- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

BƯỚC CHUYỂN MỚI CỦA OCEAN VUONG NĂM 2025

08 Tháng Mười Hai 20256:59 CH(Xem: 9341)

BƯỚC CHUYỂN MỚI

CỦA OCEAN VUONG NĂM 2025

                                                     

                                                                                             Bài viết của Phan Tấn Uẩn



Ocean Vuong
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (*). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness (397 trang; 25 chương đánh số từ 1 đến 25; Nhà Xuất bản Penguin Press, New York, 2025) . Tác phẩm mới nầy nhanh chóng được các danh sách uy tín của Amazon xếp vào một trong những cuốn sách được mong chờ nhất trong năm 2025(**) và xác nhận Ocean Vuong đã chuyển từ “ngôi sao mới của thơ ca” thành “một trong những giọng văn triển vọng của thế kỷ XXI”.

 

 The Emperor of Gladness  


Câu chuyện mở đầu với nhân vật chính tên Hai, một thanh niên 19 tuổi đang sống trong tuyệt vọng. Trong một khoảnh khắc bi thảm, Hai định nhảy từ một cây cầu bắc ngang con sông trong thị trấn nhỏ East Gladness để chấm dứt cuộc đời. Nhưng vào phút định mệnh ấy, một bà lão nhập cư, Grazina, bất ngờ lên tiếng gọi, kéo Hai ra khỏi bờ vực. Từ đó mở ra một khởi đầu mới...

Nguồn cơn nhảy cầu như sau: Trong suốt câu chuyện. Hai phải vật lộn với chứng nghiện chất kích thích và có phần xa lánh mẹ mình. Anh đăng ký học đại học ở New York. Tuy nhiên, sau khi một người bạn thân và người yêu qua đời vì dùng thuốc quá liều khi Hai đang học đại học, Hai thấy mình không thể tiếp tục và bỏ học, trở về nhà. Việc Hai xử dụng chất kích thích, cùng với khoản nợ học phí chưa thanh toán và việc không hoàn thành đại học, đã khiến người mẹ vô cùng tức giận, nhất là chuyện Hai chưa bao giờ nói với bà lý do thực sự khiến mình bỏ học. Sau đó, Hai lại nói dối với bà vào trường y ở Boston, nhưng thực sự là tự nguyện vào trung tâm cai nghiện. Sau khi ra trại, Hai nhận ra mình vẫn không thể thú nhận với mẹ và quyết định nhảy cầu tự tử…

Tiếp tục mạch truyện. Grazina, với trí nhớ lẫn lộn, mời Hai về sống cùng, đề nghị Hai giúp đỡ . Hai đồng ý và có bổn phận cho Grazina uống thuốc hàng ngày, giúp bà vượt qua những cơn mất trí . Chẳng hạn, khi Grazina tưởng rằng bà là một cô gái trẻ ở châu Âu trong Thế chiến II, thì Hai vào vai một người lính tên là "Trung sĩ Pepper" và cùng bà  giả đánh  nhau  rồi trốn thoát đến nhiều nơi khác ở châu Âu để tìm cách đến nước Mỹ.  .

Để có tiền sinh hoạt, Hai nhận thêm công việc tại HomeMarket, một cửa hàng thức ăn nhanh. Hai làm việc chung với nhiều người khác cũng đang vật lộn với các hoàn cảnh khó khăn như anh. Những người nầy là Sony, anh họ của Hai mắc chứng rối loạn thần kinh; là Big Jean, một phụ nữ da đen mơ trở thành nhà đấu vật chuyên nghiệp nhưng thất bại; là Russia, một cậu bé nghiện hút cần sa; là Maureen, một phụ nữ lớn tuổi quản lý thu ngân và Wayne, một đàn ông da đen phụ trách quầy gà. Giữa mùi dầu nóng và tiếng máy, dưới ánh đèn néon và áp lực công việc tại HomeMarket, Hai vẫn tìm thấy một cộng đồng của những số phận bên lề xã hội.           

 

Kết luận, The Emperor of Gladness phơi bày những thân phận bị lãng quên: người già mất trí, người trẻ thất vọng, người nhập cư, người lao động thấp kém — những con người sống lặng lẽ, giữa bóng đêm của xã hội không ai quan tâm. Tuy nhiên, từ những đời sống ấy vẫn có những khoảnh khắc ánh lên sự đồng cảm, thương yêu, quan tâm cuộc sống của nhau … Những con người chỉ cần một nụ cười bất chợt, một ly cà phê đêm, một lời thăm hỏi cũng đủ giữ họ lại trên bờ vực. Tác phẩm không có bi kịch lớn, không có cao trào rực rỡ, hay “giải thoát” thần kỳ. Thay vào đó, là những ngày vật vã, lặng lẽ, nhưng cũng đầy tình người. Không có một hồi kết đẹp, vì nhân vật chính không tìm được “giấc mơ Mỹ”. Tuy nhiên, anh ta tìm được nơi trú ẩn để có lý do tiếp tục hướng về tương lai…

 

Bước chuyển mới

      Tựa đề The Emperor of Gladness có thể khiến người đọc bở ngỡ. Gladness là niềm vui, cũng là tên hư cấu một ngọn núi. “Hoàng đế của niềm vui” , tên gọi nghe như một nghịch lý. Thật ra , The Emperor of Gladness là một ẩn dụ mỉa mai nhưng ấm áp, ca ngợi phẩm giá của những đời sống bên lề xã hội. Nó chẳng khác gì một thông điệp: Giữa nghèo đói, nghiện ngập, bệnh tật, ký ức chiến tranh, và nỗi cô đơn… con người vẫn có thể tạo ra những khoảnh khắc vui sống. Và chỉ thế thôi, cũng đủ để họ trở thành “hoàng đế” của chính cuộc đời mình.

 

       Nhiều năm trước, văn chương Ocean Vuong gắn với những mất mát, chiến tranh, ký ức di dân, cái chết của người mẹ, sự cô độc của tuổi trẻ , và những thiếu sót từ di truyền ... Niềm vui nếu có  vẫn luôn là thứ ánh sáng nhỏ nhoi le lói ở cuối vết thương. Vậy mà trong tác phẩm 2025, Ocean Vuong lại đặt tên mình bên cạnh “Gladness”, muốn làm phép thử với chính thế giới đã quen nhìn Vương như biểu tượng của nỗi đau dịu dàng.

 

Nhưng chính vì vậy, tác phẩm lại có giá trị được văn giới ca ngợi. Bởi Ocean Vuong không viết niềm vui như đối lập của đau thương. Vương viết niềm vui như một dạng sâu hơn của hồi sinh.

Nhà xuất bản Penguin Press, khi giới thiệu The Emperor of Gladness, đã trích dẫn các nhận định của hai nhà nghiên cứu phê bình văn học Colm Tóibí (tác giả Long IslandBrooklyn) và  Rebecca Solnit (tác giả A Field Guide to Getting LostRecollections of My Nonexistence):

 

“The Emperor of Gladness là một câu chuyện giàu chất thơ, kịch tính và sống động. Mang tầm vóc sử thi, nhưng cuốn tiểu thuyết cũng chạm đến sự thân mật và tình yêu bằng sự tinh tế và nét độc đáo sâu thẳm. Hai và Grazina—những con người bước ra từ bên lề đời sống Mỹ qua ngòi bút Ocean Vuong—đã, bằng sức mạnh của lòng cảm thông và trí tưởng tượng phi thường, được đặt vào đúng trung tâm thế giới này.” (Colm Tóibín)

 

“Uyển chuyển và lay động, The Emperor of Gladness là cuốn sách viết về những con người đứng bên lề xã hội và của cả sự tỉnh táo. Điều khiến tôi bất ngờ và thích thú là: tiểu thuyết của Vuong còn dí dỏm, tinh quái—và đôi khi táo bạo đến mức gây sửng sốt—một tác phẩm vừa hài kịch lại vừa bi kịch.” (Rebecca Solnit)

 

Đọc The Emperor of Gladness tưởng chừng tác giả tiếp tục khai thác những chất liệu quen thuộc như ký ức gia đình, hành trình lớn lên của một người Mỹ gốc Việt, những bóng mờ của chiến tranh, sự phân mảnh của ngôn ngữ, và nỗi cô độc dàn trải trong đời sống di dân. Nhưng trong tiểu thuyết thứ hai có nhiều điểm mới về nhịp điệu, mở rộng biên giới nội dung. Không nhấn mạnh nỗi đau cố hữu, tác phẩm đi từ “nỗi đau riêng tư” sang “ý nghĩa tồn tại”.

Cùng với nhận định trên, nhiều nhà phê bình khi nói về tác phẩm nầy, cho rằng Ocean Vuong đang chuyển giọng. Nếu trong những tác phẩm trước đậm đặc chất quá khứ thì trong The Emperor of Gladness, Vương viết như người đứng ở cuối vùng tối sắp bước qua vùng sáng, hay nói một cách văn vẻ hơn: đã chạm đến rìa hồi sinh, một dạng hồi sinh thầm lặng, giống như một bông hoa mọc lên bên cạnh một tảng đá, nơi không ai ngờ tới.

 

Phân tích sâu hơn, điều đầu tiên làm The Emperor of Gladness nổi bật là cách Vương xử lý thời gian. Trong tác phẩm này, thời gian xuất hiện như một nếp gấp (***) với những đoạn văn nhảy giữa tuổi thơ, tuổi trưởng thành, những khoảnh khắc sống của người mẹ, những dấu vết của chiến tranh. Không có ranh giới rõ rệt. Thời gian trong tác phẩm vận hành như sóng biển: có lúc tràn vào bờ, có lúc rút xuống, có lúc mải mê vỗ vào một tảng đá , để rồi bất ngờ rút lui ra và để lại một con ốc nhỏ—một chi tiết làm thay đổi toàn bộ câu chuyện.

 

Những hình tượng trong tác phẩm luôn có tính mơ hồ, vừa như ký ức, vừa như thơ ca. Người đọc không phân biệt được đâu là thật, đâu là ẩn dụ. Nhưng chính sự mơ hồ ấy lại khiến cảm xúc trở nên rất thật, chẳng hạn hình tượng “hoàng đế”. Hoàng đế trong tác phẩm không phải là một nhân vật, mà chỉ là một cảm giác. Một trạng thái tinh thần. Đó là thời khắc con người tìm được quyền lực tối giản nhất của đời mình: quyền được vui vẻ, dù chỉ trong thoáng chốc. Cái “vui” trong tác phẩm không nổi bật, không rực rỡ, chỉ là cái vui mong manh của người vừa “khóc” xong. Đúng là tác giả muốn vượt qua nỗi buồn, nhưng nó vẫn lấp ló dưới từng nhịp sống.

The Emperor of Gladness dễ khiến người đọc cảm thấy như mình đang tản bộ trong khu vườn lúc chiều muộn: ánh sáng đang tắt dần, nhưng trong phút cuối, mọi thứ bỗng lấp lánh một cách khó giải thích. Một khoảnh khắc đẹp.

 

Điểm đáng nói hơn nữa về tác phẩm là cách Ocean Vuong làm tăng ảnh hưởng của thơ trong văn xuôi. On Earth We’re Briefly Gorgeous vốn đã là nửa thơ nửa tiểu thuyết, nhưng The Emperor of Gladness còn tiến xa hơn: ở nhiều đoạn, ngôn ngữ có nhịp đập rất giống nhịp của một bài thơ tự do dài. Có câu chỉ một từ. Có đoạn như tiếng thở. Có trang như sự vỡ òa. Nhịp điệu này khiến người đọc không đọc nữa, mà lắng nghe. Nghe nhịp tim của người viết. Nghe tiếng chân của ký ức. Nghe tiếng rạn nứt của những điều tưởng đã quên.

 

Không chỉ có vẻ đẹp, tác phẩm còn mang tính thử nghiệm kín đáo. Vương mở rộng cấu trúc câu chuyện để cho thời gian và ký ức đan xen vào nhau như những lớp sóng. Không phô trương sự đổi mới, nhưng người đọc vẫn cảm nhận rõ những chuyển động tinh tế trong cách Vương xử dụng ngôn từ. Có đoạn gần với triết học, có đoạn gần với thể ký, có đoạn gần giống như bức thư gởi mẹ…. Sự đa dạng này cho thấy Ocean Vuong không còn bó hẹp trong giọng nói quen thuộc của mình mà cất lên giọng điệu mới.

 

Một trong những điểm mạnh nhất là, The Emperor of Gladness đi qua bóng tối mà không trú ẩn trong đó. Những tác phẩm trước của Vương, dù hay đẹp, vẫn cho ta cảm giác như tiếng nức nở bị nén ép, khác với tác phẩm năm 2025 người đọc cảm nhận được sự bình thản. Qua một hành trình mất mát - mất mẹ, mất nguồn cội, mất thời thơ ấu – Vương đã đi đến một điểm dừng lặng lẽ. Điểm dừng đó là sự sống còn không do vượt qua nỗi buồn, mà do biết vịn vào nó. Và cũng tại đó, Vương bắt đầu viết về niềm vui - dù mong manh cũng khiến ta tin vào hy vọng trước mắt. Đây chính là ý nghĩa của chữ “Emperor”: không phải vua của quyền lực, mà là vua của khoảnh khắc.

 

Một số độc giả có thể cảm thấy văn phong Ocean Vuong quá mơ hồ, thiếu cốt truyện, quá nặng biểu tượng, và đôi khi như trôi dạt giữa trời thơ hơn là rừng văn. Người đọc nào muốn tìm thấy một câu chuyện rõ ràng, một cốt truyện mạch lạc trong The Emperor of Gladness rất dễ thấy mình lạc lõng. Điều nầy không phải là sai hỏng mà chỉ do bản chất của Ocean Vuong. Tác phẩm của Vương không phải “để đọc”, mà để “cùng đồng hành”. Những ai từng quen với phong cách và biết rõ tài năng của Vuong hoặc trải qua những hoàn cảnh mất mát tương tự như tác giả, sẽ yêu thích The Emperor of Gladness. Những ai không quen với văn chương giàu tính tượng trưng, không thích những sáng tạo ngôn ngữ hay nghệ thuật sáng tác đương đại, sẽ khó tiếp cận văn chương Ocean Vuong.

 

Năm 2025, chúng ta nhìn Ocean Vuong như nhìn một người vừa bước qua một khu rừng tang tóc, đứng giữa thung lũng sương mờ và quyết định một cách lặng lẽ rằng mình vẫn muốn đi tiếp. Chính vì thế, The Emperor of Gladness là một tác phẩm rất cần thiết. Cần thiết cho chính Vương. Và cho cả người đọc…Vì tác giả đã bắt đầu chạm vào niềm vui sau cả thập kỷ viết về nỗi đau.

Nếu văn chương là nơi người ta đi tìm danh tính cho chính mình, thì năm 2025, Ocean Vuong đã có thêm một tên mới: Người kể chuyện của ánh sáng tồn tại.

 

*

Năm 2019 tôi từng phải về Orlando mua cuốn On Earth We’re Briefly Gorgeous do không tìm thấy ở Gainesville. Mua để biết tại sao giới văn báo Mỹ khen ngợi Ocean Vuong hết lời. Năm 2025, nhà sách Barns & Noble mở cửa trở lại ở Gainesville, chúng tôi tìm mua ngay để có nguyên bản tác phẩm The Emperor of Gladness. Bài viết nầy lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết thứ hai của Vuong. Dưới mắt chúng tôi, Ocean Vuong là tác giả người Mỹ gốc Việt tài năng nhất của văn học Mỹ…Xứng đáng để mất công tra cứu sưu tầm và viết về Ocean Vuong, một anh chàng trông thật hiền lành ,dễ thương, khiêm tốn với tài năng hiếm có của cộng đồng người Việt hải ngoại…

 

     Dưới đăy là một số trích dẫn từ The Emperor of Gladness

                                                                                                         

“… Thị trấn của chúng tôi được dựng lên trên một mảnh đất sần sùi bên dòng sông vùng New England. Khi những tảng băng tiền sử tan chảy, cả thung lũng biến thành một hồ nước khổng lồ. Và khi hồ cạn, nó để lại một dải bạc mảnh mai chạy dọc đáy trũng – con sông Connecticut, theo tiếng Algonquin nghĩa là ‘dòng sông thủy triều dài.”

                                                                                             

    Đối thoại giữa Hai và bà già mất trí Grazina:

“…Được rồi,” bà thở nhẹ, “nhưng tôi đang chào ai đây?”

 “Tên tôi là Hai.”

 “Tên cậu là Hello à?”

Hai gật đầu đại. “Ừ.”

“À.” Mắt bà sáng lên, chỉ một ngón tay cong về phía Hai. “Vậy tên cậu là Labas! ”

“Cái gì?”

“Labas ở nước tôi có nghĩa là ‘xin chào’.”

Bà đưa tay qua bàn để bắt tay Hai.

“Xin chào, Labas. Tôi là Grazina. Nghĩa là ‘đẹp.’.”

Bà nhe răng cười, điếu thuốc âm ỉ khói giữa những chiếc răng vàng.”                                                                                         

 

…“Chiếc áo khoác từng thuộc về Noah, người bạn mà cậu quen khi cùng làm việc về trồng thuốc lá năm mười bốn tuổi, giữa những luống cây xanh rợp nở dọc con sông chia đôi thị trấn East Gladness. Tên thật của cậu ta không phải Noah, nhưng đó là cái tên Hai bắt đầu gọi một tuần sau khi cậu ấy mất. Lý do là, tại sao người đã khuất lại không thể có một cái tên mới?”

 

 …“Cơn mưa như một tấm màn xám kéo từ trời xuống. Hai đứng trên lan can cầu, nước lạnh ngấm vào áo, vào da, vào xương. Dưới chân anh, dòng sông tối đặc lại mà anh coi như một lối thoát. Nhưng chính trong khoảnh khắc tưởng đã buông tay ấy, một giọng nói khản đục vang lên từ bờ bên kia — mong manh, run rẩy, nhưng đủ để kéo anh trở lại mặt đất. Giọng nói của một người xa lạ. Và đôi khi, chính người xa lạ lại là sợi chỉ buộc chặt anh với cuộc đời này.”

 

…” Trong căn bếp ọp ẹp, Hai bày bữa ăn đơn sơ lên bàn: một đĩa trứng chiên còn dính mỡ, vài lát bánh mì, chút bơ sắp chảy. Grazina nhìn món ăn như thể đang nhìn một ký ức mờ nhòe của tuổi trẻ. Khi bà đưa muỗng lên, đôi bàn tay run run như đang lần lại thời gian. Hai ngồi đối diện, bỗng thấy căn bếp nhỏ sáng lên — không vì ánh đèn, mà vì cảm giác lần đầu tiên có người đón nhận món ăn do chính tay mình làm. Trong khung cảnh nghèo nàn, một căn nhà được dựng lên bằng hơi ấm tình người…”

 

“… Buổi chiều ở East Gladness luôn xuống rất chậm, như thể mặt trời cũng ngại phải rời khỏi thị trấn này. Từ cửa sổ, Hai và Grazina nhìn ánh đèn nhấp nháy xanh đỏ của siêu thị, một thứ ánh sáng rẻ tiền nhưng lại khiến con phố ẩm thấp bừng lên sinh khí. “Đèn rẻ tiền cũng là đèn,” Grazina nói. Hai bật cười — nụ cười hiếm hoi trong suốt cả ngày dài. Và trong khoảnh khắc ấy, Hai chợt hiểu: đôi khi, sự cứu rỗi không đến từ phép màu, mà từ những ánh sáng nhỏ nhoi ta vẫn thường lướt qua không để ý.”

 

   (Bài viết tham khảo từ nhiều sách báo văn chương Mỹ)

 

Tháng 12/2025

CHÚ THÍCH:

   (*) Ghi chú ở bìa sau : Ocean Vuong là tác giả của hai tập thơ được giới phê bình ca ngợi là Night Sky with Exit WoundsTime Is a Mother, cũng như cuốn tiểu thuyết best-seller của New York Times On Earth We’re Briefly Gorgeous. Vương là người nhận học bổng MacArthur Fellowship và giải American Book Award. Trước đây, Vương từng làm việc tại một tiệm thức ăn nhanh — trải nghiệm nầy đã truyền cảm hứng cho The Emperor of Gladness. Sinh tại Sài Gòn, Việt Nam, hiện Vương phân chia thời gian sống và làm việc giữa Northampton, Massachusetts và thành phố New York.

Ocean Vuong bw

(**)Theo Amazon Books Editors, The Emperor of Gladness của Ocean Vuong là một trong 10 cuốn sách hay nhất năm 2025 . Trong danh sách “10 Best Books of 2025 So Far”, The Emperor of Gladness đứng ở vị trí số 4. Và trong danh sách “Best Books of 2025” toàn năm theo Amazon thì nó cũng được lọt vào top 20 và cũng ở vị trí số 4.

Dưới đây là danh sách 20 cuốn “Best Books of 2025” theo Amazon Editors:

  1. 1.      Buckeye — Patrick Ryan
  2. 2.      The Correspondent — Virginia Evans
  3. 3.      The Boys in the Light — Nina Willner
  4. 4.      The Emperor of Gladness — Ocean Vuong
  5. 5.      Wild Dark Shore — Charlotte McConaghy
  6. 6.       The Intruder — Freida McFadden
  7. 7.      Awake — Jen Hatmaker
  8. 8.       Atmosphere — Taylor Jenkins Reid
  9. 9.      Replaceable You: Adventures in Human Anatomy — Mary Roach
  10. 10.  The Loneliness of Sonia and Sunny — Kiran Desai
  11. 11.   Broken Country — Clare Leslie Hall
  12. 12.  Paper Girl: A Memoir of Home and Family in a Fractured America — Beth Macy
  13. 13.  Katabasis — R.F. Kuang
  14. 14.  Cursed Daughters — Oyinkan Braithwaite
  15. 15.  Next of Kin — Gabrielle Hamilton
  16. 16.  King of Ashes — S.A. Cosby
  17. 17.  The Beast in the Clouds — Nathalia Holt
  18. 18.  Heart the Lover — Lily King
  19. 19.  The Book of Guilt — Catherine Chidgey
  20. 20.   Baldwin: A Love Story — Nicholas Boggs

 

(***) “Thời gian xuất hiện như một nếp gấp”: Một hình ảnh ẩn dụ về cách thời gian vận hành trong văn chương, đặc biệt trong lối viết của Ocean Vuong, có nghĩa là: thời gian không trôi tuần tự theo quá khứ qua hiện tại tiến về tương lai, mà gấp khúc, chồng lên nhau, đụng mép nhau, như một tờ giấy bị gấp lại khiến những khoảnh khắc tưởng xa nhau, lại nằm sát cạnh nhau.

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 798)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 861)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1418)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1656)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1396)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2166)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 2140)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 2033)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 2387)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1991)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10923)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17590)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16620)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17131)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1656)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2320)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2940)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 2846)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
(Xem: 2140)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1991)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2582)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 2255)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 798)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 861)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1396)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2166)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1418)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2033)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3909)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 4063)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2964)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14303)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30378)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36611)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12065)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13411)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3640)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5447)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5226)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 5801)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6399)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8854)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8168)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11113)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.