- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025) ra đi

14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 4424)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025) 



NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ (1923-2025) RA ĐI

Việt Báo

QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.

Thuở còn là thanh niên, ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Sau đó, khi phong trào này để lộ bộ mặt cộng sản, ông đã rời bỏ kháng chiến. Vào năm 1946, ông lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo, là ái nữ của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ, Hồ Trọng Hiếu. Năm 1954, khi hiệp ước Geneva chia đôi đất nước, ông theo làn sóng di cư đem vợ con vào miền Nam sinh sống.

Doãn Quốc Sỹ có hai sự nghiệp song song, một của nhà văn và một của nhà giáo. Ông vẫn thường nói rằng: “nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp”. Trong cương vị nhà giáo, ông đã dạy tại các trường: Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn 1961-1962), Trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Ông cũng từng là hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961) và từng đi tu nghiệp về sư phạm tại Hoa Kỳ (1966-1968).

Vào năm 1956, với cương vị nhà văn, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo, và tạp chí văn nghệ cùng tên với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng. Ông vẫn ưu ái gọi nhóm văn nghệ của mình là “Thất Tinh”. Ông cũng có những bài viết được đăng trên các tạp chí văn nghệ như Sáng Tạo, Văn Nghệ, Bách Khoa, Văn Học, Nghệ Thuật …

Gần một năm sau ngày miền Nam thất thủ (30/04/1975), hầu hết các nhà văn miền Nam bị bắt đi học tập cải tạo. Doãn Quốc Sỹ cùng các văn nghệ sĩ như Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Chóe… bị giam tại trại Gia Trung, cách thành phố Pleiku 25 cây số, Đến năm 1980, ông được thả tự do nhờ sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế.

Trong thời gian chờ đợi được con gái là Doãn thị Ngọc Thanh bảo lãnh đi Úc, ông tiếp tục viết thêm nhiều tác phẩm nữa, trong đó có quyển Đi, được ký với bút hiệu Hồ Khanh. Ông đã gửi tác phẩm này sang Pháp để xuất bản tại hải ngoại. Cũng vì lý do này, ông đã bị bắt lần thứ hai vào tháng 5 năm 1984, chỉ vài tháng trước ngày đi Úc. Cùng bị giam với ông trong đợt này có ca sĩ Duy Trác, nhà báo Dương Hùng Cường, hai nhà văn Hoàng Hải Thủy và Lý Thụy Ý… Ông bị kết án mười năm tù và mãn hạn tù lần thứ hai vào tháng 11 năm 1991. Năm 1995, ông được con trai là Doãn Quốc Thái bảo lãnh để di dân sang Houston, Hoa Kỳ.

.

Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng (tức nhà thơ Đỗ Quý Toàn) viết trong bài "Doãn Quốc Sỹ - Thế Đấy!" đưa ra nhận định:

"Doãn Quốc Sỹ hầu như bẩm sinh đã mang sẵn một cái tâm kiên cố khó bị lay động vì hoàn cảnh. Ông có phước mang sẵn tấm lòng trống trơn, không cần phải cố gắng. Trong cuộc sống hàng ngày không biết ông tọa thiền lúc nào. Doãn Quốc Sỹ không báo trước khi ngồi xuống: “Tôi tập thiền đây;” hay là khi đứng dậy “Tôi ngồi thiền xong rồi.” Mỗi giờ phút trong đời sống của ông thể hiện một quá trình thiền tập. Đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, cởi dép, uống nước, nói năng, hầu như lúc nào ông cũng làm chủ thân và tâm. Đối cảnh, đứng trước cảnh ngộ biến đổi cách nào ông cũng có thể thốt lên một câu: “Thế Đấy!” Người mang tánh bẩm sinh như vậy chắc phải đã tu nhiều kiếp trước! Cha mẹ sanh ra đã truyền cho hạt giống tốt, tự nhiên không nuôi lòng tham lam quá độ, không nổi cơn giận dữ dễ dàng. Khi biết suy nghĩ thì tự thấy mình chỉ là một tập hợp tạm thời và ngắn hạn của ngũ uẩn, như tất cả mọi chúng sinh, nhờ thế không đeo một Cái Ta quá nặng trong đầu. Dứt trừ nhân ngã. Dừng hết tham sân."

.

Nhà văn Mai Thảo viết về Doãn Quốc Sỹ trong tạp chí Nghệ Thuật số 45, ấn hành vào Chủ nhật 23-10-1966 khi Doãn Quốc Sỹ du học Hoa Kỳ vẫn nhắn các bạn ở Sài Gòn chuẩn bị viết cho một ấn bản Tết:

"Bạn hữu trong nhóm Sáng Tạo vừa nhận được lá thư đầu tiên của giám đốc nhà xuất bản Sáng Tạo là Doãn Quốc Sỹ gửi về từ Hoa Kỳ. Tác giả “chiếc chiếu hoa cạp điều” ở Mỹ một năm. Thời gian này đã bắt đầu bằng hai tháng ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Ngồi ở một quán cà phê đường Tự Do, nhìn mưa phùn Saigon, chúng tôi nói chuyện với nhau về Sỹ. Đời sống đổi mới Sỹ, khác đối với chúng tôi, là nó tươi thắm, hồng hào, rực rỡ, nó đáng sống vô chừng, bởi vì đời sống thuộc về một cái mà Sỹ tin tưởng mãi mãi ở cái tính chất thánh thiện, cái khả năng thiên thần. Đó là con người. Con người phản tỉnh. Con người hướng thượng. Trong thư, gửi qua Trần Thanh Hiệp, Sỹ lên mặt giám đốc, đòi chúng tôi ở nhà phải xuất bản bằng được một tuyển tập thơ văn trước Tết Nguyên Đán năm nay."

.

Nguyễn Văn Quảng Ngãi viết trong bài "Doãn Quốc Sỹ một tâm hồn thanh thản, đôn hậu, cao thượng" đưa ra nhận định:

"Đọc sách của ông, cảm được tấm lòng đôn hậu và nhân ái của ông, hiểu được tình yêu dân tộc Việt Nam tha thiết của ông, thấy được niềm tin bao la và sâu sắc của ông về chân-thiện-mỹ cho nhân thế, biết được cuộc sống của ông: dạy học (Trung và Đại Học), viết văn, chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, xem hình cả gia đình ông... đã cho tôi đi đến kết luận: Đó là mẫu người lý tưởng cho một xã hội Việt Nam lý tưởng!"

.

Nhà thơ Trần Mộng Tú trong bài "Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều Và Tôi" ghi nhận:

“Khi qua tuổi lên 10, bước vào trung học, xen kẽ với những sách dịch từ những tác phẩm ngoại ngữ nổi tiếng như “Chiến Tranh và Hòa Bình,” “Đỉnh Gió Hú,” “Giã Từ Vũ Khí,” “Anh Em Nhà Karamazov”… thì những tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ là những cuốn sách luôn luôn cha mẹ tôi tìm thấy trên giường, trên ghế, trên kệ, trên bàn ăn, trên bàn học của tôi và đôi khi trong bếp. Những tác phẩm này đã đóng vai trò “phụ thân thứ hai” trong đời sống trưởng thành của tôi. Những trang sách văn chương trong sáng, trung hậu đã dạy tôi những điều nhân nghĩa, ngay thẳng và đạo làm người. Tôi chắc chắn là những ai đã từng đọc Doãn Quốc Sỹ cũng được hưởng cái tinh thần đạo đức trong từng câu văn của tác giả. Tôi không may mắn là học trò trực tiếp của thầy Sỹ, nhưng tôi là học trò trong mỗi tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ."

.

Nguyễn Vy Khanh trong bài "Kinh Nghiệm Văn Chương Doãn Quốc Sỹ" ghi nhận:

"Cùng trường hợp với một số nhà văn từng tham gia kháng chiến chống Pháp hoặc từng dứt khoát lập trường quốc – gia từ trước hoặc qua việc ly khai về “thành”, bất hợp tác, chống đối và di cư vào miền Nam, Doãn Quốc Sỹ, đã đóng góp cho văn – học miền Nam với những kinh nghiệm kháng chiến và thất vọng về cộng sản. Họ viết lên những nhiệt huyết, trình bày những đối kháng, nghi ngờ về tính cách dân tộc và chính sách chiến tranh cách mạng khả nghi của chủ nghĩa cộng sản, viết với kinh nghiệm kháng chiến, di cư và nhắm nói với thế hệ trẻ hơn. Doãn Quốc Sỹ viết nhiều về chiến tranh trong Dòng Sông Định Mệnh, Khu Rừng Lau, v.v. Khởi từ kinh – nghiệm bản thân, toàn bộ tácphẩm của ông có thể xem như là một hành trình vươn lên, xuyên Bắc Nam, xuyên nhiều thế hệ, cổ võ Chân Thiện Mỹ, chống lại cái ác!"

.

Theo Wikipedia, nơi mục từ Doãn Quốc Sỹ: "Ông là tác giả của khoảng 25 cuốn sách. Chuyện ngụ ngôn của ông có tựa đề Con cá mắc cạn đã được dịch ra tiếng Anh (The Stranded Fish) và có trong sách Việt Nam: bạn đồng hành văn chương của một du khách (Vietnam: A traveler's literary companion) do John Balaban và Nguyễn Quí Đức biên soạn."

Các thông tin về cuộc đời và tác phẩm nhà văn Doãn Quốc Sỹ có thể tìm ở đây:

https://doanquocsy.com/

NGUỒN: https://vietbao.com/a323526/nha-van

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
06 Tháng Chín 202511:42 CH(Xem: 9319)
Vành trăng lên muộn / Nụ quỳnh hôm qua / Rũ buồn trên lá / Đêm vô cùng
02 Tháng Chín 20252:55 SA(Xem: 9098)
Chiều tàn nháng lửa nét cuối Đông / Mây từ biển nọ đến nơi này / Tấp vào đất lạ ôm giăng núi / Cây cỏ làm thinh mắc mắc sầu
01 Tháng Chín 202510:04 SA(Xem: 6415)
Chẳng biết học trò ở Cali có để ý không, khi những cây jacaranda bắt đầu nở rộ những chùm hoa mặn mà, đằm thắm, đó là dấu hiệu của mùa thi cuối khoá ở các trường học Mỹ, và một mùa hè rực rỡ đang đón chờ chúng phía trước. Một người Việt nào đó đã gọi tên loài cây này là phượng tím, nghe hay hay và gần gũi, gợi nhớ đến loài phượng đỏ của chúng ta ở quê nhà. Vốn là người ưa để ý đến chữ nghĩa, tôi lẩn thẩn tra cứu xem cây phượng vĩ trong tiếng Anh nói làm sao. Hoá ra—ngoài những tên khoa học khó nhớ—hoa phượng còn có nhiều tên bình dân như flamboyant flower, royal poinciana, peacock flower, flame of the forest và phoenix flower (tên này nghe giống như trong tiếng Việt!)
31 Tháng Tám 20251:46 SA(Xem: 7329)
Anh đứng ở đầu đường / Một buổi chiều rất lạnh / Một buổi chiều rất xanh / Một buổi chiều mưa tạnh
31 Tháng Tám 202512:36 SA(Xem: 5995)
Đó là một trường hợp trong vô số những ca khúc nổi tiếng, nhầm lẫn tựa đề lẫn tác giả. Điều này rất đáng tiếc và cảm thấy thật buồn. Khán thính giả từ trong nước đến hải ngoại từng rung động trước những ca khúc như: Tình nào trong mắt em, Người tình không đến, Nối lại tình xưa, Chờ đông,… Ca khúc Chờ Đông thì bị gắn tên tác giả Trần Thiện Thanh. Đường Tình Đôi Ngã gắn cho nhạc sỹ khác. “Đêm buồn phố thị” lại cho là sáng tác của Ngọc Sơn. Còn tệ hơn nữa có những trung tâm băng đĩa không hề ghi tên tác giả hoặc ghi Vũ Như Cẩn (vẫn như cũ). Những bài hát bị gán nhầm tên tác giả hoặc đổi tựa và rồi khi sự thật, người thật bị vùi lấp quá lâu, người đi sau lại ghi lại cái sai của người đi trước. Nhạc sỹ Ngân Giang từng bị xóa tên khỏi bài hát do ông đổ mồ hôi và nước mắt để viết nên nó. Đó là sự nhập nhằng, vô tâm, tắc trách trong thị trường âm nhạc. Người ta có thể thuộc và hát say sưa một ca khúc nhưng lại không biết tác giả là ai.
31 Tháng Tám 202512:19 SA(Xem: 8571)
Khi cúi xuống đã nghe đời tận tuyệt / những linh thần quá tải với mênh mông / làm sao biết chiều quay nào chong chóng / điểm non tơ đột quỵ của sương hồng
30 Tháng Tám 20259:54 CH(Xem: 6121)
Một lần, khi bước lên tam cấp bằng gạch tàu xưa của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô Sài Gòn, tôi cảm thấy rất sống động, bóng ba tôi trong bộ quần áo màu mỡ gà của ngày ông ra đi, cầm một cây gậy tre đứng dưới bóng cây, tôi nghe rõ như hồi tôi 19 tuổi, ba sẽ làm một hòn non bộ dưới gốc cây này, và tôi đã viết, ở đó, câu thơ … hãy bước lên bậc-tam-cấp-thời-gian, quá khứ-hôm nay-và ngày mai. Và chọn một giấc mơ … đó là điều gắn bó tôi với ba bậc thềm tam cấp. Không phải vì cái ý nghĩa của ba chủ thể Trời – Đất – Con Người trong tri giác tam sinh, để nhắc nhở vô thường Sinh Lão Bệnh Tử, mà tôi cảm giác ba bậc thềm ấy như một dòng thời gian hư ảo. Khi bước lên nó như thể bước vào ngưỡng của giấc mơ. Nó là kinh nghiệm tôi có được khi cảm giác ấy được lặp đi lặp lại, thành một quy ước vô thức mà tôi cho rằng chỉ những ai sống thường trực trong nó mới cảm biết.
25 Tháng Tám 20251:38 SA(Xem: 9222)
“Em, Tháng Chín” – một khúc hát được phổ từ thơ Đặng Hiền, như hơi thở mùa thu San Francisco, nơi ký ức hòa cùng tiếng sóng và hàng thùy dương rì rào phố biển. Lời thơ mang đến nỗi hoài niệm dịu dàng: mùa hè vừa khép lại, tiếng trăng se lạnh, tiếng gió khúc khích tan trong men rượu.
24 Tháng Tám 20253:19 SA(Xem: 8643)
Có những buổi chiều, những đêm cô đơn, và cả những tiếng cười của ngày cũ… tất cả được gói lại trong ly rượu vang, trong lời thơ của nhà thơ Đặng Hiền. Với giọng hát khói sương, trầm ngọt của Ngọc Tuấn, ca khúc “GIÓ TRONG LY RƯỢU VANG – Special Version” ngân lên như một khúc tình ca blues rock đầy tâm trạng.
19 Tháng Tám 20255:49 CH(Xem: 6790)
Trương Vĩnh Ký (1837–1898) từ lâu đã là một nhân vật nhiều tranh cãi trong lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông là trí thức Tây học sớm nhất, thông thạo nhiều ngoại ngữ, có đóng góp nhất định cho việc phát triển chữ Quốc ngữ. Nhưng đồng thời, ông cũng là viên chức phục vụ trực tiếp cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Giữa hai cực sáng – tối ấy, giới nghiên cứu và văn học Việt Nam đã có những cách đọc rất khác nhau. Một số nhà phê bình văn học, tiêu biểu như Nguyễn Vy Khanh, xem ông là “tinh hoa văn hóa” và là niềm tự hào của dân tộc. Trong khi đó, sử gia Vũ Ngự Chiêu, dựa trên tư liệu gốc và phương pháp khoa học, đã khẳng định Trương Vĩnh Ký là một trí thức bản xứ cộng tác với ngoại bang. Câu hỏi lớn được đặt ra: chúng ta cần văn học để dựng nên huyền thoại, hay cần sử học để nói sự thật?