy, móc hay cướp hết (lý do này những người họ hàng xa gần của anh đã nêu lên cho tôi khi tôi thắc mắc). Tôi nêu ra chi tiết nhỏ nhặt đó cũng chỉ để nói rõ sự thân tình giữa anh và tôi, một sợi dây nhỏ cùng chung với những mắt xích nối chặt do cả hai cùng tương ngộ với nhau trong Nơi Chốn của Thi Ca & Tư Tưởng đã được dựng lên bởi Hölderlin và do Heidegger triển khai và giảng giải trong nhiều bộ sách, trong niềm thâm cảm sâu xa linh hồn thăm thẳm của Nguyễn Du (trễ nhất là đến khi tập hợp “BG – NCT * Thư Tín” được phổ biến thì độc giả hay văn học sử VN sẽ biết thêm rõ ràng chi tiết).

 

Đến khi anh mất, thì có đông đủ mặt những người tự nhận là “bạn” của BG. Và hơn nữa đã có bao là tập sách viết ra, trong đó tụ tập rất nhiều người, văn hữu cũng có, mà cả những người chính mắt hoặc chỉ nghe thấy anh diễn trò điên ngoài đường cũng có. Tất cả rầm rộ xum xuê viết bài về BG, kể cả những người của văn học miền Bắc Tuy nhiên sau đám tang và sau khi các sách “về hiện tượng BG” đã qua đi và lắng xuống, những người “bạn mới của thời kỳ đổi mới”, một thời gian đã tụ tập chung quanh anh với những săn đón mời chào xôm tụ lúc anh còn sống, đã tuần tự và từ từ biến mất, trở về vị trí cũ của họ, như trong khoảng thời gian mà các bạn việt kiều này chưa quen chưa làm bạn anh, nhiều lắm là chỉ biết đến tên anh, và những dấu hiệu đi kèm với hiện tượng BG hoặc có đọc Thơ BG đã đăng đâu đó trong các tạp chí văn học của VNCH.

 

Hiện tượng này chúng ta đều đã thấy xảy ra khi những người có tiếng tăm tên tuổi của giới văn học nghệ thuật miền Nam VN lần lượt ra đi, từ BG dến TCS và sau cùng, vào năm 2026, là Phạm Thiên Thư. Cả ba cái chết này đều có chung những điểm sau: người ta, nghĩa là con dân thiên hạ VN, đều nhân cái chết của một người có tiếng tăm, dù tiếng tăm đến từ đâu, mà phải “lên tiếng, góp phần, có ý kiến, có tiếng nói” vào sự vụ này, bất kể người ấy - nhất là những người đồng bào ở miền Bắc VN lúc đất nước còn chia cắt (trước 1975) - xưa nay không hề có dính dáng hay biết đến tên tuổi gì của BG hay PTT. Vì kiến thức ngày nay trong thời AI không còn là kết quả thực sự của trí tuệ mà chỉ là kết quả rẻ tiền của AI - nơi quy tụ tất cả những dữ liệu thông tin hiện có về một đề tài - người ta có thể “viết một bài” về BG với đầy đủ những danh từ khoa học, chuyên môn (luân lý học, tâm lý học, phân tâm học, xã hội học, triết học …), hàn lâm, có tính đại học … để trình bày trong tập kỷ yếu 100 năm BG chẳng hạn, và những nhà văn nhà thơ … đã có hoặc cảm thấy vinh dự là đã góp mặt khi mọi người chung quanh vỗ tay rầm rộ hoan hô BG với một bài viết. Đấy cũng như 200 năm Nguyễn Du hay 200 năm Goethe, AI cũng có bài viết về. Rất may là anh Giáng đã ra đi. Nếu anh còn sống, tôi nghĩ rằng anh sẽ lên một cơn điên cực độ. Tôi nhắc lại nơi đây một lý do làm anh nhanh chóng trở cơn điên: “đó là sự ngộ nhận, sự không hiểu vấn đề và / hay không hiểu anh là một trong những lý do làm anh điên”. Tôi quả quyết sự vụ này vì kinh nghiệm riêng, và vì bao năm tình bạn chúng tôi đã rất hiểu nhau.

Tôi nghĩ đến lời cuối trong một lá thư anh Giáng viết cho tôi: “có lẽ họ chỉ tiếp nhận được qua loa những bài thơ nhảm nhí của Búi Giàng Bùi một cách rất mực là vu vơ cà chớn…”

        

8. Tình Bạn BG – NCT

Năm 1989 tôi về VN lại (lần đầu sau cuộc đổi thay 1975) và đi tìm anh. Đinh Cường (họa sĩ) đã dẫn tôi đến nơi anh đã sống những năm cuối đời mình, gần chùa Già Lam. Lần đầu tiên tôi đến địa chỉ ấy, đó cũng là thời kỳ anh bắt đầu có một chỗ thường trú, một chòi lợp lá trong khu vườn của một người trong họ hàng. Những năm 1980er tôi và anh chỉ có liên lạc thư từ với nhau. Qua những lá thư của anh, tôi được biết là anh sống không nhất định một chỗ nào mà nay đây mai đó, tôi đã phải gửi thư về các địa chỉ khác nhau, nơi những người đã “chứa chấp” anh, có người vì quý mến, có người vì lợi lộc. Trong những năm đó, tôi đã chật vật gửi tiền về giúp anh qua những địa chỉ mỗi lần khác nhau, như đã nói.

 

Trong một lần đến thăm và chuyện trò với anh trước căn chòi đó tôi có chụp nhiều hình. Lần đó có BG, Đinh Cường, Thái Bá Vân, Đỗ Quang Em và tôi. Và có những tấm hình chụp anh mặc áo cao bồi ngồi hút thuốc trong chòi lá rách nát, trên chiếc giường ngủ sơ sài của anh là những quyển sách dày và cũ. Lần sau cùng tôi đến “thăm anh” là vào năm 2019. Tôi có đứng trước tượng anh, cũng đặt trong khu vườn của căn nhà cũ trước kia, nghĩ đến những năm dài của một tình bạn tri kỷ dù tuổi tác cách nhau, kéo dài qua bao thăng trầm của lịch sử, và nghĩ đến anh một người đã đọc Thơ NCT sâu xa và tận cùng, nghĩ đến NCT không còn ai đọc Thơ mình gửi gắm tâm sự ý nghĩ … nữa, dù là một người duy nhất, tôi đã ngậm ngùi chảy nước mắt.

 

Trong lần cuối từ giã BG nơi chốn cũ đó, người nhà của anh (Thanh Hoài) đã có nhã ý gửi tặng lại tập Thơ mỏng, phần I của sử thi “THI CA” mà tôi đã cho in bản viết tay trên giấy đặc biệt, một lần nào đó trong những chuyến về VN đến trò chuyện với anh tôi đã trao tặng. Tôi cầm tập Thơ của mình trong tay, cảm xúc biết rằng anh đã đọc rất kỹ những dòng Lục Bát qua những ghi chú đầy dẫy từng trang trong đó. Tôi nhớ lại anh đã chép tặng riêng tôi và vợ hai tập Thơ, ngoài ra anh cũng đã đưa tôi giữ nhiều tập Thơ anh viết, mỗi trang thường là một bài Thơ. Tất cả những tập Thơ viết tay này của anh, anh đều có bôi xóa gạch bỏ nhiều câu anh đã viết ra. Tất cả đều là những tập vở dày mỏng khác nhau, giấy vàng ngả màu đen không phải vì đã trăm năm mà vì chất liệu in, dấu hiệu còn sót lại của một thời kỳ đói khổ sau chiến tranh. Lần nhận lại trong tay tập “Thi Ca (1)” của mình, tôi cũng nhận được những tập Thơ cuối đã in của anh trong khoảng thời gian trước đó (2019) từ tay của Thanh Hoài, người đã chứng kiến một đôi lần tôi đến chơi với anh trước khi anh mất, kể cả một lần anh nổi giận ra mặt vì tôi đã khác ý anh trong một cuộc trò chuyện.

 

Khi nghe tin anh mất, tôi đã biết mình mất đi một người bạn tâm giao, sau này nữa tôi biết thêm là tôi cũng đã mất người duy nhất đọc được Thơ tôi. Nếu BG đã tiếp nối con đường mà Nguyễn Du đã khai mở và đã đi qua, và hôm nay anh cũng đã ra đi, và trước khi đi anh đã có một lời nhắn nhủ với giới làm thơ về NCT … thì tôi cũng có bổn phận nhận mang cái “Nghiệp” đó để tiếp tục đi trên Con Đường đã được vạch ra cho những số phận như Hölderlin, Nguyễn Du và Bùi Giáng. 

Sự việc đáng nói ở trường hợp BG là trên bình diện văn học, cho đến giờ này, hầu như đã không có ai bàn luận, nghiên cứu, phê bình xác đáng Thơ BG (theo như tôi được biết). Tôi viết “xác đáng” với ý nghĩ là lời bình luận, phê bình … để mà khi anh Giáng đọc các lời đó, không nổi lên cơn điên nữa. Đó không cứ phải là một lời khen, một lời ca ngợi đao to búa lớn, mà chỉ là một lời khiến BG có thể nhìn ra quả nhiên trong đám người chung quanh anh, có một người đã “nhận ra, nhìn ra” anh, dù cái nhìn đó không bắt buộc phải là đúng y như cái nhìn của anh, khi anh viết những câu Thơ khác thường.

 

Như thế một phần có nguyên nhân nơi chính anh, nhân vật có tên gọi là Bùi Giáng và tự đặt cho mình những cái tên khác lạ. …Vì sao?

 

Vì BG đã tự trình bày ra với xã hội việt nam “Bùi Giáng là một hiện tượng”, có nghĩa là một hiện tượng kỳ lạ, bất thường và vì thế gây sự tò mò của những người hiếu kỳ. Anh xuất hiện ngoài đường với một hình dạng bề ngoài quái dị lạ lùng khiến (hay để) mọi người chú ý đến. Anh không xuất hiện như một thi sĩ, một bóng dáng ẩn hiện, có cũng như không, im lặng và hầu như vô hình vô tướng, có đi qua đường phố hay đi cả trần gian cũng không ai để ý hay biết đến … Trái lại anh đi rêu rao khua gõ ầm ĩ ồn ào trên đường phố và có cả đàn trẻ con đi theo sau hoặc là ném đá, hoặc là cười đùa vì thấy trò hề vui nhộn.

Dĩ nhiên ở đây có thể đổ hết vào sự việc điên của anh. Nhưng cũng có thể nói là anh đã tỉnh táo khi làm trò múa rối. Ai đã dám nói đâu là thật đâu là giả, khi chính anh cũng rất nhiều khi không làm chủ được hành động của mình. Không ai có thể nói một điều gì khẳng định về các “cơn diễn” của Bùi Giáng.

 

Một khi mà ai đó viết gì về BG, hầu như họ đều viết để kể lại giai thoại, tường thuật những trò điên của anh mà họ chứng kiến, sống qua hay nghe nói, dù anh làm trò điên vì một thúc bách khẩn cấp, vì một nội lực bất an trong cuộc tồn sinh khảm kha gay cấn của anh như đã nói trên đây. Và như thế đó chỉ là những chuyện phiếm để kể, không do những người trong giới viết văn làm thơ hay thuộc giới phê bình văn học. Nhiều lắm là một số tăng sĩ đem lăng kính và qua thuật ngữ phật giáo để nhìn và bàn luận, mà sau cùng thì cũng không có ai đã hội đủ công lực để viết một điều gì chính đáng cho Thơ văn BG! Vì sao? Vì công lực đó phải bao gồm tư tưởng triết lý và ít nhất một phần chính của văn học Đông Tây, với yếu tính Nguyễn Du trong căn cơ, hòa điệu trong ánh sáng của Heidegger và Hölderlin chiếu rọi. Như thế tức là “cái điên” của BG đi trước “Thơ BG”, được đánh giá quan trọng hơn Thơ BG. Đó là một điều đáng tiếc cho Thơ BG. Tôi đã cũng có nói đến sự việc này trong Thơ NCT. Dĩ nhiên vào thời buổi của năm 2026, nhân kỷ yếu 100 năm BG, người ta có thể, sẽ và đã dùng công nghệ AI để nó viết ra một (hoặc nhiều) bài viết “có giá trị” về BG, thơ BG và ngôn ngữ thơ BG.

Nếu anh đã xuất hiện trong thời kỳ anh sống (VNCH, hậu bán thế kỷ 20) đại khái như một thi sĩ, thầm lặng tìm những nơi “thơ mộng” (!), với “túi thơ bầu rượu” (!) …, đại khái như hình ảnh đã được người VN xưa nay có định kiến trong đầu hay do văn học sử VN ghi chép lại hay tạo dựng lên theo hình ảnh của những nhà thơ đời Đường chẳng hạn, chỉ làm bạn với thơ, hay nếu muốn, với rượu, với phụ nữ đẹp, ngày đêm túi thơ bầu rượu bên hồ thủy tạ ngắm trăng vịnh nguyệt … thì anh đã không còn là một hiện tượng gì đáng kể cho những người hiếu sự trong xã hội. “Văn giới” đã không có những bài viết kể giai thoại của / huyền thoại về anh. Và như thế khi anh mất đám tang tuy không đình đám so với đám tang của TCS hay của TS sau này, nhưng thơ văn của Bùi Giáng có lẽ sẽ có hay gây được một ảnh hưởng sâu rộng và có giá trị sâu hơn trong văn học sử VN. 

 

Tuy nhiên cũng có thể hiểu là sự vụ Thơ BG không có tác dụng hay hậu quả gì trong văn học VN sau 1975 là vì những lý do sau: Làng văn VNCH trước 75 sinh hoạt trong nước, sau đó hoạt động ở nước ngoài không viết về Thơ BG cũng là vì đã có một cái huyền thoại BG được chính anh, và giới văn học nghệ thuật (miền nam) VN tạo dựng nên. Người ta vừa lòng với hình ảnh của huyền thoại đó, không có nhu cầu, hơn nữa không có kiến thức và khả năng đích thực có tính cách khoa học văn chương để nghiên cứu và thẩm định giá trị cùng vị trí của nó trong văn học VN ít nhất của thế kỷ 20. Thiết tưởng cũng nên nêu ra sự việc là cũng có một hai tên tuổi của văn giới Hà Nội sau 1975 nhảy vào “viết về BG” để góp mặt cho có và các sách về BG cũng được các nhà xuất bản miền Bắc VN cho ra ồ ạt, nhưng một khi mà làng văn của VNCH ngày trước đã chưa có người nào có đủ kiến thức & trình độ để bàn luận về nghệ thuật Thơ và chữ nghĩa của BG trong viễn tượng của Thi Ca & Tư Tưởng, thì có lẽ chẳng cần phải nhắc đến làng văn sau khi VN thống nhất đất nước. Làng văn VN hiện nay (2026) không có những người của văn học VNCH, cũng không còn nhiều nhà văn nhà thơ thế hệ cách mạng (họ đã chết), nay chỉ còn một đám trẻ viết văn làm thơ, ngoài thơ đường, thì là “thơ tự zo”, không vần không điệu không cả nhịp, như văn xuôi cắt dòng và nội dung phần đông vẫn không thay đổi của chủ nghĩa văn học lãng mạn, hay “mới lạ hơn” là nội dung thời sự.

 

Giản dị hóa sự việc mà nói, muốn nhìn ra BG thì ít nhất cần phải nhận ra, biết và hơn hết hiểu được một phần nào là BG đứng ở phương trời nào để từ đó dùng ánh sáng của phương trời đó mà soi rọi vào Thơ anh, dù là Thơ của BG trẻ khác rất nhiều trong yếu tính của nó so với Thơ của BG già. Nhận thức “cần phải có một thiên tài để nhận ra một thiên tài” là đây.

 

Gần đây tôi có dịp gặp anh Bửu Ý, một người đã có mặt trong những năm 66 - 67er ở nxb An Tiêm, nơi tụ tập của hầu hết những người có tên tuổi của giới văn nghệ sĩ Sài Gòn năm xưa, như tôi đã viết ở điểm 1. Anh BY là “bồ ruột” của cô Helga Legefeld (Lagerfeld?) năm xưa lúc tôi đến An Tiêm tìm và gặp anh BG ở đấy, như đã kể. Chúng tôi nhắc lại chuyện xưa của thời kỳ ấy. Sau buổi nói chuyện anh BY có trao tặng tôi một quyển sách anh mới cho in năm 2023, “Bùi Giáng, một đời Thơ” (tựa sách, theo anh BY, đã phải đổi theo lời yêu cầu của nxb Thiện Trí Thức). Anh BY có lẽ là người có nhiều tài liệu nhất về BG, có ghi lại trong quyển sách này. Anh có bàn luận về Thơ BG, nhưng phải nói là không chiếu rọi về chiều sâu tư tưởng và triết lý của Thơ Bùi Giáng. Trong tất cả những người viết và in sách về BG, có lẽ không ai có đủ cái philosophical background. Theo tôi đây là một thiếu sót quan trọng cho một nguồn Thơ “hoàn toàn khác lạ”. Nhưng đó là một chuyện tất yếu, vì trình độ của văn học nghệ thuật cho đến giờ vẫn không có gì chứng tỏ là có thay đổi, kể cả từ thế kỷ 20 đến 21 hiện nay.

Trong quyển sách này anh BY có nhắc đến tên của hầu hết những người trong văn giới, kể cả sau 1975 ở miền Bắc VN. (Rất may) anh không có nhắc đến tên tôi, NCT, vì dĩ nhiên là tôi không hề xuất hiện trong bất cứ một ấn phẩm nào ở hải ngoại cũng như hải nội viết về, nói về BG. Anh chỉ nói là có nghe tên NCT ở đâu đó. Đó cũng đã là một câu nói của một người lái Taxi chở tôi từ Hội An ra Đà Nẵng năm 2007, trong một chuyến du hành từ Bắc vào Nam của tôi. Anh ấy (Taxi) muốn biết tên tôi vì thấy tôi có vẻ lạ. Khi tôi nói tên, anh nói anh có biết tên NCT, nhưng không nhớ biết ở đâu. Có thể nói gọn lại là ở VN, nơi tôi sinh ra, số rất ít những văn nghệ sĩ quen biết và có giao du với tôi, từ Nam chí Bắc, đều đã mất (chỉ còn Vũ Thành An sống ở USA).

 

Ở Đức tôi cố tình là người incognito (có một lần tôi tỏ ý từ chối một giải thưởng văn chương, dành riêng cho người nước ngoài, không phải là người Đức, mà viết văn làm thơ bằng tiếng Đức). Chỉ vài người bạn học (ở Viện Cơ Học) biết là tôi có viết “vài bài Thơ”, nhưng điều đó không có gì là có ý nghĩa với họ, những tiến sĩ kỹ sư xây dựng. Chỉ có ở những nước khác, nơi tôi đã đi dự theo lời mời của các Đại Hội Thi Ca Quốc Tế (International Poetry Festivals) từ năm 2003 đến nay và các tạp chí văn học cũng như một đài phát thanh - Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - Âm Nhạc và Thi Ca Thế Giới Calidoscopio (Argentina & Mexico) - tiếng TBN thì những độc giả yêu Thơ trên thế giới biết tên và quan trọng hơn là biết, đọc và nghe Thơ của NCT. Nước Ý, quốc gia cổ điển ở Âu Châu của văn học là nơi tôi xuất bản nhiều Thơ nhất, tổng cộng 5 tập từ 2014 đến nay.

         

Như thế, một nguồn Thơ đặc sắc của Thi Ca VN ở hậu bán thế kỷ 20,  của văn học VN, được để yên và có thể từ từ đi vào quên lãng, ít nhất trong một giai đoạn của lịch sử, khi thế hệ người Việt biết đến cái gọi là “Thơ BG” dần dần chết đi. Những thế hệ dân Việt trẻ sau này trong một thời đại mới của công nghệ AI (Artificial Intelligence - thông minh nhân tạo) có khi, có thể không còn một chút gì của một phần cái gọi là bản sắc dân tộc Việt - ngôn ngữ Thi Ca Lục Bát - đã một thời biểu trưng cho Việt tính trong ý nghĩa siêu hình và yếu tính nhất của nó.

 

Nguyễn Chí Trung

Tháng 10 năm 2026                                                                         

 

                                                                                 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Hai 20251:43 SA(Xem: 26302)
Kiếp trước chàng là con Cá / bơi trong dòng sông Cửu Long / một hôm dòng sông dậy sóng / con Cá dạt bờ lìa sông
18 Tháng Hai 202510:37 CH(Xem: 20498)
Rising Asia là một tạp chí học thuật đa ngành, ra 3 số mỗi năm, hoạt động từ 2021, chủ bút là TS Harish C. Mehta, hiện giảng dạy tại Đại Học Toronto, có trụ sở tại Bengal Ấn Độ. Tạp chí là nguồn tài nguyên để nghiên cứu, và giảng dạy về các vấn đề xã hội Châu Á. Mỗi tập của tạp chí đều có các bài bình luận giải thích về mọi khía cạnh của lịch sử, kinh tế, ngoại giao, văn học, y tế, khoa học, quân sự và văn hóa Châu Á.
17 Tháng Hai 202510:44 CH(Xem: 23673)
Thu còn nhớ cả chiều xuân của Huế / Mùa đông trời se lạnh, nhớ không anh? / Tà áo bay phía Trường Tiền tan lớp / Hẹn anh về Vĩ Dạ ngắm mưa bay!
17 Tháng Hai 202510:14 CH(Xem: 23790)
hãy giúp tôi cục cựa / súc gỗ cứng đơ đời / hãy em là thị lộ / xung trận tình đôi mươi
17 Tháng Hai 20259:06 CH(Xem: 16100)
Tom Fawthrop là nhà báo, nhà hoạt động môi sinh người Anh, người bạn đồng hành bấy lâu với Nhóm Bạn Cửu Long. Anh đã tường trình về sông Mekong trong 12 năm qua với tư cách là nhà nghiên cứu và diễn giả tại các đại học ở Singapore, Thái Lan, Cam Bốt, và Việt Nam. Các bài viết của anh về lưu vực này đã được phổ biến rộng rãi trên các tạp chí Economist, The Diplomat và The Guardian. Tom cũng là nhà sản xuất cuốn phim tài liệu “Where have All the Fish Gone” về thảm họa trên sông Mekong.
17 Tháng Hai 202512:12 SA(Xem: 19579)
Mấy hôm rày tôi không hát "ầu ơ ví dầu..." để ru cháu ngủ mà lại hay hát cái bài "Đón Xuân Này Tôi Nhớ Xuân Xưa". Cái thằng cu Ben em cu Tèo nghe êm tai mà "phê" vào giấc ngủ bình yên. Có lẽ do "ruột gan" của Ngoại nó có gởi qua đó để hát mà lị!
16 Tháng Hai 202511:59 CH(Xem: 21781)
tôi đọc được một bài thơ hay / tôi tẩn mẩn dịch lại bằng google / (miễn phí) / vì google có nhiều cái đầu / còn tôi chỉ có một cái đầu / tôi chỉnh sửa lại chút ít / dù google có nhiều cái đầu / tôi vẫn cặm cụi sửa / (chỉ để một vài người rỗi hơi đọc)
16 Tháng Hai 202511:16 CH(Xem: 26420)
từ em ngành ngon trơ vơ / quê hương anh đợi chiều ngơ ngẩn về / bóng đêm nghìn dặm sơn khê / đã che hết cả đường về xa khơi / bấy lâu lạc giữa cuộc đời / mà thương con nước xa vời đâu đây.
14 Tháng Hai 202510:57 CH(Xem: 27132)
Khi trái tim, nhốm màu tím nhạt / Là bắt đầu, ngày lên cổ tích / Những con sóng ôm hôn năm mới / Chiều đong đưa, xanh thấm màu chiều
13 Tháng Hai 20258:11 CH(Xem: 21467)
Tuổi yêu đương ngọt ngào thì mình đã qua rồi! Có thả hồn về dĩ vãng với một thời tuổi trẻ mình vẫn nhả ra thơ tình tha thiết đắm say không khác kẻ đang yêu đâu! Thật đấy! Văn nghệ sĩ mà! Lùi về dĩ vãng, hiện tại hay tương lai, nhập vai, hóa thân có thể đưa mình về thuở xuân xanh 18, hay bất kỳ đoạn đời nào. Trí tưởng tượng có thể đưa người sáng tác đi bất cứ đâu mà họ muốn.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3824)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19655)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18628)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1625)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1774)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2296)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2408)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1448)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2208)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1947)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1993)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1367)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2403)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2613)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 243)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 800)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 996)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1110)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6403)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15885)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32145)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38858)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1477)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6901)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10680)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9880)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10008)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10810)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3451)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10352)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi