- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

DI SẢN VÔ THỪA NHẬN

11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 5358)

DO GOM VN

    Đồ Gốm Việt Nam



DI SẢN VÔ THỪA NHẬN

                                                           Nguyễn Công Khanh    


Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ!

Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.

Một điều phải minh định đầu tiên là những món đồ gốm được trưng bày trong cuộc triển lãm này hoàn toàn do sự đóng góp của các nhà sưu tầm người Mỹ tại địa phương và các nơi khác trên đất Mỹ. Như thế chứng tỏ rằng đồ gốm Việt Nam đã có một sự lưu ý đặc biệt trong giới sưu tầm quốc tế. 

Người phụ trách là ông John Stevenson, ông vừa là curator của cuộc triển lãm vừa là Quyền Giám Đốc của ngành Mỹ thuật Trung Hoa tại viện bảo tàng. Ông đã bỏ ra nhiều năm để nghiên cứu tại chỗ về đồ gốm Việt Nam. Trong năm 1997, nhà xuất bản Art Media Resources đã ấn hành cuốn sách về đồ gốm Việt Nam gồm 400 trang của ông và ông John Guy. Đó là một công trình nghiên cứu hoàn hảo nhất về đồ gốm Việt nam từ trước đến nay. Cũng trong dịp này ông John Guy, một trong những người có thẩm quyền nhất về đồ sứ Đông Nam Á, cũng là curator sưu tầm về cổ vật Ấn độ và Đông Nam Á tại Viện Bảo tàng Victoria and Albert Museum tại Luân đôn đã đến Viện Bảo tàng Seattle nói chuyện về Vietnamese Ceramics:Cultural Identity & Trade, Recent Discoveries. Ông John Guy cũng là người đặc biệt nghiên cứu về văn minh Hoà Bình và trống đồng Việt Nam. Bài nghiên cứu này của ông đã đăng trên tạp chí National Geographic nhiều năm trước.

Đây là một cuộc triển lãm đồ gốm Việt Nam đầu tiên tại Hoa Kỳ. Số lượng tuy khiêm tốn với 52 đồ gốm cổ trải dài từ thế kỷ thứ hai cho tới thế kỷ thứ mười sáu, vào khoảng sau thời Giao Chỉ cho tới cuối đời Nhà Lê. Phòng triển lãm này nằm  trong tòa bảo tàng Á châu, một toà nhà lớn như các viện bảo tàng trên thế giới, tường và sàn đều lát đá cẩm thạch, tọa lạc trong công viên Volunteer Park, nhìn xuống vịnh Puget Sound của thành phố. Tòa nhà này gồm nhiều khu trưng bày thường trực các cổ vật văn hoá khác của Á châu như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ và một số nhỏ của Thái Lan, Tây Tạng và Khmer. Người thưởng ngoạn sau khi xem tất cả các cổ vật trong khu Á châu, đều đồng ý với tên của cuộc triển lãm, đồ gốm Việt nam có những nét đặc thù và truyền thống riêng biệt, khác với các đồ gốm của các xứ Á châu.

Tuy nhiên không ai phủ nhận, vì Việt Nam nằm kế cận Trung Hoa và lại chịu đô hộ hơn một ngàn năm, với chính sách cố tình đồng hoá, Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề của nền văn minh và các sản phẩm nghệ thuật của họ. Dĩ nhiên đồ gốm Việt Nam đã mang nhiều tính chất của đồ gốm Trung Hoa. Nhưng những nhà nghiên cứu về ngành này đều cho rằng, những người làm đồ gốm Việt Nam đã không dập theo những khuôn mẫu đầu tiên của Trung Hoa. Họ đã phối hợp những tính cách nguyên thủy đó với những đặc thù của họ. Nhờ loại đất sét tuyệt hảo cuả vùng châu thổ sông Hồng, Bắc việt, loại đất sét mầu trắng xám, mịn và tinh tuyền để tạo nên những đồ gốm tinh xảo nhất trong vùng. Người làm đồ gốm Việt Nam đã xử dụng những phương cách mới và thu thập những đường nét từ các nền văn hoá khác như Khmer, Chàm và Ấn Độ. Do đó, những nét trang trí, dùng màu sắc, tráng men, những phương pháp sản xuất và ngay cả đường hướng sáng tạo đã khác hẳn với các đồ gốm của Trung Hoa.

Thường thường, những sản phẩm nghệ thuật cổ Việt Nam khó có thể tồn giữ được lâu. Những loại làm bằng gỗ, giấy, và vải đã không chịu nổi khí hậu nóng và ẩm thấp. Những công trình kiến trúc như thành quách, lâu đài, lăng tẩm, đền chuà, miếu cổ không còn lại là bao vì đã bị tàn phá bởi bao nhiêu cuộc ngoại xâm từ phương Bắc, bởi bao nhiêu cuộc chính biến mà triều đại nào cũng muốn tận hủy những tàn tích của triều đại cũ. Riêng chỉ còn có đồ gốm là có thể còn nguyên vẹn vì đã được chôn giấu do sự cố ý hay vô tình. Đến nay, cùng với văn chương và âm nhạc là những môn nghệ thuật không tạo hình được lưu truyền lại, đồ gốm đã thể hiện là những biểu tượng quan trọng nhất còn sót lại của di sản văn hoá Việt nam.

Khi nhìn lại những đồ gốm cổ Việt Nam được trưng bày trong bảo tàng, những chiếc ấm, chén trà, chiếc bình, bát hương, đèn dầu và những triện đóng dấu v.v. được chế tạo ra với đầy tính chất nghệ thuật, tinh xảo và chuyên nghiệp vững vàng, sẽ không có ai ngạc nhiên về lời phát biểu cuả một nhà sử học người Pháp Victor Goloubew năm 1931. Sau khi đã chứng kiến sự khám phá thấy các đồ gốm cổ tại vùng Thanh hoá, ông tiên đoán: “Tỉnh Thanh Hoá sẽ trở thành miền đất hứa cho các nhà sưu tầm đồ cổ. Rồi đây, chúng ta sẽ quen gọi đồ gốm Thanh Hóa như thường gọi đồ gốm đời Thanh hay đời Minh Chắc rằng chẳng bao lâu sẽ có những bình, những bát sứ cổ Việt nam trong các viện bảo tàng khắp Âu châu và châu Mỹ”.

Viễn tượng của Goloubew đã không thành hình được. Những tàn phá do các cuộc thay đổi các triều đại và các cuộc chiến tranh triền miên, nối tiếp nhau đã gây nên bao nhiêu trở ngại và sự thiếu lưu tâm tới nghệ thuật cũng như tới đồ gốm Việt nam. Các học giả và các nhà sưu tầm đã sao lãng, không đặt trọng tâm để nghiên cứu. Nếu có, họ thường coi đây như những món sản phẩm lạ của tỉnh nhỏ, và chỉ là một phản ảnh mờ nhạt của đồ gốm Trung hoa.

Đồ gốm Việt Nam phát triển mạnh mẽ sau khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán, chấm dứt một ngàn năm đô hộ của Trung Hoa, năm 936. Trải qua các triều đại hưng thịnh Lý, Trần, Lê, một mặt thâu nhận thêm các nền văn hoá mới trên đường Nam tiến cuả Chàm và Khmer, nhất là về điêu khắc và âm nhạc. Một mặt, muốn thoát khỏi ảnh hưởng trầm trọng của văn hoá Trung hoa, Việt Nam đã phối hợp những nghệ thuật cũ và mới để tạo thành những sản phẩm nghệ thuật có những đặc thù riêng biệt, nhất là về đồ gốm. Nhiều đồ gốm đã được các thương thuyền ngoại quốc mua đem xuất cảng. Sau này người ta đã tìm thấy phần lớn trong các xứ Hồi giáo, vì các đĩa bát lớn cuả đồ gốm Việt Nam rất thích hợp cho chế độ ẩm thực ăn chung và dâng lễ trong tục thờ cúng của họ. Một số cũng đã được mang đến Châu Âu.

Hiện nay, một số các viện bảo tàng tại Á châu, Trung Đông, Úc châu và Âu châu có tàng trữ đồ gốm Việt Nam. Sau chiến tranh, một số đã được đào thấy trên miền Bắc và đồng thời cũng khám phá được các trong các thương thuyền bị đắm trong nhiều thế kỷ trước tại duyên hải Việt nam và gần đây nhất tại biển Phi luật tân, mà người ta cho biết có chuyên chở nhiều đồ gốm cổ Việt Nam.

Theo sự nhận xét cuả những nhà sưu tầm thì những nhà làm đồ gốm Trung hoa, họ là những người hoàn thiện theo cái chuẩn đích kỹ thuật rõ rệt của họ. Men sứ xanh của họ là thứ tuyệt hảo nhất thế giới, những nét trang trí trang nghiêm của họ xoay quanh những tích cổ, những cảnh Phước Lộc Thọ, Thất Hiền, Bát Tiên Quá Hải, hay những con vật linh thiêng như long, ly, quy, phượng vv... gần như không thay đổi mà lúc nào cũng thấy ngày một toàn hảo hơn. Không ai muốn vượt thoát ra ngoài cái khung đó mà từ hàng ngàn đời họ vẫn cho là tuyệt đích. Riêng người làm đồ gốm Việt Nam, với kỹ năng đặc biệt và ưa chuộng sự phóng khoáng trong các nét vẽ trang trí, không như những người thợ đồ gốm ở các xứ khác thường theo khuôn mẫu không mấy thay đổi. Trên đồ gốm Việt Nam, ta thường thấy những nét tự do, như hình một con cá, họ không vẽ như tranh truyền thần mà chỉ cần một số đường nét biểu hiện. Có lẽ, chính vì thế mà những nhà sưu tầm, nhất là những nhà sưu tầm Tây phương rất thích thú đi tìm những nét đặc thù, phóng khoáng của đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua chắc họ cũng đang thấy nhàm về những cách trang trí quá khuôn mẫu và trang nghiêm trên các đồ sứ cổ khác.    
                 

Trong những ngày họp về triển lãm tại Seattle Art Museum, tôi có cơ hội được đọc thêm một số sách về đồ gốm tại thư viện của viện bảo tàng và cũng nhờ người quản thủ thư viện sốt sắng tìm kiếm và tập trung riêng tại một chỗ để giúp tôi có thể  dùng trong nhiều ngày tới. Những sách này phần lớn đều được nhà xuất bản Oxford University Press ấn hành. Thật không ngờ, trong những số sách đó, đồ gốm Việt Nam đã được đặt vào một đia vị quan trọng. Có những cuốn dành riêng cho đồ gốm Việt Nam, còn lại được đặt chung với các nước Đông Nam Á khác. Tuy vậy số trang và hình ảnh đồ gốm Việt Nam trong những cuốn này có một số lượng đáng kể, được coi như một trong những nước dẫn đầu trong vùng.

* Cuốn Vietnamese Ceramics của hội Southeast Asian Ceramic Society, Oxford University Press xuất bản, 180 trang in hình 235 đồ gốm cổ Việt nam từ thế kỷ thứ 6 tới thế ký thứ 17. Trình bày rất mỹ thuật. Cuốn này được in ra nhân dịp cuộc triển lãm về đồ gốm Việt Nam tại Singapore, tháng Sáu năm 1982.

* Cuốn Vietnamese and Chinese Ceramic used in the Japanese Tea Ceremony, của hai tác gỉa người Nhật Hiromu Honda và Noriki Shimazu, do Oxford University Press xuất bản năm 1993. Trong cuốn này có in hình 126 đồ gốm Việt Nam. Điều đáng nói ở đây là người Nhật đã đặt đồ gốm Việt Nam ngang với Trung hoa trong trà đạo của họ.

* Cuốn South-East Asian Ceramics: Thai, Vietnam and Khmer - From the Collection of The Art Gallery of South Australia, tác giả Dick Richards, do Oxford University Press xuất bản năm 1995, 196 trang có in hình 63 đồ sứ Việt nam.

* Cuốn The Ceramics of Southeast Asia - Their Dating and Identification, tác giả Roxanna M. Brown do Oxford University Press và Oxford in Asia Studies in Ceramics xuất bản lần đầu năm 1977, tái bản lần thứ hai năm 1988, có in hình 204 đồ sứ Việt nam từ đời Hán.

* Cuốn SouthEast Asia Ceramics do The Asia Society xuất bản năm 1976 nhân dịp cuộc triển lãm tại Asia House Gallery, Singapore, in hình 55 đồ gốm Việt nam.

* Cuốn Ceramics Art of Southeast Asia, tác giả William Willetts do Southeast Asian Ceramics Society xuất bản năm 1971, nhân dịp cuộc triển lãm lần đầu của hội. Sách này được tái bản lần thứ ba năm 1976. Trong cuốn này Việt nam được phân loại là Group 2: Anamese Wares, có in hình 126 đồ sứ Việt nam.

* Cuốn Oriental Ceramics Discovered in the Philippines, tác giả Leandro and Cecilia Lossin, do The Charles E. Tuttle Company, Inc. xuất bản năm 1967, có in hình một vài đồ sứ Việt nam, dưới danh hiệu là Anamese được tìm thấy ở Phi Luật Tân.

* Cuốn Ceramique Ancienne de L’Asie, bằng Pháp ngữ của tác giả Fujiu Koyama, do Office du Livre- Fribourg (Suisse), xuất bản năm 1959. Sách khổ lớn, trình bày và in rất mỹ thuật, có in 3 hình đồ sứ Việt nam.

* Đặc biệt nhất là cuốn Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition như đã giới thiệu phiá trên, hai tác giả John Stevenson và John Guy, do Art Media Resources xuất bản năm 1997.  Sách khổ lớn, dày 400 trang in hình hơn 500 đồ gốm từ thế kỷ thứ IV trước Kỷ Nguyên, rất mỹ thuật và gồm 12 bài nghiên cứu quan trọng cuả các chuyên gia có kèm theo hình ảnh dẫn chứng liên quan đến di sản đồ gốm Việt Nam. 

Trên đây là những sách được viết bằng Anh và Pháp ngữ được liệt kê để giới thiệu với những ai muốn nghiên cứu thêm về đồ gốm Việt nam. Ngoài ra còn một số các cuốn khác về đồ gốm Á châu hay Đông Nam Á đều có đề cập ít nhiều đến các cổ vật này. 

Tôi cũng cố đi tìm đọc một số sách của các tác giả Việt nam viết về đồ gốm:

*  Tại Việt nam, có cuốn Gốm Bát Tràng, Thế Kỷ XIV-XIX - Bat Trang Ceramics 14th-19th Centuries, các tác giả Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc do nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội ấn hành song ngữ Việt Anh, năm 1995. Sách dày 210 trang, in hình mầu 260 đồ gốm, khá mỹ thuật, có sự bảo trợ của một hai cơ quan ngoại quốc. Sách trình bầy khoa học có tính cách đặc biệt khảo cổ, như những phương pháp quốc tế. Nhiều đồ gốm trong sách này được sưu tầm tại các đền chùa, rất công phu, trên đó có minh văn nên có thể tìm biết được niên hiệu, tác giả của đồ gốm và người cúng dường chùa.

Tại miền Nam, không ai có thể quên được những sách của cụ Vương Hồng Sển, cụ là Giám đốc Nha Khảo Cổ, được xuất bản trước năm 1975. Cuốn nào cũng dày hàng mấy trăm trang.Trong mười cuốn thì có bảy cuốn nói về đồ gốm, nhưng tiếc rằng cụ đã không có cơ hội nghiên cứu tại chỗ về đồ gốm Việt Nam, nên hầu hết cụ đều viết lại các câu chuyện hay dịch theo các sách nghiên cứu của người Pháp về đồ gốm Trung hoa, riêng về Việt nam chỉ có tính cách phụ mà thôi.

Hai cuốn, cụ dịch lại từ Pháp ngữ. Cuốn  Khảo về đồ sứ cổ Trung hoa (Les poteries et porcelaines chinoises) của bà Daisy Lion-Goldsmidt. Và cuốn Cảnh-Đức-Trấn đào lục của Stanislas Julien ấn hành năm 1856. Trong cuốn Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa, thỉnh thoảng cụ cao hứng thêm vào những giai thoại ngắn về đồ gốm Việt Nam. Ngoài ra cụ dành hai chương ngắn cuối cùng, chương IX Đồ gốm Bát Tràng và chương X Tổng lược về mỹ thuật Việt Nam, cụ tóm lược một số tài liệu cuả Viện Viễn Đông Bác Cổ về đồ gốm và mỹ thuật Việt Nam, có nhiều điểm khá quan trọng. Có một đoạn, xin trích để dẫn chứng kinh nghiệm cá nhân của cụ với đồ gốm Việt Nam: “Ấy, trước đây tôi có đến một cặp bình Bát Tràng kiểu rồng nổi y hệt như vầy. Một trong những bình này được mang về Nhật vào cuối thế kỷ thứ 16. Nhưng vì quan niệm lầm lạc và vì tánh khinh thường, tôi dại quá chưa thấy nét đặc sắc của loại nước nhà tôi, loại “Anamese ceramics” mà các nước ngày nay đua nhau tìm kiếm, mình có sẵn một cặp mà bán rẻ mạt, lại còn mừng dứt được của nợ, thiệt là ngu quá đỗi ngu”.

“Mình trách mình cũng oan, tôi tưởng không phải một mình tôi là không biết giá trị đồ gốm Bát tràng. Nhiều tay chơi cổ ngoạn lão luyện hơn tôi rất nhiều, mà hỏi thăm lại, không ai để dành loại đồ gốm này được lâu trong nhà”. (Khảo về Đồ Sứ Cổ Trung Hoa, trang 432-

Đáng buồn nhất là hiện nay một số cổ vật đang bị đánh cắp và cố tình lén lút đưa ra khỏi Việt Nam. Không biết số đồ cổ đáng kẻ̉ do cụ tàng trữ không đã biến đi nơi nào

Cụ Vương Hồng Sển còn viết năm cuốn nữa về đồ sứ cổ như các cuốn Thú Chơi Cổ Ngoạn, cuốn Cuốn Sổ Tay Của Một Người Chơi Cổ Ngoạn, cuốn Khảo Về Đồ Sứ Men Lam Huế hay Thú Chơi Ấm Chén, cụ cho biết đây là món nghề ruột cuả cụ. Cuốn Hơn Nưả Đời Hư, hồi ký cuả một người suýt hư đời vì đồ cổ. Cuốn sau cùng là Một Bộ Môn Sưu Tập Trong Hai Năm, bổ túc cho cuốn Thú Chơi Ấm Chén. Hy vọng rằng ngoài những câu chuyện về thú chơi đồ cổ của cụ, người đọc sẽ được biết thêm về những công trình nghiên cứu, sưu tầm về đồ gốm Việt nam như một khoa khảo cổ.

Nhân có cuộc triển lãm, tôi mang một vài cuốn sách mượn được của thư viện đến để trình bày về đồ gốm Việt Nam cho buổi họp bạn. Tới đoạn tôi cho họ biết, một cuốn sách dày 400 trang với  đầy đủ hình ảnh về đồ gốm Việt Nam, do ông John Stevenson sưu tầm sắp được xuất bản, thì một người bạn đã không dằn được nỗi bất bình phải phát biểu, tại sao một người ngoại quốc họ có thể viết được một cuốn sách dày đến thế, mà gần như suốt một đời mình không hay biết gì đến những đồ gốm  từ ngàn xưa của tiền nhân để lại cho đất nước. Mọi người lúc nào cũng cố đi tìm và đem khoe những chiếc bình cổ, bát sứ đời Thanh, đời Khang Hy. Tôi nhớ lại sự hối tiếc và tự giận mình cuả cụ Vương Hồng Sển khi đem bán đôi bình Bát Tràng, mà sau này cố tìm để mua lại mà không được. Chính tôi, tôi cũng có cùng cảm nghĩ như người bạn, khi bắt đầu tham dự vào cuộc triển lãm. Tôi lại nghĩ thêm rằng, nếu có một người Việt nào viết ra, chưa chắc đã được mọi người lưu ý, quý trọng, tốt hơn hết là để người ngoài họ viết và họ chỉ cho mình biết những di sản vô thừa nhận đó.

Chúng ta đã bị ảnh hưởng của các nền văn hoá bị trị nhiều khi đến độ bị nhiễm độc. Tàn tích một trăm năm nô lệ của người Pháp gần như đã gột rửa được, một ngàn năm đô hộ cuả người Tàu vẫn còn nặng nề, tuy đã có bao nhiêu nỗ lực Việt nam hoá. Thuở nhỏ, chúng ta thường được răn dậy, không được dùng giấy có in chữ Nho vào việc gói hàng hay nhơ bẩn, vì đó là chữ cuả thánh hiền để thờ. Còn chữ Nôm thì bị gọi là nôm na mách qué, và chữ Quốc ngữ thì bị gọi là chữ xích chó vì nó lằng ngoằng dính vào với nhau. Đến nay, ấn tượng trên, khiến tôi và một số người vẫn còn cảm thấy e dè khi thấy chữ Nho.

Tôi quay lại phòng triển lãm nhiều lần, có lúc đứng trầm ngâm trước những cổ vật, trước những di sản cuả tiền nhân để lại từ hàng ngàn năm trước. Những bình, những bát gốm trong lồng kính, luân lạc đến đây, đã được làm nên từ những thớ đất tinh tuyền cuả vùng châu thổ sông Hồng mà thuở ấu thời, tôi đã bao lần bơi lội trong dòng nước phù sa huyền thoại đó. Tôi tin là mỗi cổ vật có một đời sống riêng và một linh hồn. Có những lúc tôi cầm lại chiếc bát sứ cổ, miệng viền bạc trên bàn thờ gia tiên của gia đình và nhớ lại buổi chiều cuối cùng ở Việt nam năm 1975. Trong lúc hốt hoảng cố tìm đường thoát, khi ngang qua bàn thờ đã vơ vội ba chiếc bát cổ thường dùng để đựng cơm dâng cúng. Những chiếc bát này là những chiếc còn sót lại trong một số bát đĩa mẹ tôi đem theo từ Bắc vào Nam khi đất nước chia đôi năm 1954, không biết trước đó cụ mua từ năm nào. Chiếc tàu của hạm đội vượt biển năm đó, hỏng một máy và không bánh lái, hàng ngàn người chơi vơi giữa biển như một đám ma trơi. Không còn một thứ gì để đựng phần cơm, phần nước được chia mang về cho mấy đứa con, đành phải mang mấy chiếc bát cổ ra dùng. Hai chiếc đã vỡ, một chiếc còn lại trên bàn thờ như một di sản. Nó cũng đã từng theo người mẹ đã mất, qua những thời hưng thịnh, cỗ bàn giỗ tết cuả miền đất xa xưa. Nó cũng đã nổi trôi, dâu biển theo dòng lịch sử trầm luân cuả đất nước gần thế kỷ qua. Hi vọng những đứa con ngày nào trên biển đã cùng chia sẻ từng hạt cơm, miếng nước sẽ tiếp nhận mang theo, không như những cổ vật cô hồn trong lồng kính kia đã bị chối bỏ đời sống và linh hồn truyền kỳ gắn chặt với tiền nhân.    

 

            

THƯ MỤC THAM KHẢO:

Anh Ngữ:

1-    Vietnamese Ceramic:  A Separate Tradition, John Stevenson và John Guy, Nhà xuất bản Art Media Resources 1997             

2-     South-East Asian Ceramics:  Thai, Vietnam, and Khmer - From he Collection of The Art Gallery of South Australia, Dick Richards, Nhà xuất bản Oxford University Press 1995

3-    Vietnamese and Chinese Ceramic used in the Japanese Tea Ceremony, Hiromu Honda và Noriki Shimazu, Nhá xuất bản Oxford University Press1993

4-    Vietnamese Ceramic, Southeast Asian Ceramic Society, Nhà xuất bản Oxford University Press, 1982

5-    The Ceramic of South-East Asia - Their Dating and Identification, Roxanna M. Brown, Nhà xuất bản Oxford University Press, 1977

6-    SouthEast Asia Ceramics, The Asia Society, 1976

7-    Ceramic Art of SouthEast Asia, William Willetts, Nhà xuất bản SouthEast Asia Ceramics Society, 1971

8-    Oriental Ceramics Discovered in the Philippines, Leandro và Cecilia Lossin, Nhà xuất bản Charles E. Tuttle Company, Inc., 1967

Pháp Ngữ

9-    Ceramique Ancienne de l Asie, Fujiu Koyama, Nhà xuất bản Office du Livre-Fribourg (Suisse), 1959

Việt-Anh Ngữ:

10-                         Gốm Bát Tràng, Thế Kỷ XIV-XIX - Bat Trang Ceramics 14th - 19th Centuries, Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, và Nguyễn Quang Ngọc, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà-nộI, 1995

 

Sau đây là những tác phẩm cuả cụ Vương Hồng Sển (Chi tiết về năm và nhà xuất bản những sách này, xin    xem phần giới thiệu trong tác phẩm mới phát hành của cụ Hơn Nửa Đời Hư):

11-                         Khảo về Đồ Sứ Cổ Trung Hoa bản dịch cuốn Les Poteries et Porcelaines chinoises của     bà Daisy Lion-Goldsmidt (đã tái bản tại hải ngoại)

12-                         Cảnh Đức Trấn Đào Lục của Stanislas Julien (đã tái bản tại hải ngoại)

13-                         Thú Chơi Cổ ngoạn, 1971-Cuốn Sổ Tay Của Một Người Chơi Cổ Ngoạn, 1971

14-                         Khảo Về Đồ Sứ Men Huế hay Thú Chơi Ấm Chén (chưa xuất bản)

15-                         Một Bộ Môn Sưu Tập Trong Hai Năm bổ túc cho Thú Chơi Ấm Chén (chưa xuất bản)

16-                        Hơn Nửa Đời Hư (đã xuất bản tại hải ngoại)

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 113168)
Tình yêu, cũng như chiến tranh, là hai đề tài muôn thuở của con người. Văn chương ngoại quốc nói về chiến tranh, viết về những trận chiến gần, xa trong lịch sử, chúng ta vẫn thích đọc. Vậy thì tại sao, người Việt Nam viết về chiến tranh Việt Nam lại nhàm chán?
20 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 116409)
... Tôi đã từng ăn thịt chuột. Tôi ăn vụng của em tôi. Bố cấm tôi nói cho ai biết. Bố đã cho thằng em tôi ăn bao nhiêu con chuột tôi cũng không nhớ nổi. Chỉ có điều bố thích như vậy. Bố nướng con chuột lên, thế thôi. Thằng em tôi cười hềnh hệch, nước dãi chảy dài, cầm con chuột gặm như một bắp ngô nướng. Những tảng máu chưa đông rịn đỏ hai mép. Tôi thấy đầu mình ung ung. Những hình ảnh như những mảnh vỡ lộn xộn va đập vào nhau liên hồi ...
20 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 116491)
Không ai biết cuộc sống của ai đang xáo trộn. Không ai biết ai đang nghĩ gì. Người chồng không bao giờ biết người vợ vừa gối đầu lên tay mình vừa dâm hoan với sếp của ả trong giấc mơ. Gã sếp đô con, bụng cuộn lên những bó cơ và làm tình thì miễn bàn. Người chồng không bao giờ biết âm hộ của ả nóng bừng như muốn nổ tung ra. Mà biết cũng chẳng thể chết ai vì ả là vợ của anh ta.
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 145159)
(Gởi anh Huy & chị Minh) Câu thơ còn trong trí nhớ Như mùa thu mỗi năm lại về Theo tuần hoàn trời đất Như đôi mắt em buồn giấu kín Chịu đựng An phận Cuộc đời mình mùa xuân đi qua Rất xa, rất xa...
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 116203)
Thành phố nằm bên một rẻo biển miền Trung yên bình và tĩnh lặng. Những ngày gầ n đây bổng nhiên được khuấy động bởi mấy chú cá mập, không hiểu vì sao lại lang thang vào bờ, chúng lượn lờ nơi bãi tắm trước khuôn viên trường, là bãi du lịch của thành phố. Thỉnh thoảng chúng lại ruỗi theo sóng nước cợt nhã với con người. Có hôm một chú cá mập con nhá vào mông ai đó, có hôm lại ngoạm vào giò của kẻ nào bơi đến gần. Bạn tôi phán: đất này “linh kiệt”. Tôi cười vui: Đất lành chim đậu, biển lành cá mập làm tổ .
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 116780)
Trong tình bằng hữu nhiều năm với Huy, được sự đồng ý của chị Cao Xuân Huy và hai cháu Chúc Dung & Xuân Dung, bài viết thiên về khía cạnh y khoa này, nói về một Cao Xuân Huy khác, người bệnh Cao Xuân Huy chênh vênh trên con dốc của tử sinh, đã can trường chống chỏi với bệnh tật cho tới những ngày và giờ phút cuối cùng và đã ra đi với tất cả “phẩm giá”. NGÔ THẾ VINH
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 109077)
Cao Xuân Huy có người cha đi kháng chiến, để lại vợ con trong thành. Rồi, 1954, ông ngoại bị đấu tố, người cậu cấp bách đem cháu, 7 tuổi, vào Nam. Mẹ ở lại Hà Nội đợi bố. Về, nhưng người cha kháng chiến, gốc tư sản, địa chủ, không thể "can thiệp" cho người mẹ khỏi diện "tự lực cánh sinh" (như đi "kinh tế mới"). Rồi họ chia nhau con cái: mẹ để lại con gái cho bố, vào Nam với con trai. Xa cách, mỗi người lập một gia đình khác, có các con khác. Huy được cậu và bà ngoại nuôi. Như một định mệnh, chuyện nhà Huy trùng hợp với chuyện đất nước, với truyền thuyết Sơn tinh Thủy tinh, với bao gia đình thời chia đôi Nam-Bắc.
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 112945)
Thường, khi viết về một nhà văn, trong vai trò của một người làm phê bình, tôi chỉ quan tâm đến tác phẩm, đến văn bản. Đúng hơn là tôi quan tâm đến văn bản văn học, và cái cách mà tác giả của nó đã, cùng với các độc giả của mình, biến nó thành một tác phẩm văn chương. Tôi không quan tâm lắm đến tác giả.
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 115216)
Cánh đồng trải rộng mênh mông ngút ngàn, nhìn xa xa chỉ thấy sương mờ tựa mây lãng đãng bay thấp, lòa xòa bôi xóa nhạt nhòa đường viền chân trời. Thời xưa Cao Biền đã nhiều lần cỡi diều bay tới, tay cầm quạt giấy phất bằng lụa bạch, nan cánh quạt đúc bằng vàng khối tinh ròng, toan tính yểm đất.
09 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 102242)
Cuối cùng rồi tôi cũng đọc quyển hồi ký ấy, quyển hồi ký gắn liền với một cái tên suốt 25 năm dài. Làm như người ấy tái sinh với tên cũ dài hơn: Cao Xuân Huy Tháng Ba Gãy Súng.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3808)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13271)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19629)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18609)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1596)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1748)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2267)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2392)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1429)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2197)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1926)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1978)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1340)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2382)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2574)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2350)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 227)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 780)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 982)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1089)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6392)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15874)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32125)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38850)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1451)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13875)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6889)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10653)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9851)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9974)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10771)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3432)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11111)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10340)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi