- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐI TÌM THÂN PHẬN CÔNG CHÚA AN TƯ CHO MÀN ẢNH LỚN

09 Tháng Mười 20264:59 CH(Xem: 1913)
cong chua AN TU
Tranh minh họa (tác giả sưu tầm)




ĐI TÌM THÂN PHẬN CÔNG CHÚA AN TƯ CHO MÀN ẢNH LỚN

Tác giả: Mai An NGUYỄN ANH TUẤN

__________________________________


Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử: “Ngày Kỷ dậu, mùng sáu, Giảo Kỳ xuất bọn Chương Hiến Hầu đánh phá quân của người em Thế tử (Tức vua Trần Nhân Tôn) là Thái soái Trần Khải tại bến đò Phú Tân, chém ngàn người. Thanh Hóa và Nghệ An đều đầu hàng. Vua Trần sợ, khiến (sai) người trong họ là Trung Hiến hầu Trần Dương xin hòa. Lại sai kẻ cận thị là Đào Kiên đưa bà chúa em vua cho Trấn Nam vương xin hòa giải” (1).

“Bà chúa em” (Quốc muội) đó, sau tìm hiểu, chính là Công chúa An Tư, em gái vua Trần Thánh Tông…

Sự việc khởi nguồn từ lúc Thái tử Đại Nguyên Thoát Hoan thống lĩnh năm mươi vạn quân Mông - Thát cùng nhiều hổ tướng đang đe dọa vận mệnh nước Đại Việt: Quân Nguyên tiến rất nhanh; nhiều vùng đất bị chiếm, quân Trần phải vừa chiến đấu vừa rút lui để bảo toàn lực lượng; Thăng Long bị uy hiếp, hai vua Trần và triều đình phải rút khỏi kinh thành; các ải vỡ gần hết, nhiều đại thần tôn thất đem quân đầu hàng giặc, còn giặc đang xiết chặt hai gọng kìm lớn phía Nam phía Bắc bao vây hòng tiêu diệt quan quân nhà Trần… Trong cảnh nước sôi lửa bỏng, cần hãm chân giặc để có đủ thời gian củng cố lực lựơng, vua Trần Thánh Tông buộc cử sứ giả mang quốc thư giả cầu hòa tới tướng giặc Trấn Nam vương Thoát Hoan. Vì Thoát Hoan có thể đã biết tới bức họa về An Tư (suy đoán: vốn là “chiến lợi phẩm” của quân Nguyên lần thứ nhất xâm lược Đại Việt, do một viên tướng tặng trước đó), nên đòi phải đưa An Tư đem dâng cho hắn thì mới chịu “nới tay” tạm ngưng đà chinh phạt…

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại, vào tháng 2 năm Ất Dậu (1285), khi thấy quân Nguyên Mông thế rất mạnh, quan quân nhà Trần trên nhiều mặt trận đều trong thế bất lợi nên vua Trần Thánh Tông “sai người đưa công chúa An Tư (em gái út của vua) đến cho Thoát Hoan, là muốn làm thư bớt tai nạn của nước vậy” (2).

Sách Việt sử tiêu án viết: “Thoát Hoan lên sông Nhĩ Hà, cột liền bè vào làm cầu, cho quân qua sông; quân ta theo hai bên sông lập đồn để cự lại, không được; ngày đã về chiều, quân giặc qua được sông vào kinh thành, vua sai đưa Thiên Tư (An Tư) công chúa cho chúng, để thư nạn cho nước…An Tư qua trại Thoát Hoan và không rõ kết cục ra sao" (3).

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam có viết: “... Một ngày trong tháng 2 năm 1285, Trung Hiếu hầu Trần Dương nhận lệnh đi thương thuyết giảng hòa, rồi sai quan hầu cận là Đào Kiên đưa công chúa An Tư sang dinh tướng Mông Nguyên (Thoát Hoan). Chẳng bao lâu, dưới sự chỉ huy kháng chiến của Trần Quốc Tuấn, quân Nguyên Mông bị dẹp tan. Trong chiến công này rõ ràng là có sự đóng góp của công chúa An Tư, người đã hy sinh vì nạn nước” (4).

Việc An Tư chịu hy sinh thân mình vào trại giặc đã giúp quân dân nhà Trần có thêm thời gian quý báu để củng cố lực lượng, tổ chức cuộc rút lui chiến lược an toàn về vùng Ái Châu (Thanh Hóa), trước khi tổng phản công quét sạch quân Nguyên. Một giả thuyết “táo bạo” cho rằng bà đã đóng vai trò như một "nội gián", ngầm gửi các thông tin tình báo quân sự quan trọng từ doanh trại địch về cho triều đình… Nhưng dù không làm “nội gián” thì công chúa An Tư  cũng có đóng góp to lớn giúp xoay chuyển cục diện chiến tranh, đuổi cổ bọn xâm lược ra khỏi bờ cõi. Song số phận của bà sau khi quân Nguyên đại bại, từ đó cho tới nay vẫn hoàn toàn là một ẩn số lớn và chứa đựng sự bất công chua xót. Chính sử Đại Việt chỉ chép một dòng ngắn ngủi về việc gả bà đi sang trại giặc như trên mà không hề nhắc tới kết cục của bà, cũng như không thấy ghi chép về việc phong thưởng ra sao cho bà sau chiến thắng. Không ai biết rõ bà đã sống những ngày tháng trong hang cọp dữ như thế nào? Không rõ sau khi quân Nguyên rút khỏi Đại Việt, Trấn Nam Vương Thoát Hoan, con trai Hốt Tất Liệt phải chui vào rọ bọc đồng bắt quân kéo tháo chạy về nước, bà có thoát thân khỏi đám loạn quân và quay trở về được Hoàng cung hay không? Nếu may mắn còn sống, không về Hoàng cung thì bà đã đi những đâu, làm những gì?… Triều đình làm lễ lớn khen thưởng công thần, nhưng không hề nhắc đến Công chúa An Tư một lời. Sử sách cũng không để lại thông tin gì về đoạn đời sau đó của bà. Có sách nói rằng: "Trước Thái tử (Thoát Hoan) lấy người con gái nhà Trần sinh được hai con...". Người con gái họ Trần này là ai? Có phải là An Tư? Sách An Nam chí lược cho biết là không phải (người đó là con gái của Trần Di Ái), nhưng chưa có tài liệu tin cậy hơn để kiểm chứng. Có truyền thuyết dân gian kể bà An Tư từng ái mộ, thầm yêu trộm nhớ danh tướng Yết Kiêu… Như thế là toàn bộ sách sử từ thời đó với mấy dòng đơn sơ cho đến thời hiện đại - cả sách thông sử quy mô lẫn sách chuyên đề lịch sử(5) đều không hề có dòng nào nói đến bà An Tư cùng sự kiện dùng “Mỹ nhân kế” đau lòng bất đắc dĩ của các vua Trần! Phải chăng các nhà sử học hiện đại coi đó là sự kiện ô nhục không đáng nói tới - so với tinh thần Sát Thát dâng cao của quân dân Đại Việt và sự hy sinh oanh liệt của nhiều vị dũng tướng - như Trần Bình Trọng? Các sách viết về giai thoại lịch sử, dã sử Việt, thần tích Việt, Thần hoàng làng(6) mà tôi có trong tay đều dày trên dưới ngàn trang nhưng không hề sách nào nhắc đến bà Quốc muội - Hoàng quý muội gắn với sự kiện thương tâm này. Trong khi đó lại có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu (và tiểu thuyết) về hiện tượng “”Mỹ nhân kế” & “Hôn nhân chính trị” tương tự (như về Trần Huyền Trân, Ngô Thị Lâm, Quận chúa họ Trịnh, công chúa Ngọc Vạn, công chúa Lê Ngọc Hân, v.v); hoặc ca ngợi một người phụ nữ quý tộc, bà Lý Thụ Hiệu đời Lê - Trịnh sang Tàu với tư cách nhân viên sứ bộ, v.v (7). Hầu hết những câu chuyện dã sử về những người phụ nữ Việt thời cổ - trung đại được sử sách và dân gian tôn vinh lập miếu phụng thờ như các nữ thần đều là những nữ tướng hoặc đã sát cánh cùng chồng giết giặc ngoại xâm: Bát Nàn Vũ Thị Thục, Công chúa Vĩnh Gia, Bảo Châu công chúa (Ả Rồng), Tỳ tướng quân Nguyễn Thị Nguyệt, Mai Dương công chúa, v.v.(8).

Trong khi một bà Vương phi người Tống chỉ vì nhảy xuống sông tự vẫn để giữ trọn danh tiết thì được tôn vinh thờ phụng với hệ thống dày đặc đình đền miếu phủ thờ Bà ở dọc hữu ngạn sông Cái (sông Hồng) hàng chục cây số, dân gian còn tạo ra các huyền thoại linh thiêng về “Bà Mỵ Ê” ở Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Thuận, v.v; rồi được bàn đến trong cả một công trình nghiên cứu dày tổng hợp từ hàng trăm thần tích, thần phả, thần sắc, giai thoại và hàng trăm bài báo, bài nghiên cứu trong nước & nước ngoài(9), thì bà An Tư không hề có một gốc cây nào được thắp hương tưởng nhớ! Sử gia Ngô Sĩ Liên trong ĐVSKTT bàn về Bà Mỵ Ê như sau giúp ta hiểu thêm về nguyên do thái độ bất công phi lý của triều đình phong kiến đối với sự cống nạp An Tư theo dạng buộc Bà phải hy sinh danh tiết cho giặc dữ vì nghĩa lớn: “Phu nhân giữ nghĩa không chịu nhục, chỉ theo một chồng cho đến chết, để toàn vẹn trinh tiết của người đàn bà. Người làm tôi mà thờ hai vua tức là tội nhân đối với phu nhân. Vua khen là trinh tiết, phong làm phu nhân để khuyến khích người đời sau là đáng lắm” (10).

Ở huyện Ứng Hòa, Hà Nội lâu nay có một miếu thờ vẫn được coi là nơi thờ Công chúa An Tư. Trong các bản sắc phong công chúa là thần hộ quốc, có bản đời Tự Đức (1849) của thôn Cao Lãm, đại ý rằng đất Cao Lãm lừng vang vị thần là công chúa triều Trần. Nhưng lai lịch của nàng công chúa này theo dân gian lại là: khi giặc Nguyên xâm phạm bờ cõi nước ta, chúng vơ vét của cải và lùng bắt các thiếu nữ, nàng công chúa xinh đẹp tròn 15 tuổi cùng mười hầu cận chạy dọc bờ sông Đáy, tiến về vùng đất Sơn Minh, bị giặc đuổi ép tới thôn Khả Lãm. Không thể chống trả được quân địch, nàng tuẫn tiết để khỏi rơi vào tay giặc. Nơi nàng tử tiết chính là thôn Cao Lãm, xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa, Hà Nội nay. Dân làng thương tiếc lập miếu thờ nàng, và thầm coi đó cũng là nơi thờ công chúa An Tư…

Tóm lại, câu chuyện về An Tư gần như biến mất tăm trong Lịch sử, để lại một khoảng trống lịch sử to lớn và đáng tiếc về sự hy sinh thầm lặng cao quý của một người phụ nữ Việt đã phải đối mặt với chiến tranh, góp vào chiến thắng chung của cả dân tộc bằng chính thân phận của mình. Phải chăng, điều đó là một nỗi oan ức của bà An Tư phải mang theo xuống Suối vàng, và cũng là nỗi ấm ức của bao thế hệ người Việt suốt nhiều thế kỷ?

Không hiểu sao, tôi chợt nhớ đến một truyện ngắn rất hay của nhà văn Pháp Guy de Maupassant: Boule de Suif (Viên Mỡ Bò). Sự nhớ lại và liên tưởng này chắc rất khập khễnh, song cũng có thể lý giải được phần nào về thái độ của lịch sử đối với thân phận bà An Tư - người phụ nữ sống trong thời đại Trung cổ Á Đông nặng nề giáo lý Khổng Mạnh… Truyện Viên Mỡ Bò kể về chuyến xe ngựa đường dài chở 10 hành khách: vợ chồng những nhà tư sản giàu có, một cặp vợ chồng bá tước quý tộc, hai vị nữ tu, một chính trị gia dân chủ và cô gái điếm Élisabeth Rousset có biệt danh "Viên Mỡ Bò" - đại diện cho các tầng lớp xã hội thời ấy. Ban đầu, những người "thượng lưu" trên xe nhìn “Viên Mỡ Bò” với ánh mắt khinh miệt, song lúc xe bị kẹt trong tuyết và mọi người đều đói lả, cô là người duy nhất đã chuẩn bị một giỏ hức ăn ngon và hào phóng chia sẻ cho mọi người, khiến họ tạm thời thay đổi thái độ. Khi xe dừng lại ở một quán trọ thuộc vùng kiểm soát của quân Phổ, một tên sĩ quan ra điều kiện: chiếc xe chỉ được phép đi tiếp nếu “Viên Mỡ Bò” chịu ngủ với hắn một đêm. Với lòng tự tôn dân tộc, cô kiên quyết từ chối phục vụ kẻ thù xâm lược. Vì muốn lên đường sớm, những người bạn đồng hành "đạo mạo" bắt đầu dùng những lời lẽ hoa mỹ, mượn cớ tôn giáo, nghĩa vụ và sự hy sinh để thuyết phục, thậm chí là ép buộc “Viên Mỡ Bò” chấp nhận yêu cầu của tên sĩ quan. Vì lợi ích của cả đoàn, “Viên Mỡ Bò” đành phải nhượng bộ trong tủi nhục… Nhưng, sáng hôm sau khi lên xe tiếp tục hành trình, những kẻ vừa được cô cứu thoát lại lập tức quay ngoắt thái độ. Họ nhìn cô bằng ánh mắt ghê tởm, cô lập “Viên Mỡ Bò” và thì thầm nhục mạ cô. Khi “Viên Mỡ Bò” không kịp chuẩn bị thức ăn cho chặng tiếp theo và phải chịu đói, không một ai trong số họ thèm san sẻ cho cô một mẩu bánh mì. Giữa lúc họ thản nhiên ăn uống và ngân nga các bài ca yêu nước giả tạo, thì “Viên Mỡ Bò vẫn khóc, và đôi khi một tiếng nức nở, cô không nén nổi, bật lên trong bóng tối, giữa hai đoạn bài hát”(11).

Năm 1943, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là tác giả đầu tiên đã viết về cuộc đời của nàng công chúa nhà Trần mà suốt nhiều thế kỷ vô tình trở thành một nhân vật huyền thoại, với những câu chuyện không có trong sử liệu, nhà văn khai thác vào môt khoảng trống lịch sử bằng cuốn tiểu thuyết lịch sử An Tư; những trang văn như hút hồn nhiều thế hệ trẻ Việt đã hiện thực hóa thân phận đặc biệt của Bà An Tư trong cơn bão táp lịch sử ghê gớm của dân tộc chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai…

Sau tác giả Nguyễn Huy Tưởng nhiều thập kỷ mới có hai tác giả văn xuôi, cũng từ mấy dòng ngắn ngủi trong thư tịch cũ xây dựng thành nhân vật An Tư tương đối có trọng lượng trong cuốn Thăng Long nổi giận, thuộc bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần, Nxb Phụ nữ, 2021) của nhà văn Hoàng Quốc Hải, và truyện Công chúa An Tư trong tập truyện ngắn Xuân kia qua bạc mái đầu (Nxb Phụ Nữ Việt Nam, 2025) của Văn Bạch Yến.

Đó là trong văn học, còn trong âm nhạc, hội họa, điện ảnh thì hầu như vắng bóng câu chuyện về số phận Công chúa An Tư. Lâu nay, độc giả-khán giả nói chung, học sinh sinh viên nói riêng ở nước ta thông thạo lịch sử cổ Trung Hoa, Hàn Quốc hơn lịch sử nước nhà; và nếu có làm một cuộc phỏng vấn độc giả - khán giả về sự kiện “Chiêu Quân cống Hồ”(12) thì số người biết về sự kiện này so với sự kiện “An Tư cống giặc Nguyên” chắc chắn sẽ có tỷ lệ 90/10!

Điện ảnh và Truyền hình Trung Quốc đã có rất nhiều bộ phim “bom tấn” tái hiện cuộc đời Vương Chiêu Quân, tập trung vào nhan sắc "Lạc nhạn" và vai trò chính trị của nàng ở vùng biên ải, tiêu biểu là hai bộ phim truyện truyền hình dài tập nổi tiếng nhất: Chiêu Quân Xuất Tái (2004) và Truyền Kỳ Vương Chiêu Quân (2007)…

Tại Việt Nam, câu chuyện về bà An Tư từng được chuyển thể thành các vở cải lương, chèo, tuồng khá ăn khách. Còn trong sân khấu hiện đại và điện ảnh - truyền hình thì mới chỉ có loạt phim ngắn Sitcom(13) 16 tập Hoàng Quý Muội – phim ngôn tình, giả tưởng mượn chuyện An Tư để tạo nên câu chuyện tình xuyên không gian từ năm 1285 đến hiện tại của Công chúa An Tư và Chiêu Thành Vương, phát hành độc quyền trên nền tảng giải trí POPS App. 

 Là người làm điện ảnh phim truyện, lâu nay chúng tôi đau đáu, ấp ủ đưa câu chuyện bi thương này lên màn ảnh lớn một cách xứng đáng, như một sự “giải oan” thiêng liêng và cần thiết cho công chúa An Tư, như một nén nhang thơm xin được tạ lỗi với Bà… Những thu hoạch & suy ngẫm trên đây chỉ là sự gợi ý bước đầu cho việc viết kịch bản điện ảnh (Scénario film), mong nhận được sự quan tâm góp ý của những khán giả Vàng tương lai…

_______

1. An Nam chí lược - Lê Tắc (Trắc), Bản dịch của Ủy ban phiên dịch sử liệu VN - Viện Đại học Huế, 1960. Trọn bộ 19 quyển - Nxb Hồng Đức, 2016, tr.115.


2. Đại Việt sử ký toàn thư - Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu dịch, NXB Khoa học xã hội, 2017.


3. Việt Sử tiêu án (Từ Hồng Bàng đến ngoại thuộc nhà Minh) - Ngô Gia Văn Phái, Nxb Hồng Đức 2022

 
4. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Nxb KHXH, 1992 (mục từ "An Tư").


5. Lịch sử Việt Nam 15 tập - Viện hàn lâm KHXH-Viện sử học, Nxb KHXH, 2017; Lịch sử Việt Nam Thế kỷ X - Đầu thế kỷ XV, Trung tâm KHXH &NV Quốc gia-Viện sử học, Nxb KHXH, 2002; Lịch sử Việt Nam. Từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX - Lê Thành Khôi (Nguyễn Nghi dịch từ tiếng Pháp), Nxb Thế giới, HN, 2014; Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim, Nxb Văn học, 2015; Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII - Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Nxb KHXH, 1970;  v.v.


6. Thần linh đất Việt - Vũ Thanh Sơn, Nxb Văn hóa Dân tộc HN, 2002; Kho tàng giai thoại Việt Nam - Vũ Ngọc Khánh, Nxb Văn hóa - Thông tin HN, 2001; Giai thoại lịch sử Việt Nam (2 tập) - Kiều Văn, Nxb Văn hóa - Thông tin HN, 2002; Việt Nam kho tàng dã sử - Vũ Ngọc Khánh-Phạm Minh Thảo, Nxb Văn hóa - Thông tin HN, 2004; Thành hoàng Việt Nam (2 tập), Phạm Minh Thảo-Trần Thị An-Bùi Xuân Mỹ, Nxb Văn hóa - Thông tin HN, 1997; Đền Miếu Việt Nam - Vũ Ngọc Khánh, Nxb Thanh niên, 2007; Hồn sử Việt & Những giai thoại và truyền thuyết nổi tiếng - Minh Châu & DSC, Nxb Thanh Hóa, 2016; v.v.


7. Giai thoại lịch sử Việt Nam, tập 1, Sđd.


8. Thần linh đất Việt, Sđd.


9. Vương phi Mỵ Ê trong lịch sử và văn hóa Việt, Châu Hồng Thủy-Hoàng Thị Hiệp, Nxb Văn hóa dân tộc, 2024. “Bên cạnh chuyện Bà Mỵ Ê trừng phạt thầy phù thủy, dân làng Lý Nhân ngoại, Lý Nhân nội, Lam Cầu, Phúc Mãn, Thanh Nga còn truyền tụng thêm nhiều chuyện về sự hiển hiện linh thiêng của bà Mỵ Ê, giúp dân có cuộc sống an lành. Những khi có thiên tai dịch bệnh, người dân tiến hành cầu đảo, mong Bà giúp cho dân làng tai qua nạn khỏi… Vì vậy, các nhà vua qua các triều đại ban cho Bà nhiều mỹ tự và khẳng định công lao của Bà trong các sắc phong là “hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng” (giúp nước che chở cho dân chúng, rất mực linh ứng)”. Tr.32.


10. Vương phi Mỵ Ê… Sđd, tr. 272.


11. Tuyển tập truyện ngắn Guy de Maupassant, Hướng Minh dịch, Nxb Hội Nhà văn, 2000


12. "Chiêu Quân cống Hồ" là một điển tích lịch sử nổi tiếng kể lại câu chuyện đầy bi tráng và nước mắt của Vương Chiêu Quân - một trong "Tứ đại mỹ nhân" Trung Hoa: Vào thời nhà Tây Hán, triều đình suy yếu và thường xuyên bị giặc Hung Nô (phương Bắc) quấy nhiễu. Để giữ gìn hòa bình, Hán Nguyên Đế đã quyết định gả một cung nữ sang làm vợ Thiền vu Hô Hàn Tà của Hung Nô. Người được chọn là Vương Chiêu Quân. Tương truyền, vì nàng không chịu đút lót cho thợ vẽ chân dung là Mao Diên Thọ, hắn đã cố tình vẽ thêm nốt ruồi xấu xí lên bức họa của nàng, khiến hoàng đế không hề hay biết đến nhan sắc thực sự của nàng cho đến ngày nàng chuẩn bị lên đường. Khi nhận ra vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Chiêu Quân thì đã quá muộn, nhà vua chỉ biết ngậm ngùi tiễn biệt nàng. Câu chuyện ôm đàn tỳ bà bước đi trong tuyết lạnh của nàng đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca và nghệ thuật Trung Hoa nhiều thế kỷ.

Tại Trung Quốc, điển tích "Chiêu Quân cống Hồ" thường được gọi bằng những cái tên mang ý nghĩa chính trị như "Chiêu Quân xuất tái" (Chiêu Quân ra biên ải) hay "Chiêu Quân hòa thân". Trong Sân khấu truyền thống và điện ảnh Trung Quốc, hình tượng Vương Chiêu Quân đã chuyển dịch từ một người phụ nữ mang nỗi oán hận ly hương thành một nữ anh hùng ngoại giao, người mang lại hòa bình cho vương triều nhà Hán và tộc Hung Nô. Sân khấu truyền thống (Tạp kịch, Kinh kịch) khai thác rất sâu tâm trạng bi tráng của Chiêu Quân rời bỏ đất Hán, như một nạn nhân cam chịu, đáng thương. Vở Hán cung thu (Mùa thu cung Hán) của Mã Trí Viễn thời Nguyên tả tấn bi kịch tình yêu giữa Hán Nguyên đế và Chiêu Quân, lên án sự bất lực của triều đình và sự tham lam của tên họa sư cung đình Mao Diên Thọ. Thời hiện đại, hai kịch tác gia Quách Mạt Nhược, Tào Ngu đều từng viết lại về Chiêu Quân. Trong vở kịch Vương Chiêu Quân của Quách Mạt Nhược (1923), bi kịch của Chiêu Quân được soi chiếu dưới góc nhìn hoàn toàn mới: Chiêu Quân cùng con gái Mao Diên Thọ quyết định ra biên ải kết thân với vua Hung Nô, bộc lộ khát vọng giải phóng cá nhân: Thà chọn một cuộc sống phóng khoáng, đối mặt với bão cát thảo nguyên hơn là chấp nhận chôn vùi tuổi thanh xuân trong sự tù túng đầy âm mưu hiểm ác của cung cấm Tây Hán. Kết vở kịch của Quách Mạt Nhược là lời độc thoại cay đắng của Hán Nguyên đế trước bức tranh chân thực vẽ Vương Chiêu Quân và cái đầu lâu tên họa sư mà ông ta vừa cho chặt... (Vương Chiêu Quân - Hà Như-Kim Anh dịch, Tuyển tập kịch Quách Mạt Nhược, Nxb Văn hóa 1962, tr.106). Còn vở kịch của Tào Ngu (1970) cũng thay đổi hoàn toàn góc nhìn: Chiêu Quân không còn là nạn nhân bị "cống" đi trong oán hận, mà là một người phụ nữ chủ động, tự nguyện đi hòa thân để thiết lập bang giao hòa bình cho nhân dân hai nước.

13. Sitcom: Kiểu quay phim truyền hình nhiều máy cùng một lúc (Multi-cam) với bối cảnh đơn giản, cố định (nội cảnh) và hệ thống ánh sáng cố định.

Đạo diễn Mai An NGUYỄN ANH TUẤN

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 135018)
Tên anh là gì tôi không biết, nhưng tôi quen anh qua một trang tìm bạn bốn phương với cái tên đẹp đẽ Vũ Quang.
10 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 133613)
Có những bến bờ không thể nào gặp được Ký ức xa xăm mây khói lưng trời Réo gọi tuổi thơ chỉ hư không đồng vọng Dòng sông đời soi bóng tóc sương rơi
10 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 116840)
Xuân vừa về trên bãi cỏ non… Nghe câu hát ấy của Phạm Duy, ta nghe mùa xuân về đâu đó quanh đây, về trên những thảm cỏ xanh mướt, về trên những bông hoa dại đủ sắc mầu dọc theo con đường chúng ta đi.
10 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 119101)
Nhiều tiếng nổ ầm ì vẳng lại từ xa. Tiếp theo những loạt phản pháo chấn dội phát ra từ khu rừng trước mặt. Một đoàn xe nhà binh mở đèn từ phía Tân Cảng Sài Gòn rầm rộ tiến trên xa lộ Bình Dương, kéo lê theo sau những thùng sắt khổng lồ chứa đựng quân lương và đạn dược.
05 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 137458)
thu đi qua chập chờn đèn lồng đỏ thu đi lại nghiêng ngó giọt trăm năm hể trăm năm bướm ong còn cõng gió thu hả hê vắt tóc suốt bờ câm
05 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 134177)
Đến đi rồi tiễn biệt Chiều cuối năm bay Về nhau dọ dẫm từng giây Hòa cùng cây lòng tôi hẹp lại
28 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 131529)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng tạp chí Hợp Lưu.Thạc sĩ, nhà văn Vũ Đảm hiện là Phó tổng biên tập Tạp Chí Nhà Văn tại Hà Nội Việt Nam, chúng tôi hân hạnh giới thiệu truyện ngắn "Chín Tháng Mười Ngày" của Vũ Đảm đến quí độc giả và văn hữu Hợp Lưu. TCHL
15 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 122598)
Một lần anh hỏi Ước mơ của tôi là gì? Tôi chợt nhớ đến mùa hè xa… Năm 1980, chị em tôi tíu tít khi ông Chín từ Sài Gòn về Quy Nhơn. Chúng tôi thích thú, cái gì ông cũng biết, đêm nào chúng tôi cũng cùng ông ra bờ biển hóng gió và chơi nhảy sóng. Nhìn trời đêm lấp lánh, ông dạy cho chúng tôi cách nhận ra những chòm sao.
04 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 124122)
Trọn năm 1946, New Times chỉ đăng hai bài của A. Guber và Vera I. Vasilyeva (1900-1959), cựu chủ nhiệm Văn Phòng Đông Dương của Ban Phương Đông QTCS về “French-Indochina.” Guber yểm trợ mô hình Khối Liên Hiệp Pháp [L’Union francaise] trong Dự thảo Hiến Pháp của Pháp, và nhấn mạnh vào sự thắt chặt liên hệ giữa “nhân dân Đông Dương” với “lực lượng tiến bộ” Pháp, vì đây là chỗ nương dựa cho những đòi hỏi chính đáng.
04 Tháng Giêng 201012:00 SA(Xem: 125797)
Trong đời hoạt động của Hồ Chí Minh–ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911–mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris–do Quốc Tế Cộng Sản [QTCS] dàn xếp–là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Hồ giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ QTCS chuyên nghiệp [agitprop = political agitation and propaganda].
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3806)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13242)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19626)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1572)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1730)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2241)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2373)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1422)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2189)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1909)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1950)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1329)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2370)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2548)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2329)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 217)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 765)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 971)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1054)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6382)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15860)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32118)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38837)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1423)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13874)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6877)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10641)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9832)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9954)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10757)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11099)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10334)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi