- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THƠ ĐÀO DUY ANH

23 Tháng Bảy 202512:49 SA(Xem: 19559)

Nhà thơ Dao Duy Anh.-bw
Nhà thơ ĐÀO DUY ANH

LTS: Giới thiệu thi sĩ Đào Duy Anh

Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu – Nhà thơ Đào Duy Anh sinh năm 1952 tại vùng đất Phù Cát, Bình Định – nơi gió Lào thổi qua những triền cát và ký ức – Đào Duy Anh không chỉ là một nhà thơ mà còn là một kẻ lữ hành cô độc trong những cõi mộng mơ... Ông thuộc thế hệ thi sĩ đã đi qua nhiều biến thiên của đất nước, tiếng gọi từ những vết thương chưa kịp lành trong những trái tim lặng lẽ.

Thơ Đào Duy Anh, nơi ký ức nằm nghiêng như một hình nhân đang mộng du, và nơi đêm không còn là tấm màn che mà là tấm gương phơi bày nỗi trần trụi sâu kín nhất. Trong thế giới ấy, tình yêu không mang dáng vẻ vĩnh hằng mà là một “phản chứng” của sự sống; nỗi buồn không rơi mà treo lơ lửng như giọt lệ chưa rơi nổi.

Trong thơ ông, cái đẹp không phải là đích đến, mà là chỗ rẽ của cảm xúc – nơi thi ca không cần tuyên ngôn, chỉ cần một hơi thở cũng đủ thắp sáng cả một khoảng tối chưa kịp gọi tên. Trân trọng mời quí Văn Thi Hữu và Bạn đọc của Hợp Lưu cùng bước vào thế giới thi ca của thi sĩ Đào Duy Anh.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

 

Đào Duy Anh
NGƯỜI VÀ BÓNG ĐÊM

Người đàn bà ngồi một mình
trong căn phòng không còn tiếng gió
chỉ còn tiếng thở dài đập vào tường đêm
và vỡ như một giấc mơ rơi xuống

Mỗi chiếc kim đồng hồ là một vết rạch
thời gian rỉ máu từ vầng trán cô đơn
em vá lại những vì sao mòn ánh sáng
vá cả vết thương lòng bằng tiếng thở của sương

Đã từng yêu…
như thể chưa bao giờ hiểu yêu là gì
chỉ thấy trong mắt nhau một mùa đông đang tới
và trong tim – mùa hè chưa kịp qua đi

Người đàn bà nhặt lại những chiếc cúc
rơi suốt dọc đường ký ức
may lại chiếc áo của mình
bằng chỉ bạc của những buổi chiều không ai đợi

Đôi mắt em là chiếc gương phản chiếu mọi cơn bão
đôi môi em là di chỉ của những nụ hôn không bao giờ lành
em lặng thinh như cây không còn đất đứng
chỉ gió lướt qua, và người thì không

Ai đã đi, ai còn đứng đó?
ai đốt ngọn nến cuối cùng trong căn phòng lạnh ấy
có phải chính em – với ngón tay run và ánh nhìn bất lực
thắp sáng một điều đã tắt từ lâu

Có những đêm, em tưởng mình tan vào cái bóng
trên tường là một hình nhân gãy gập
mỗi bước chân vang lên như tiếng gọi từ cõi nào
và mỗi lời nói – chỉ là một khoảng lặng mới

Người đàn bà như sợi khói
trôi qua những kỷ niệm đã tắt
đôi khi dừng lại bên thềm cũ
lắng nghe tiếng mùa xưa vỡ nát trong gió

Và tự hỏi:
Liệu có thể bắt đầu lần nữa?


Đào Duy Anh



NGƯỜI ĐÀN BÀ TRÊN ĐỒI MƯA


Người đàn bà ngồi trên đồi mưa
một chiếc ô cũ không đủ che những năm tháng
và gió – lùa qua cổ áo
như một linh hồn cũ tìm chỗ trú đêm sâu

Em cúi đầu lắng nghe những hạt mưa
rơi vào ngực mình như từng câu nói
từng lời yêu đã nguội
từng hối hận chưa kịp thốt thành lời

Có một vệt sáng vừa lướt qua khe mắt
hay chỉ là ảo ảnh – của ngày xưa cũ
của một bàn tay từng giữ chặt vai em
và buông ra như thể vĩnh viễn

Trên đồi, cỏ vẫn mọc theo chiều nghiêng của gió
còn trái tim em thì nghiêng theo một phía đã mất
mỗi bước chân là một lần rút sợi tơ mỏng
của tình yêu từng dệt nên giấc dở dang

Người đàn bà rút kim may ký ức
khâu lại ánh nhìn đã rách giữa đôi mi
khâu lại những tiếng gọi đã vỡ dưới lưỡi
khâu lại mình – nếu còn kịp

Mỗi buổi chiều dòng người đi qua
chẳng ai quay đầu, chẳng ai ngước nhìn
chỉ có em, như một câu hỏi viết trên cát
mà gió nào cũng xóa

Đã có lần em mơ thấy mình là giọt sương
nằm trên cánh hoa chưa nở
một giấc mơ trong veo đến tê buốt
nhưng khi tỉnh dậy – em chỉ là giọt nước mắt chưa rơi

Và đồi vẫn mưa...
và người đàn bà vẫn ngồi trên vết cắt của thời gian
một mình nghe trái tim vặn xoắn
bởi tiếng gọi từ những năm tháng không còn đường về
 

Đào Duy Anh

 


KÝ ỨC NẰM NGHIÊNG


Người đàn bà nằm nghiêng về phía ký ức

nơi giấc mơ từng nở như cánh đào tháng ba
nơi đôi tay từng chạm vào điều chưa nói
và một lời yêu từng có màu mật ong

Em nằm nghiêng – như ai từng chờ ai
trên chiếc giường còn in vết người cũ
chăn gối không phản bội, chỉ thời gian khôn khéo
xếp nếp đau thành một bản tình ca phẳng lặng

Ký ức không còn sắc nét
như bức tranh bị mưa làm nhòe
nhưng lại càng thật – vì mờ
như ai đó từng thương em, nhưng không dám gọi tên

Em vẫn nằm nghiêng – về phía ánh sáng
dù biết, phía đó chỉ còn bóng tối kéo rèm
trong giấc ngủ, em nghe ai thở
mà chẳng biết đó là em – hay một nỗi buồn lâu năm

Em không dậy nữa – chỉ nằm nghiêng mãi
cho ký ức tràn sang phía sống còn
để biết rằng, sống cũng chỉ là
một kiểu nhớ khác – có nhịp tim
 

Đào Duy Anh



ĐÊM ...

 

Đêm như một bức tranh bị vẽ bằng tro
không màu
chỉ có chiều sâu
và ký ức được rắc muối.

Em không còn ở đây
nhưng đêm vẫn giữ mùi tóc em
như một bản kinh không ai đọc
vẫn được ai đó chép tay mỗi tối.

Tôi ngồi giữa căn phòng đầy cửa
mỗi cánh dẫn vào một khả thể bị chối bỏ
mỗi tay nắm là một lỗi lầm tôi từng gọi là tình yêu.

Tôi tự hỏi:
nếu sự xa cách là một ngôn ngữ
thì em chính là câu thơ dài nhất trong tôi
và đêm –
là cuộn giấy vô hạn
để tôi viết mãi
một lời xin lỗi chưa từng đủ nghĩa.

Ngoài kia
bóng tối không che giấu
nó phơi bày –
mọi vết thương chưa từng có tên
và tôi –
vẫn là kẻ mù lòa đang đọc chính mình
trong cuốn sách bị bỏ dở của tạo hóa.
 

Đào Duy Anh


TRONG MỘT GIẤC MƠ

Ta là ai trong giấc mơ của chính mình?

Một bản sao không còn dữ liệu linh hồn

Một bóng tối được nhân đôi bởi ánh sáng quá rõ

Một lời thở ra – hóa đá giữa không gian

 

Mắt người – lỗ đen nối liền thiên cổ

Ký ức ta – cơn bão giam trong buồng phổi vũ trụ

Có một nụ hôn mắc kẹt giữa hai thời đại

Và một Thiên thần mù sờ tay lên chữ “không”

 

Em đứng đó – giữa đoạn rẽ của linh hồn

Tay cầm quả tim còn nguyên những vết cào

Rót vào ta một lời chưa từng có ngôn ngữ

Dạy ta cách yêu: như người mù lội qua lửa

 

Thượng đế bật cười bên lề một vở kịch hư vô

Ngài thắp đèn bằng nước mắt kẻ báng bổ

Ngài đẩy ta về phía em –

như ném đứa con vào thế gian để học cách tha thứ

 

Ta từng là đứa trẻ nghẹn lời trước câu kinh

là hoạn quan bên gác phế cung Thượng Đế

nơi tình yêu không được phép có dương tính

và nước mắt phải câm như tượng đá bên đường

 

Tình yêu là môn học chưa có định lý

Mỗi đường cong trên ngực em là một định đề

Mỗi cái chạm là phản chứng – về sự sống còn

trong thế giới không còn cần lẽ phải

 

Ta không còn tin vào ánh sáng của đèn

Nhưng vẫn tin vào một tia sáng từ sự gãy đổ

Em có thể không yêu ta

nhưng xin đừng đánh mất nỗi đau khi ta gọi tên em

 

Có thể…

cái đẹp chỉ là lỗi ngữ pháp trong bài thơ của tạo hóa

Còn cái chết – là dấu chấm hỏi bị che

để chúng ta không bao giờ được học bài cuối

 

Giấc mơ tràn ra khỏi đầu ta

Ngập linh hồn, tràn qua miệng những kẻ khôn ngoan

Chúng nói về hạnh phúc – bằng ngôn ngữ của người đã chết

Chúng mặc niệm ta – trước khi ta kịp hiện thân

 

Em ơi, ta không còn là “ta” nữa

Chỉ là một người viết dở đoạn cầu nguyện

trên bức tường ẩm ướt của cõi không

Nơi Chúa và Quỷ cùng đứng hút thuốc…

và mặc kệ gió gọi tên nhau.

ĐÀO DUY ANH
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Giêng 20251:51 SA(Xem: 25559)
Trong văn học thế giới có những bài Thơ nổi tiếng, văn học sử thường gọi là Thơ đánh dấu thời đại. Bất kỳ độc giả thơ nào quan tâm đến Thi Ca trên thế giới có lẽ đã từng nghe hoặc đọc một số bài Thơ này, dưới dạng bản dịch hoặc bản gốc. Và thậm chí nếu người ấy đọc một bài Thơ hay, họ sẽ nhận ra rằng bài Thơ đó chỉ có thể được viết ra trong khoảnh khắc cảm hứng.
18 Tháng Giêng 20259:58 CH(Xem: 23247)
cứ thích mùa xuân đừng đi vội / để ngồi bên bếp lửa hồng tươi / ngồi bên cạnh mẹ cầm tay mẹ / ấm áp tình thương cũng đủ rồi /
16 Tháng Giêng 202510:22 CH(Xem: 26154)
con én nhỏ đã về nơi chốn cũ / như từng hẹn hò từ thuở ban sơ / mùa rất vội nên lời chào cũng vội / nắng chiều qua sông, bỏ lại đôi bờ
16 Tháng Giêng 20259:35 CH(Xem: 20112)
Chiều cuối năm—năm nay—tôi ngồi kề bên vuông cửa sổ. Tách trà còn ấm. Ngát hương sen. Tôi ngắm nhìn phố xá bên dưới lòng đường. Chiều ba mươi tháng Chạp. Con đường xứ người nhưng quen thuộc. Bảng tên đường—bên trên là dòng chữ lạ. Bên dưới mang tên quen. Trần Hưng Đạo. Thành phố Sài Gòn bây giờ thu nhỏ lại.
15 Tháng Giêng 202512:03 SA(Xem: 24709)
Ta thắp giao hòa nén nhang / Cúi đầu anh linh tiên tổ / Như mẹ buông tiếng thở dài sương khói / nhân gian ngoài khung cửa / Bóng cha tít tắp luống cày hun hút cánh đồng/ lấm tấm hoa dại vời vợi cỏ non … / Những cánh ong toả hương
14 Tháng Giêng 202511:55 CH(Xem: 22294)
Khi bước sang tháng chạp / Xuân về đến ngõ rồi / Mai vàng e ấp nụ / Về vui tết người ơi.
14 Tháng Giêng 202511:42 CH(Xem: 19183)
Tết không đơn thuần là cột mốc đặc biệt của tháng năm ghi dấu nơi tờ lịch mà là một phần của tâm thức tồn tại vĩnh viễn bên trong hồn người. Chỉ cần đến tháng chạp nó thức dậy những kỷ niệm tưởng tạm ngủ yên suốt gần một năm qua và gửi gắm những ước muốn vào năm mới với biết bao hy vọng mong chờ...
14 Tháng Giêng 20253:26 CH(Xem: 16354)
Vô cùng thương tiếc Nhận được tin buồn thân mẫu của nhà văn Alena Doan (Đoàn Phương Ái) : Bà quả phụ ĐOÀN THẾ ĐỨC / Nhũ danh NGUYỄN THỊ ÁI / Nhà văn THÙY AN Cựu giáo sư trường trung học Phan Thanh Giản và Quốc Gia Nghĩa Tử tại Đà Nẵng Vừa tạ thế lúc 0 giờ 25 phút ngày 13 tháng 1 năm 2025, nhằm ngày 14 tháng Chạp năm Giáp Thìn, tại tư gia ở thành phố Santa Clarita, California. Hưởng thọ 81 tuổi.
14 Tháng Giêng 20252:59 CH(Xem: 17790)
Vô cùng thương tiếc báo tin cùng thân bằng quyến thuộc và bạn hữu xa gần, Mẹ và Bà của chúng tôi là: /Bà quả phụ ĐOÀN THẾ ĐỨC / Nhũ danh NGUYỄN THỊ ÁI / Nhà văn THÙY AN Cựu giáo sư trường trung học Phan Thanh Giản và Quốc Gia Nghĩa Tử tại Đà Nẵng / Vừa tạ thế lúc 0 giờ 25 phút ngày 13 tháng 1 năm 2025, nhằm ngày 14 tháng Chạp năm Giáp Thìn, tại tư gia ở thành phố Santa Clarita, California. Hưởng thọ 81 tuổi.
09 Tháng Giêng 202511:36 SA(Xem: 19073)
Tháng 5 năm 1990, chúng tôi sang Quận Cam, nhà văn Mai Thảo dẫn đến thăm và giới thiệu với một họa sĩ, mà chúng tôi chưa quen: Khánh Trường. Mai Thảo cho biết Khánh Trường dự định ra một tập san văn học, đăng những tác phẩm ở trong và ngoài nước, và cần được giúp đỡ. Đó chính là Mai Thảo: ông ghét cộng sản, vì cái chết của Vũ Hoàng Chương và bản thân ông bị truy lùng trong gần hai năm, trước khi vượt biển, thoát. Ông không đọc tác phẩm trong nước, nhưng «đứa nào» làm chuyện hòa giải, giao lưu, ông ủng hộ; «đứa nào» bị đánh, ông tận tình bênh vực và giúp đỡ. Ở Mai Thảo là hai chữ Tự do đúng nghiã mà nhiều người Việt không hiểu, dù họ sang Mỹ để tìm «tự do». Bên cạnh Mai Thảo, Nhật Tiến cũng công khai ủng hộ Khánh Trường. Lập trường giao lưu của Nhật Tiến ai cũng rõ. Đó là hai nhà văn đàn anh, đứng đằng sau Hợp Lưu, trụ đỡ Khánh Trường trong những ngày sóng gió. Phía chống Hợp Lưu, cũng không thiếu những cây đa cây đề. Mai Thảo sang Paris cùng với Khánh Trường, để ra mắt Hợp Lưu số 1.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3826)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19657)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18629)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1628)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1780)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2296)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2408)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1454)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2209)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1948)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1993)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1368)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2404)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2616)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 243)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 802)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 997)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1111)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6404)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15895)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32150)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38860)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1477)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6902)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10684)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9880)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10008)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10810)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3452)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10353)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi