- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

BƯỚC CHUYỂN MỚI CỦA OCEAN VUONG NĂM 2025

08 Tháng Mười Hai 20256:59 CH(Xem: 11832)

BƯỚC CHUYỂN MỚI

CỦA OCEAN VUONG NĂM 2025

                                                     

                                                                                             Bài viết của Phan Tấn Uẩn



Ocean Vuong
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (*). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness (397 trang; 25 chương đánh số từ 1 đến 25; Nhà Xuất bản Penguin Press, New York, 2025) . Tác phẩm mới nầy nhanh chóng được các danh sách uy tín của Amazon xếp vào một trong những cuốn sách được mong chờ nhất trong năm 2025(**) và xác nhận Ocean Vuong đã chuyển từ “ngôi sao mới của thơ ca” thành “một trong những giọng văn triển vọng của thế kỷ XXI”.

 

 The Emperor of Gladness  


Câu chuyện mở đầu với nhân vật chính tên Hai, một thanh niên 19 tuổi đang sống trong tuyệt vọng. Trong một khoảnh khắc bi thảm, Hai định nhảy từ một cây cầu bắc ngang con sông trong thị trấn nhỏ East Gladness để chấm dứt cuộc đời. Nhưng vào phút định mệnh ấy, một bà lão nhập cư, Grazina, bất ngờ lên tiếng gọi, kéo Hai ra khỏi bờ vực. Từ đó mở ra một khởi đầu mới...

Nguồn cơn nhảy cầu như sau: Trong suốt câu chuyện. Hai phải vật lộn với chứng nghiện chất kích thích và có phần xa lánh mẹ mình. Anh đăng ký học đại học ở New York. Tuy nhiên, sau khi một người bạn thân và người yêu qua đời vì dùng thuốc quá liều khi Hai đang học đại học, Hai thấy mình không thể tiếp tục và bỏ học, trở về nhà. Việc Hai xử dụng chất kích thích, cùng với khoản nợ học phí chưa thanh toán và việc không hoàn thành đại học, đã khiến người mẹ vô cùng tức giận, nhất là chuyện Hai chưa bao giờ nói với bà lý do thực sự khiến mình bỏ học. Sau đó, Hai lại nói dối với bà vào trường y ở Boston, nhưng thực sự là tự nguyện vào trung tâm cai nghiện. Sau khi ra trại, Hai nhận ra mình vẫn không thể thú nhận với mẹ và quyết định nhảy cầu tự tử…

Tiếp tục mạch truyện. Grazina, với trí nhớ lẫn lộn, mời Hai về sống cùng, đề nghị Hai giúp đỡ . Hai đồng ý và có bổn phận cho Grazina uống thuốc hàng ngày, giúp bà vượt qua những cơn mất trí . Chẳng hạn, khi Grazina tưởng rằng bà là một cô gái trẻ ở châu Âu trong Thế chiến II, thì Hai vào vai một người lính tên là "Trung sĩ Pepper" và cùng bà  giả đánh  nhau  rồi trốn thoát đến nhiều nơi khác ở châu Âu để tìm cách đến nước Mỹ.  .

Để có tiền sinh hoạt, Hai nhận thêm công việc tại HomeMarket, một cửa hàng thức ăn nhanh. Hai làm việc chung với nhiều người khác cũng đang vật lộn với các hoàn cảnh khó khăn như anh. Những người nầy là Sony, anh họ của Hai mắc chứng rối loạn thần kinh; là Big Jean, một phụ nữ da đen mơ trở thành nhà đấu vật chuyên nghiệp nhưng thất bại; là Russia, một cậu bé nghiện hút cần sa; là Maureen, một phụ nữ lớn tuổi quản lý thu ngân và Wayne, một đàn ông da đen phụ trách quầy gà. Giữa mùi dầu nóng và tiếng máy, dưới ánh đèn néon và áp lực công việc tại HomeMarket, Hai vẫn tìm thấy một cộng đồng của những số phận bên lề xã hội.           

 

Kết luận, The Emperor of Gladness phơi bày những thân phận bị lãng quên: người già mất trí, người trẻ thất vọng, người nhập cư, người lao động thấp kém — những con người sống lặng lẽ, giữa bóng đêm của xã hội không ai quan tâm. Tuy nhiên, từ những đời sống ấy vẫn có những khoảnh khắc ánh lên sự đồng cảm, thương yêu, quan tâm cuộc sống của nhau … Những con người chỉ cần một nụ cười bất chợt, một ly cà phê đêm, một lời thăm hỏi cũng đủ giữ họ lại trên bờ vực. Tác phẩm không có bi kịch lớn, không có cao trào rực rỡ, hay “giải thoát” thần kỳ. Thay vào đó, là những ngày vật vã, lặng lẽ, nhưng cũng đầy tình người. Không có một hồi kết đẹp, vì nhân vật chính không tìm được “giấc mơ Mỹ”. Tuy nhiên, anh ta tìm được nơi trú ẩn để có lý do tiếp tục hướng về tương lai…

 

Bước chuyển mới

      Tựa đề The Emperor of Gladness có thể khiến người đọc bở ngỡ. Gladness là niềm vui, cũng là tên hư cấu một ngọn núi. “Hoàng đế của niềm vui” , tên gọi nghe như một nghịch lý. Thật ra , The Emperor of Gladness là một ẩn dụ mỉa mai nhưng ấm áp, ca ngợi phẩm giá của những đời sống bên lề xã hội. Nó chẳng khác gì một thông điệp: Giữa nghèo đói, nghiện ngập, bệnh tật, ký ức chiến tranh, và nỗi cô đơn… con người vẫn có thể tạo ra những khoảnh khắc vui sống. Và chỉ thế thôi, cũng đủ để họ trở thành “hoàng đế” của chính cuộc đời mình.

 

       Nhiều năm trước, văn chương Ocean Vuong gắn với những mất mát, chiến tranh, ký ức di dân, cái chết của người mẹ, sự cô độc của tuổi trẻ , và những thiếu sót từ di truyền ... Niềm vui nếu có  vẫn luôn là thứ ánh sáng nhỏ nhoi le lói ở cuối vết thương. Vậy mà trong tác phẩm 2025, Ocean Vuong lại đặt tên mình bên cạnh “Gladness”, muốn làm phép thử với chính thế giới đã quen nhìn Vương như biểu tượng của nỗi đau dịu dàng.

 

Nhưng chính vì vậy, tác phẩm lại có giá trị được văn giới ca ngợi. Bởi Ocean Vuong không viết niềm vui như đối lập của đau thương. Vương viết niềm vui như một dạng sâu hơn của hồi sinh.

Nhà xuất bản Penguin Press, khi giới thiệu The Emperor of Gladness, đã trích dẫn các nhận định của hai nhà nghiên cứu phê bình văn học Colm Tóibí (tác giả Long Island và Brooklyn) và  Rebecca Solnit (tác giả A Field Guide to Getting Lost và Recollections of My Nonexistence):

 

“The Emperor of Gladness là một câu chuyện giàu chất thơ, kịch tính và sống động. Mang tầm vóc sử thi, nhưng cuốn tiểu thuyết cũng chạm đến sự thân mật và tình yêu bằng sự tinh tế và nét độc đáo sâu thẳm. Hai và Grazina—những con người bước ra từ bên lề đời sống Mỹ qua ngòi bút Ocean Vuong—đã, bằng sức mạnh của lòng cảm thông và trí tưởng tượng phi thường, được đặt vào đúng trung tâm thế giới này.” (Colm Tóibín)

 

“Uyển chuyển và lay động, The Emperor of Gladness là cuốn sách viết về những con người đứng bên lề xã hội và của cả sự tỉnh táo. Điều khiến tôi bất ngờ và thích thú là: tiểu thuyết của Vuong còn dí dỏm, tinh quái—và đôi khi táo bạo đến mức gây sửng sốt—một tác phẩm vừa hài kịch lại vừa bi kịch.” (Rebecca Solnit)

 

Đọc The Emperor of Gladness tưởng chừng tác giả tiếp tục khai thác những chất liệu quen thuộc như ký ức gia đình, hành trình lớn lên của một người Mỹ gốc Việt, những bóng mờ của chiến tranh, sự phân mảnh của ngôn ngữ, và nỗi cô độc dàn trải trong đời sống di dân. Nhưng trong tiểu thuyết thứ hai có nhiều điểm mới về nhịp điệu, mở rộng biên giới nội dung. Không nhấn mạnh nỗi đau cố hữu, tác phẩm đi từ “nỗi đau riêng tư” sang “ý nghĩa tồn tại”.

Cùng với nhận định trên, nhiều nhà phê bình khi nói về tác phẩm nầy, cho rằng Ocean Vuong đang chuyển giọng. Nếu trong những tác phẩm trước đậm đặc chất quá khứ thì trong The Emperor of Gladness, Vương viết như người đứng ở cuối vùng tối sắp bước qua vùng sáng, hay nói một cách văn vẻ hơn: đã chạm đến rìa hồi sinh, một dạng hồi sinh thầm lặng, giống như một bông hoa mọc lên bên cạnh một tảng đá, nơi không ai ngờ tới.

 

Phân tích sâu hơn, điều đầu tiên làm The Emperor of Gladness nổi bật là cách Vương xử lý thời gian. Trong tác phẩm này, thời gian xuất hiện như một nếp gấp (***) với những đoạn văn nhảy giữa tuổi thơ, tuổi trưởng thành, những khoảnh khắc sống của người mẹ, những dấu vết của chiến tranh. Không có ranh giới rõ rệt. Thời gian trong tác phẩm vận hành như sóng biển: có lúc tràn vào bờ, có lúc rút xuống, có lúc mải mê vỗ vào một tảng đá , để rồi bất ngờ rút lui ra và để lại một con ốc nhỏ—một chi tiết làm thay đổi toàn bộ câu chuyện.

 

Những hình tượng trong tác phẩm luôn có tính mơ hồ, vừa như ký ức, vừa như thơ ca. Người đọc không phân biệt được đâu là thật, đâu là ẩn dụ. Nhưng chính sự mơ hồ ấy lại khiến cảm xúc trở nên rất thật, chẳng hạn hình tượng “hoàng đế”. Hoàng đế trong tác phẩm không phải là một nhân vật, mà chỉ là một cảm giác. Một trạng thái tinh thần. Đó là thời khắc con người tìm được quyền lực tối giản nhất của đời mình: quyền được vui vẻ, dù chỉ trong thoáng chốc. Cái “vui” trong tác phẩm không nổi bật, không rực rỡ, chỉ là cái vui mong manh của người vừa “khóc” xong. Đúng là tác giả muốn vượt qua nỗi buồn, nhưng nó vẫn lấp ló dưới từng nhịp sống.

The Emperor of Gladness dễ khiến người đọc cảm thấy như mình đang tản bộ trong khu vườn lúc chiều muộn: ánh sáng đang tắt dần, nhưng trong phút cuối, mọi thứ bỗng lấp lánh một cách khó giải thích. Một khoảnh khắc đẹp.

 

Điểm đáng nói hơn nữa về tác phẩm là cách Ocean Vuong làm tăng ảnh hưởng của thơ trong văn xuôi. On Earth We’re Briefly Gorgeous vốn đã là nửa thơ nửa tiểu thuyết, nhưng The Emperor of Gladness còn tiến xa hơn: ở nhiều đoạn, ngôn ngữ có nhịp đập rất giống nhịp của một bài thơ tự do dài. Có câu chỉ một từ. Có đoạn như tiếng thở. Có trang như sự vỡ òa. Nhịp điệu này khiến người đọc không đọc nữa, mà lắng nghe. Nghe nhịp tim của người viết. Nghe tiếng chân của ký ức. Nghe tiếng rạn nứt của những điều tưởng đã quên.

 

Không chỉ có vẻ đẹp, tác phẩm còn mang tính thử nghiệm kín đáo. Vương mở rộng cấu trúc câu chuyện để cho thời gian và ký ức đan xen vào nhau như những lớp sóng. Không phô trương sự đổi mới, nhưng người đọc vẫn cảm nhận rõ những chuyển động tinh tế trong cách Vương xử dụng ngôn từ. Có đoạn gần với triết học, có đoạn gần với thể ký, có đoạn gần giống như bức thư gởi mẹ…. Sự đa dạng này cho thấy Ocean Vuong không còn bó hẹp trong giọng nói quen thuộc của mình mà cất lên giọng điệu mới.

 

Một trong những điểm mạnh nhất là, The Emperor of Gladness đi qua bóng tối mà không trú ẩn trong đó. Những tác phẩm trước của Vương, dù hay đẹp, vẫn cho ta cảm giác như tiếng nức nở bị nén ép, khác với tác phẩm năm 2025 người đọc cảm nhận được sự bình thản. Qua một hành trình mất mát - mất mẹ, mất nguồn cội, mất thời thơ ấu – Vương đã đi đến một điểm dừng lặng lẽ. Điểm dừng đó là sự sống còn không do vượt qua nỗi buồn, mà do biết vịn vào nó. Và cũng tại đó, Vương bắt đầu viết về niềm vui - dù mong manh cũng khiến ta tin vào hy vọng trước mắt. Đây chính là ý nghĩa của chữ “Emperor”: không phải vua của quyền lực, mà là vua của khoảnh khắc.

 

Một số độc giả có thể cảm thấy văn phong Ocean Vuong quá mơ hồ, thiếu cốt truyện, quá nặng biểu tượng, và đôi khi như trôi dạt giữa trời thơ hơn là rừng văn. Người đọc nào muốn tìm thấy một câu chuyện rõ ràng, một cốt truyện mạch lạc trong The Emperor of Gladness rất dễ thấy mình lạc lõng. Điều nầy không phải là sai hỏng mà chỉ do bản chất của Ocean Vuong. Tác phẩm của Vương không phải “để đọc”, mà để “cùng đồng hành”. Những ai từng quen với phong cách và biết rõ tài năng của Vuong hoặc trải qua những hoàn cảnh mất mát tương tự như tác giả, sẽ yêu thích The Emperor of Gladness. Những ai không quen với văn chương giàu tính tượng trưng, không thích những sáng tạo ngôn ngữ hay nghệ thuật sáng tác đương đại, sẽ khó tiếp cận văn chương Ocean Vuong.

 

Năm 2025, chúng ta nhìn Ocean Vuong như nhìn một người vừa bước qua một khu rừng tang tóc, đứng giữa thung lũng sương mờ và quyết định một cách lặng lẽ rằng mình vẫn muốn đi tiếp. Chính vì thế, The Emperor of Gladness là một tác phẩm rất cần thiết. Cần thiết cho chính Vương. Và cho cả người đọc…Vì tác giả đã bắt đầu chạm vào niềm vui sau cả thập kỷ viết về nỗi đau.

Nếu văn chương là nơi người ta đi tìm danh tính cho chính mình, thì năm 2025, Ocean Vuong đã có thêm một tên mới: Người kể chuyện của ánh sáng tồn tại.

 

*

Năm 2019 tôi từng phải về Orlando mua cuốn On Earth We’re Briefly Gorgeous do không tìm thấy ở Gainesville. Mua để biết tại sao giới văn báo Mỹ khen ngợi Ocean Vuong hết lời. Năm 2025, nhà sách Barns & Noble mở cửa trở lại ở Gainesville, chúng tôi tìm mua ngay để có nguyên bản tác phẩm The Emperor of Gladness. Bài viết nầy lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết thứ hai của Vuong. Dưới mắt chúng tôi, Ocean Vuong là tác giả người Mỹ gốc Việt tài năng nhất của văn học Mỹ…Xứng đáng để mất công tra cứu sưu tầm và viết về Ocean Vuong, một anh chàng trông thật hiền lành ,dễ thương, khiêm tốn với tài năng hiếm có của cộng đồng người Việt hải ngoại…

 

     Dưới đăy là một số trích dẫn từ The Emperor of Gladness …

                                                                                                         

“… Thị trấn của chúng tôi được dựng lên trên một mảnh đất sần sùi bên dòng sông vùng New England. Khi những tảng băng tiền sử tan chảy, cả thung lũng biến thành một hồ nước khổng lồ. Và khi hồ cạn, nó để lại một dải bạc mảnh mai chạy dọc đáy trũng – con sông Connecticut, theo tiếng Algonquin nghĩa là ‘dòng sông thủy triều dài.”

                                                                                             

    Đối thoại giữa Hai và bà già mất trí Grazina:

“…Được rồi,” bà thở nhẹ, “nhưng tôi đang chào ai đây?”

 “Tên tôi là Hai.”

 “Tên cậu là Hello à?”

Hai gật đầu đại. “Ừ.”

“À.” Mắt bà sáng lên, chỉ một ngón tay cong về phía Hai. “Vậy tên cậu là Labas! ”

“Cái gì?”

“Labas ở nước tôi có nghĩa là ‘xin chào’.”

Bà đưa tay qua bàn để bắt tay Hai.

“Xin chào, Labas. Tôi là Grazina. Nghĩa là ‘đẹp.’.”

Bà nhe răng cười, điếu thuốc âm ỉ khói giữa những chiếc răng vàng.”                                                                                         

 

…“Chiếc áo khoác từng thuộc về Noah, người bạn mà cậu quen khi cùng làm việc về trồng thuốc lá năm mười bốn tuổi, giữa những luống cây xanh rợp nở dọc con sông chia đôi thị trấn East Gladness. Tên thật của cậu ta không phải Noah, nhưng đó là cái tên Hai bắt đầu gọi một tuần sau khi cậu ấy mất. Lý do là, tại sao người đã khuất lại không thể có một cái tên mới?”

 

 …“Cơn mưa như một tấm màn xám kéo từ trời xuống. Hai đứng trên lan can cầu, nước lạnh ngấm vào áo, vào da, vào xương. Dưới chân anh, dòng sông tối đặc lại mà anh coi như một lối thoát. Nhưng chính trong khoảnh khắc tưởng đã buông tay ấy, một giọng nói khản đục vang lên từ bờ bên kia — mong manh, run rẩy, nhưng đủ để kéo anh trở lại mặt đất. Giọng nói của một người xa lạ. Và đôi khi, chính người xa lạ lại là sợi chỉ buộc chặt anh với cuộc đời này.”

 

…” Trong căn bếp ọp ẹp, Hai bày bữa ăn đơn sơ lên bàn: một đĩa trứng chiên còn dính mỡ, vài lát bánh mì, chút bơ sắp chảy. Grazina nhìn món ăn như thể đang nhìn một ký ức mờ nhòe của tuổi trẻ. Khi bà đưa muỗng lên, đôi bàn tay run run như đang lần lại thời gian. Hai ngồi đối diện, bỗng thấy căn bếp nhỏ sáng lên — không vì ánh đèn, mà vì cảm giác lần đầu tiên có người đón nhận món ăn do chính tay mình làm. Trong khung cảnh nghèo nàn, một căn nhà được dựng lên bằng hơi ấm tình người…”

 

“… Buổi chiều ở East Gladness luôn xuống rất chậm, như thể mặt trời cũng ngại phải rời khỏi thị trấn này. Từ cửa sổ, Hai và Grazina nhìn ánh đèn nhấp nháy xanh đỏ của siêu thị, một thứ ánh sáng rẻ tiền nhưng lại khiến con phố ẩm thấp bừng lên sinh khí. “Đèn rẻ tiền cũng là đèn,” Grazina nói. Hai bật cười — nụ cười hiếm hoi trong suốt cả ngày dài. Và trong khoảnh khắc ấy, Hai chợt hiểu: đôi khi, sự cứu rỗi không đến từ phép màu, mà từ những ánh sáng nhỏ nhoi ta vẫn thường lướt qua không để ý.”

 

   (Bài viết tham khảo từ nhiều sách báo văn chương Mỹ)

 

Tháng 12/2025

CHÚ THÍCH:

   (*) Ghi chú ở bìa sau : Ocean Vuong là tác giả của hai tập thơ được giới phê bình ca ngợi là Night Sky with Exit Wounds và Time Is a Mother, cũng như cuốn tiểu thuyết best-seller của New York Times On Earth We’re Briefly Gorgeous. Vương là người nhận học bổng MacArthur Fellowship và giải American Book Award. Trước đây, Vương từng làm việc tại một tiệm thức ăn nhanh — trải nghiệm nầy đã truyền cảm hứng cho The Emperor of Gladness. Sinh tại Sài Gòn, Việt Nam, hiện Vương phân chia thời gian sống và làm việc giữa Northampton, Massachusetts và thành phố New York.

Ocean Vuong bw

(**)Theo Amazon Books Editors, The Emperor of Gladness của Ocean Vuong là một trong 10 cuốn sách hay nhất năm 2025 . Trong danh sách “10 Best Books of 2025 So Far”, The Emperor of Gladness đứng ở vị trí số 4. Và trong danh sách “Best Books of 2025” toàn năm theo Amazon thì nó cũng được lọt vào top 20 và cũng ở vị trí số 4.

Dưới đây là danh sách 20 cuốn “Best Books of 2025” theo Amazon Editors:

  1. 1.      Buckeye — Patrick Ryan
  2. 2.      The Correspondent — Virginia Evans
  3. 3.      The Boys in the Light — Nina Willner
  4. 4.      The Emperor of Gladness — Ocean Vuong
  5. 5.      Wild Dark Shore — Charlotte McConaghy
  6. 6.       The Intruder — Freida McFadden
  7. 7.      Awake — Jen Hatmaker
  8. 8.       Atmosphere — Taylor Jenkins Reid
  9. 9.      Replaceable You: Adventures in Human Anatomy — Mary Roach
  10. 10.  The Loneliness of Sonia and Sunny — Kiran Desai
  11. 11.   Broken Country — Clare Leslie Hall
  12. 12.  Paper Girl: A Memoir of Home and Family in a Fractured America — Beth Macy
  13. 13.  Katabasis — R.F. Kuang
  14. 14.  Cursed Daughters — Oyinkan Braithwaite
  15. 15.  Next of Kin — Gabrielle Hamilton
  16. 16.  King of Ashes — S.A. Cosby
  17. 17.  The Beast in the Clouds — Nathalia Holt
  18. 18.  Heart the Lover — Lily King
  19. 19.  The Book of Guilt — Catherine Chidgey
  20. 20.   Baldwin: A Love Story — Nicholas Boggs

 

(***) “Thời gian xuất hiện như một nếp gấp”: Một hình ảnh ẩn dụ về cách thời gian vận hành trong văn chương, đặc biệt trong lối viết của Ocean Vuong, có nghĩa là: thời gian không trôi tuần tự theo quá khứ qua hiện tại tiến về tương lai, mà gấp khúc, chồng lên nhau, đụng mép nhau, như một tờ giấy bị gấp lại khiến những khoảnh khắc tưởng xa nhau, lại nằm sát cạnh nhau.

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Giêng 20251:51 SA(Xem: 25544)
Trong văn học thế giới có những bài Thơ nổi tiếng, văn học sử thường gọi là Thơ đánh dấu thời đại. Bất kỳ độc giả thơ nào quan tâm đến Thi Ca trên thế giới có lẽ đã từng nghe hoặc đọc một số bài Thơ này, dưới dạng bản dịch hoặc bản gốc. Và thậm chí nếu người ấy đọc một bài Thơ hay, họ sẽ nhận ra rằng bài Thơ đó chỉ có thể được viết ra trong khoảnh khắc cảm hứng.
18 Tháng Giêng 20259:58 CH(Xem: 23234)
cứ thích mùa xuân đừng đi vội / để ngồi bên bếp lửa hồng tươi / ngồi bên cạnh mẹ cầm tay mẹ / ấm áp tình thương cũng đủ rồi /
16 Tháng Giêng 202510:22 CH(Xem: 26136)
con én nhỏ đã về nơi chốn cũ / như từng hẹn hò từ thuở ban sơ / mùa rất vội nên lời chào cũng vội / nắng chiều qua sông, bỏ lại đôi bờ
16 Tháng Giêng 20259:35 CH(Xem: 20093)
Chiều cuối năm—năm nay—tôi ngồi kề bên vuông cửa sổ. Tách trà còn ấm. Ngát hương sen. Tôi ngắm nhìn phố xá bên dưới lòng đường. Chiều ba mươi tháng Chạp. Con đường xứ người nhưng quen thuộc. Bảng tên đường—bên trên là dòng chữ lạ. Bên dưới mang tên quen. Trần Hưng Đạo. Thành phố Sài Gòn bây giờ thu nhỏ lại.
15 Tháng Giêng 202512:03 SA(Xem: 24684)
Ta thắp giao hòa nén nhang / Cúi đầu anh linh tiên tổ / Như mẹ buông tiếng thở dài sương khói / nhân gian ngoài khung cửa / Bóng cha tít tắp luống cày hun hút cánh đồng/ lấm tấm hoa dại vời vợi cỏ non … / Những cánh ong toả hương
14 Tháng Giêng 202511:55 CH(Xem: 22247)
Khi bước sang tháng chạp / Xuân về đến ngõ rồi / Mai vàng e ấp nụ / Về vui tết người ơi.
14 Tháng Giêng 202511:42 CH(Xem: 19165)
Tết không đơn thuần là cột mốc đặc biệt của tháng năm ghi dấu nơi tờ lịch mà là một phần của tâm thức tồn tại vĩnh viễn bên trong hồn người. Chỉ cần đến tháng chạp nó thức dậy những kỷ niệm tưởng tạm ngủ yên suốt gần một năm qua và gửi gắm những ước muốn vào năm mới với biết bao hy vọng mong chờ...
14 Tháng Giêng 20253:26 CH(Xem: 16353)
Vô cùng thương tiếc Nhận được tin buồn thân mẫu của nhà văn Alena Doan (Đoàn Phương Ái) : Bà quả phụ ĐOÀN THẾ ĐỨC / Nhũ danh NGUYỄN THỊ ÁI / Nhà văn THÙY AN Cựu giáo sư trường trung học Phan Thanh Giản và Quốc Gia Nghĩa Tử tại Đà Nẵng Vừa tạ thế lúc 0 giờ 25 phút ngày 13 tháng 1 năm 2025, nhằm ngày 14 tháng Chạp năm Giáp Thìn, tại tư gia ở thành phố Santa Clarita, California. Hưởng thọ 81 tuổi.
14 Tháng Giêng 20252:59 CH(Xem: 17761)
Vô cùng thương tiếc báo tin cùng thân bằng quyến thuộc và bạn hữu xa gần, Mẹ và Bà của chúng tôi là: /Bà quả phụ ĐOÀN THẾ ĐỨC / Nhũ danh NGUYỄN THỊ ÁI / Nhà văn THÙY AN Cựu giáo sư trường trung học Phan Thanh Giản và Quốc Gia Nghĩa Tử tại Đà Nẵng / Vừa tạ thế lúc 0 giờ 25 phút ngày 13 tháng 1 năm 2025, nhằm ngày 14 tháng Chạp năm Giáp Thìn, tại tư gia ở thành phố Santa Clarita, California. Hưởng thọ 81 tuổi.
09 Tháng Giêng 202511:36 SA(Xem: 19061)
Tháng 5 năm 1990, chúng tôi sang Quận Cam, nhà văn Mai Thảo dẫn đến thăm và giới thiệu với một họa sĩ, mà chúng tôi chưa quen: Khánh Trường. Mai Thảo cho biết Khánh Trường dự định ra một tập san văn học, đăng những tác phẩm ở trong và ngoài nước, và cần được giúp đỡ. Đó chính là Mai Thảo: ông ghét cộng sản, vì cái chết của Vũ Hoàng Chương và bản thân ông bị truy lùng trong gần hai năm, trước khi vượt biển, thoát. Ông không đọc tác phẩm trong nước, nhưng «đứa nào» làm chuyện hòa giải, giao lưu, ông ủng hộ; «đứa nào» bị đánh, ông tận tình bênh vực và giúp đỡ. Ở Mai Thảo là hai chữ Tự do đúng nghiã mà nhiều người Việt không hiểu, dù họ sang Mỹ để tìm «tự do». Bên cạnh Mai Thảo, Nhật Tiến cũng công khai ủng hộ Khánh Trường. Lập trường giao lưu của Nhật Tiến ai cũng rõ. Đó là hai nhà văn đàn anh, đứng đằng sau Hợp Lưu, trụ đỡ Khánh Trường trong những ngày sóng gió. Phía chống Hợp Lưu, cũng không thiếu những cây đa cây đề. Mai Thảo sang Paris cùng với Khánh Trường, để ra mắt Hợp Lưu số 1.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3809)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13277)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19629)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18609)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1600)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1753)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2271)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2393)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1429)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2199)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1931)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1984)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1344)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2384)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2579)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2353)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 230)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 783)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 982)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1091)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6393)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15875)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32125)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38850)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1453)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13875)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6891)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10654)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9863)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9985)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10774)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3433)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11111)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10340)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi