- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TIẾNG CHUÔNG NHÀ THỜ RUNG ...

25 Tháng Ba 20252:10 CH(Xem: 18782)

Chuong-nha-tho-co-hinh-dang-nhu-mot-chiec-non-tru-va-kha-ngan
Chuông Nhà Thờ - ảnh Internet




Nguyễn Công Khanh

TIẾNG CHUÔNG NHÀ THỜ RUNG…

           

Có lẽ trong 50 năm qua ở Mỹ tôi chưa được nghe lại tiếng chuông nhà thờ. Hầu hết các nhà thờ ở Mỹ không có gác chuông. Tôi còn nhớ có đọc môt bài than phiền của hàng xóm về tiếng chuông của một nhà thờ ngày đêm rung chuông, dân Mỹ lại là những người Bảo vệ Môi trường hạng nhất, mà tiếng động thì bị họ liệt vào hàng ô nhiễm môi trường.

Gia đình tôi theo Phật giáo.

Năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, chính phủ và bộ đội Việt Minh {VM} rút khỏi thành phố lủi vào rừng sâu ẩn náu, bảo tồn lực lượng, trường kỳ kháng chiến, chờ thời để lại cho thanh niên Tự Vệ thành phố ở lại cầm chân ngăn cản bước tiến của địch và phá hủy các công thự.

Họ nội tôi ở vùng quê theo VM, bố tôi bỏ Hà nội đem gia đình theo họ vào vùng kháng chiến. Họ ngoại tôi ở Hà nội theo phe Quốc Gia, làm công chức như Kho Bạc, Hỏa xa…Ông cậu, em của mẹ tôi làm Phủ Toàn Quyền theo Việt Quốc bị Việt Minh bắt cùng nhiều người ngay ngày họ cướp chính quyền. Hai đảng thương lượng, được thả và rút lên chiến khu Yên Báy, nhưng chỉ ít tháng sau bị VM bao vây tàn sát không còn một ai. Họ ngoại tôi chỉ chạy loanh quanh và trở về Hà nội rất sớm. 

Tôi còn nhớ khi chạy loạn, gia đình tôi luôn đến các làng đạo lánh nạn, vì tin rằng quân Pháp sẽ không đến bắn phá, đốt nhà hay bắt bớ. Yên ổn cũng được ít lâu, bố tôi mang tôi đến nhà thờ để xin học. Không lớp nào hợp với tôi, mẹ tôi nói cứ để nó học cho khỏi quên mặt chữ. Tôi 10 tuổi đang học lớp Moyen 1 tại trường Piere Pasquier, ở phố Sinh Từ. Tôi đã học qua lớp Enfantin, Preparatoire, nếu tôi nghĩ không lầm tôi sẽ phải học qua lớp Moyen 2 và lớp Supérieur để thi bằng Certificat, tức là bằng Tiểu Học. Thời đó, người lớn có bằng đó, nói được ít nhiều tiếng Pháp là có thể đi xin việc được rồi.

 Những ngày ở nhà thờ, tôi học thuộc lòng hai bài kinh căn bản là “Kinh Lạy Cha” và “Kinh Kính Mừng”, đến nay tôi vẫn còn có thể đọc lại được. Tôi được Cha xứ tin cậy giao cho việc kéo chuông với một đứa trẻ khác. Tôi nhìn lên gác chuông vút trên cao, một sợi thừng đan bằng chão thả dòng xuống kéo kê trên mặt đất. Thật ra là chúng tôi chỉ nắm lấy dây đánh đu từ góc này sang góc khác theo nhịp chuông.

Đó là tiếng chuông nhà thờ đầu đời mà tôi nghe được và kéo chung với một đứa trẻ khác. Tiếng chuông nghe rộn rã, gọn gàng cuốn lên cao  tỏa ra khắp làng và cánh đồng xa tưởng như trong một thuở thanh bình nào đó.

Quân Pháp mở rộng vùng kiểm soát, đánh tới làng, bố tôi lại đem gia đình chạy sang một làng đạo khác, thay vì chạy ngược lại và nói được tiếng Pháp thì họ sẽ chỉ dẫn đường về Hà nội, vì lúc đó chính phủ Quốc Gia đã thành lập và cố chiêu dụ dân chúng. Tôi vẫn được đến nhà thờ học kinh và thỉnh thoảng được kéo những hồi chuông như trước. Nhưng càng chạy xa, càng ở lâu thì càng túng quẫn. Có bao nhiêu thứ có thể bán được đều bán hết. 

Sau cùng kiệt quệ, họ giới thiệu đến một trại tạm cư dành cho dân tản cư từ thành phố đến đó học việc để tìm việc làm. Bố tôi được làm trên văn phòng và họ dậy tôi nhiều nghề từ kéo sợi, làm nón và sau này làm tại xưởng bút chì, làm mực và giấy carbon cho máy chữ… Ở trại gặp được nhiều người cùng cảnh ngộ, mấy cô tiểu thư Hà thành, áo lụa bạc mầu lem luốc, “Như cánh hoa trong thời loạn ly”. Có hai anh thương binh, nguyên là thanh niên Tự Vệ Thành mỗi anh mất một chân, một anh mất chân phải, một anh mất chân trái, lội bộ từ Việt Bắc về đồng bằng. Đường thì xa, hai anh còn một trái lựu đạn bảo nhau cùng mở cho rồi đời, nhưng trái lựu đạn không nổ. Hai anh gài lại và đi tiếp.

Từ ngày có hai anh trại vui hẳn lên. Hai anh thường hay tụ họp chúng tôi bầy ra các trò chơi. Một anh có tài làm ra những câu nhạc “chế” hát mỉa, như câu “Hi sinh đời cho núi sông…” thành “Hi sinh đùi cho núi sông...”, câu “Sống tranh đấu mà không sờn gian khổ…” thành “Sống ăn sắn mà không thèm ăn phở, chết trong nhà mà không chết ở ngoài sân…”. Bọn cán bộ trại tức lắm mà không làm gì được anh.

Một hôm hai anh bảo chúng tôi mang rổ ra sông mang cá về. Ra đến nơi, một anh rút kíp trái lựu đạn, đã một lần hoãn mạng chết cho hai anh. Lúng túng thế nào vì chiếc nạng, anh trượt chân ngã và trái lựu đạn bị tung lên cao và lần này thì nó nổ, nhưng không ai bị thương tích.

Trong thời gian này, tôi học được nhiều bài hát kháng chiến đầu tiên, tôi nhớ bài Làng Tôi của Văn Cao có tính chất lãng mạn như sau:

“Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu bóng cau với con thuyền, một giòng sông.
Nhưng thôi rồi còn đâu quê nhà, ngày giặc Pháp tới làng triệt thôn.
Đường ngập bao xương máu tơi bời, đồng không nhà trống tan hoang.

Chiều khi giặc Pháp qua, chiều vắng tiếng chuông ngân, phá tan nhà thờ xưa…”

Tôi không thấy một nhà thờ nào bị phá. Quân Pháp khômg phá vì họ xây dựng lên, Việt Minh không dám phá và dân bị xúi duc cũng không dám phá, thành thử hầu như các nhà thờ vẫn còn nguyên. Chỉ thấy Việt Minh ra tay tiêu thổ kháng chiến, phá nát bằng địa các thành phố, cầu cống,, trục lộ giao thông để cản bước tiến của địch quân. Còn lính Pháp thì nhằm bắn phá những làng mạc có Việt Minh ẩn náu.

Quân Pháp lại đánh đến, đốt phá tan tành trại, mẹ tôi nhân dịp này mang mấy đứa em tôi theo một số người trở về Hà nội. Tôi và  bố tôi vì đi làm xa nên không thể về cùng. Sau đó mẹ tôi cho người ra đón tôi, và chính mẹ tôi tự mình ra đón bố tôi về.

Tôi mất bốn năm học, phải học tư tại một trường đạo lớn có tên là Dũng Lạc, cạnh nhà thờ lớn. Hàng ngày tôi lại được nghe tiếng chuông, hình như chuông nhà thờ rung mỗi giờ báo cho mọi biết mấy giờ trong ngày tùy theo số tiếng chuông. Đêm Giáng Sinh tôi đạp xe đến nhà thờ, đêm đông lạnh lẽo vắng người, tôi đứng yên lặng nghe tiếng nhạc ống, những bài thánh ca bằng tiếng La tinh và những hồi chuông rộn rã quyện lên không trung, thấy một điều gì linh thiêng khôn tả. Tôi đỗ xong bằng Tiểu Học và may mắn vào được trường Chu Văn An.

Hà nội những năm đó được bảo vệ khá an ninh, chiến tranh thì ở mãi núi rừng xa. Tôi và các bạn thường hay đạp xe lang thang trong thành phố và các vùng quê xa. Tôi có cảm tưởng như sống lại được cả một thời lãng mạn tiền chiến. Tôi đọc gần như hầu hết các tác phẩm của Tự lực Văn Đoàn, của các nhà văn cùng thời của một tiệm cho thuê sách ở góc chợ Đồng Xuân. Tôi đã chơi đàn và chép lại hàng trăm bài nhạc ướt át ủy mị  như “Dư Âm”, Trăng Mờ Bên Suối”, “Về Bến Sông Tương”…mà sau này họ gọi là Nhạc Vàng, vào năm, sáu quyển dầy cộm. Một người bạn tôi, có công ngồi chép lại không biết bao nhiêu bài thơ mới. Nhưng rồi chúng tôi cũng phải bỏ Hà Nội, bỏ những ngày vui theo một triệu người di cư vào Nam, để lại một thành phố trống rỗng. Riêng tôi, tôi rời Hà nội gần giống như bài “Nỗi Lòng” của nhạc sĩ Anh Bằng: “ Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu…”. Tôi cũng có một cô hàng xóm, gặp nhau thường nói những chuyện bâng quơ. Cô vào Nam trước, gửi cho tôi một tấm hình và một lá thư hẹn tôi ở Saigon. Chúng tôi gặp lại nhau, nhưng mối tình học trò đó như bong bóng mùa mưa tan lúc nào không hay.

Vào Saigon, tôi cùng mọi người sống những năm mở đầu của thời Cộng Hòa, an bình, hưng thịnh và phấn khởi. Một người cha đi làm có thể nuôi một gia đình sung túc, bệnh viện miễn phí, giáo dục từ Tiểu học đến Đại học đều miễn phí, một số trường Đại học lại  cấp học bổng cho sinh viên hàng tháng cho đến khi ra trường.  Tôi thi vào được Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, mỗi tháng được 2,000 đồng như lương một công chức. Trường tọa lạc cạnh Bộ Ngoại Giao trước Phủ Tổng Thống và ngay sau nhà Thờ Đức Bà chỉ cách một công viên. Với số tiền đó, không bao lâu tôi mua được một xe Vespa, cùng bạn bè sống đúng mốt như các thanh niên hồi đó. Nhắc lại để các bạn cùng nhớ, may áo Adam trước cửa Tòa Đô Chánh, mặc quần Chiến Lê Văn Duyệt, đi giầy Gia bên Khánh Hội và đồ bộ Tân Tân trên đường Tự Do… Hàng ngày sau buổi học, các bạn thường rủ nhau ra các quán trên đường Tự Do như La Pagode, Givral, Broda uống cà phê nhìn đường phố hay Pole Nord ở cuối đường cạnh Hotel Majestic để chơi Tilt. Thành thử một ngày có thể tôi đã lái xe qua nhà thờ đến hai, ba lần. Đêm Giáng Sinh, chúng tôi cùng hẹn nhau ở đó trước giờ đi “Bal” khiêu vũ. Tôi được nghe lại nhạc thánh ca và nhìn lên gác chuông vút trên cao. Giáng Sinh ở Saigon không như ở Hà Nội xưa, vui và sống động hơn, ban đêm trời mát,  đông người vì không ai nghĩ đến mình có đạo hay không. 

Cuối năm 1961 tôi ra trường, tưởng rằng sẽ được kéo cái cuộc đời ở Saigon như các khóa trước, Tổng Thống Diệm đã thay đổi chính sách đưa nửa khóa của chúng tôi vào ngành Trung Ương Tỉnh Báo và nửa khoá còn lại gửi ra quân trường Đồng Đế theo học một khoá Chuẩn Úy Hiện Dịch trong đó tôi. Mọi người cho đó là một lò luyện thép, tướng Đỗ Cao Trí, chỉ huy trưởng nói: “Một người lính bộ binh giỏi là một người đi bộ giỏi”. Thành thử chúng tôi đi bộ mút mùa, hàng tuần di hành 60 cây số theo tốc độ, vai đeo sac nặng chĩu và hai tay mang khẩu Garant nặng như cái cùm. Đèo Rù Rì, Núi “Cô Gái nằm”, những cánh rừng Diên Khánh đi đến mòn chân. Có những đêm không được nghỉ lại phải đi gác tại các trọng điểm trong vùng. Một lần toán gác của tôi ở phía biển cạnh khu xóm Ba Làng. Ba Làng được biết đến là cả làng này vượt biển lánh nạn Cộng sản bằng thuyền và mảng trôi vào Nam sau thời hạn di chuyển khi đất nước chia đôi. Tối đó chúng tôi lén vào xóm nhờ một bà nấu cháo gà và mua mấy chai bia ngồi nhậu với cánh và cổ gà.

Sau khi mãn khóa, tôi cầm sự vụ lệnh mới biết nhiệm sở của mình là đảo Phú Quốc. Khi tôi đến đó, tất cả các đường bộ đều bị cắt đứt, chỉ còn lại 5 ấp nằm sát ven biển, 4 ấp đã có hàng rào chiến lược. Di chuyển liên lạc đều phải dùng thuyền hay nhờ hải thuyền. Tối nào nằm trong quận cũng nghe súng bắn lẻ từ phía bên kia sông Dương Đông của du kích bắn sang, và hàng tràng súng của dân vệ bên này bắn lại. Nghe riết rồi thành quen, cứ sau hai hồi súng đó là mọi người có thể ngủ yên cho đến sáng. 

Không hiểu sao tôi đã ở lại đảo gần ba năm mà không xin đổi, thay vì các công chức bị đổi ra đó, họ tính từng ngày để trở lại đất liền. Có thể tôi đã lãng mạn hóa, đã huyền thoại hóa những ngày trên đảo. Tôi tưởng tượng như mình là một Gaugin trong các rừng dừa, ở đó có những chàng trai đánh trống bập bùng, những cô gái mình trần đang múa, cầm những vòng hoa đón khách lạ. Tưởng mình như một Gary Cooper trong phim “Retour au Paradis” hay Marlon Brando trong “Mutinity on Bounty” … Một lần trong những ngày bão biển, không biết làm gì tôi vào trong kho lục tìm được cuốn Địa Phương Chí. Tôi mải mê đọc, có những phần lịch sử của hòn đảo mà nhiều người chưa biết, bao nhiêu huyền thoại được viết lại. Nhất là có một đoạn nói về bà Kim Giao mang 50 con trâu ra đảo lánh nạn Tây Sơn, sau này bị thất bại, bà mất và những con trâu đó thành những con trâu rừng lang thang trên đảo. Tôi cố đi tìm đàn trâu đó tưởng như mình đang đi tìm một thiên đường lỡ dở. Tôi dò hỏi dân thì được biết đàn trâu còn lại hai con, năm trước một con bị bắn chết còn lại một con…

Một sự ngẫu nhiên, trong 5 ấp kể trên, có một ấp ở cuối đảo là An Thới lại là nơi định cư chính của dân vượt biển Ba Làng. Họ xây được một nhà thờ khá lớn và có hai linh mục. Ấp có một một trung đội dân vệ, trang bị vũ khí sơ sài, nhưng du kích cũng chưa bao giờ đến trêu trọc. Tôi cũng thường hay xuống đó và quen thân với vị linh mục trẻ có tên là Hoàng văn Cung và ông trưởng ấp Niềm. Thỉnh thoảng cha Cung lên Dương Đông làm lễ, tôi cũng đến dự, như thường lệ tôi vẫn dự các ngày lễ lớn tại chùa Phật Giáo, thánh thất Cao Đài hay Hòa Hảo…

Nơi làm lễ là một nhà thờ cổ nhỏ được xây từ thế kỷ trước, mái không còn nữa, chỉ còn trơ 4 bức tường gạch và sàn trơ mầu gạch cũ. Tôi theo mọi người đọc kinh, vẫn những bài kinh cũ mà tôi đã thuộc lòng. Lời kinh và tiếng giảng của cha lẫn trong gió biển. Tôi cũng còn nhớ hai ngôi mộ cổ của hai nhà truyền đạo được xây cũng từ thế kỷ trước có tên lạ hoắc tại gần Dinh Cậu, cạnh Ty Khí Tượng mà mỗi chiều khi tắm biển xong tôi vẫn ngồi nghỉ trên đó. 45 năm sau tôi trở lại Phú Quốc thì ngôi nhà thờ cổ hai ngôi mộ không còn nữa.

Trong thời gian ở đó, tôi đã đến các ấp nhiều lần để củng cố ấp, lập hương ước và thực hiện các chương trình của chính phủ. Tôi lại được giao cho viết dự thảo thành lập tỉnh Phú Quốc. Chuyến đến thăm ấp Hàm Ninh lần cuối, vì biển động tôi đã ở đó một tuần và bỗng nhiên tìm thấy một cái sọ trâu khô trắng nằm ỏ hàng rào, tôi ra bới lên và mang vào nhà hỏi thì họ nói con trâu này vừa bị Thiếu úy đồn trưởng bắn chết. Tôi vội chạy lên đồn thì lính cho biết Thiếu uý lần vừa rồi đi săn đã bị ngã gẫy xương và được đưa về bệnh viện tỉnh tuần trước rồi. Tôi trở lại chỗ sọ con trâu, ôm nó lên tưởng như thiên đường của mình đang đi tìm đã mất thật rồi.

Về quận, tôi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về tỉnh nhường chỗ cho người khác tiếp tục dự án thành tỉnh. Tỉnh trưởng an ủi tôi: “Anh nên về, ở đó lâu họ sẽ quên anh”.

Vốn  quen sống giữa trời cao biển rộng, chán ngán những ngày dài tù túng của một đời công chức tỉnh lị, tôi thường lấy cớ đi ra ngoài công tác. Có lần tôi theo một phái đoàn đi thăm khu định cư Cai Sắn của dân Công Giáo. Đây là một khu định cư khá lớn trong đồng bằng Cửu Long, dọc theo quốc lộ 4, nằm giữa Ngã Ba Lộ Tẻ phía Bắc và phi trường Rạch Sỏi phía Nam, gổm 8 kinh, kinh nào cũng có nhà thờ riêng, ruộng thẳng cánh cò bay. Trong các kinh còn có những con lạch nhỏ ngang dọc di chuyển bằng ghe thuyền rất thuận tiện.

Hôm đó phái đoàn đi thăm nhiều kinh, kinh cuối cùng là kinh số 8. Khi ghe cặp bến mọi người lên bờ, bỡ ngỡ không thấy dân ra đón như các kinh khác. Thì ra giáo dân ở kinh này đã rời dần về các vùng vui  và yên ổn hơn. Mọi người đi vào nhà thờ, gặp một ông bõ già và một lúc sau mới thấy một linh mục gầy còm khoác áo choàng ra đón. Trong lúc mọi người vây quanh linh mục hỏi han, tôi chợt nhận ra  linh mục là một người rất quen và khi linh mục nhìn tôi, tôi cũng thấy có cảm tưởng như thế, nhưng chúng tôi còn e dè chưa có dịp nói chuyện. Lúc sau phái đoàn đem quà ra tặng và vội vã rời khỏi nhà thờ vì trời đã về chiều và vùng này đã có những tin bất an.  Tôi cố tình đi lùi lại gần linh mục và bắt chuyện, chúng tôi nhận ra nhau, thì ra khi vào Saigon, tôi học nhẩy một lớp, không dám ở lại Chu Văn An và phải sang học trường Hồ Ngọc Cẩn, một trường đạo ở Bùi Chu Phát Diệm dọn vào. Tôi còn nhớ rõ, hồi đó hắn nhỏ con, gầy gò, nhưng tính ương ngạnh nên hay bị các học trò khác gây gổ. Không hiểu vì một cớ gì tôi lại hay bênh vực hắn nên thành một người bạn và thường hay đi với nhau. Tôi đỗ Tú Tài 1 xong và trở lại trường Chu Văn An, sau đó tôi không gặp được hắn nữa. 

Chúng tôi định đứng nói chuyện lâu hơn, nhưng bị mấy người dưới ghe to tiếng gọi. Chúng tôi chia tay, tôi nghe thấy người bạn trong bộ áo choàng linh mục bên cạnh bình thản nói với tôi: “Nếu mày còn ở vùng này, nhớ đến thăm tao”. Tôi bỗng thấy cả một thời trung học quay trở lại, tôi rưng rưng ôm lấy hắn và buột miệng: “Cha ơi là Cha”. Lúc ghe đã xa bờ, tôi cố nhìn lại, thấy hắn trong chiếc áo choàng đen vẫn còn đứng như in hình trong bóng trời chiều cho đến khi chiếc ghe rẽ quặt sang một hướng khác.

Tôi đã không làm tròn lời hẹn của người bạn, vì chỉ mấy tuần sau tôi nhận được giấy động viên và phải rời Rạch Giá về Saigon trình diện nhập ngũ… 

*


Hôm nay, trong vùng Tây Bắc, mấy tuần nay mưa lạnh rơi sụt sùi, đang mong ngày có tuyết, ngồi bên lò sưởi nhớ lại chuyện xưa, nhớ lại những tiếng chuông xưa, những ngôi tháp nhà thờ cổ, những làng đạo mà mình đã đi qua và những mảnh vụn của cuộc đời cũng theo đó mà cuốn về. Lòng thấy nao nao, những dấu vết ngày xưa chắc đã bị xóa nhòa từ lâu, nay chỉ còn trên mấy trang giấy. . .

  

 

NGUYỄN CÔNG KHANH

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Giêng 20251:51 SA(Xem: 25553)
Trong văn học thế giới có những bài Thơ nổi tiếng, văn học sử thường gọi là Thơ đánh dấu thời đại. Bất kỳ độc giả thơ nào quan tâm đến Thi Ca trên thế giới có lẽ đã từng nghe hoặc đọc một số bài Thơ này, dưới dạng bản dịch hoặc bản gốc. Và thậm chí nếu người ấy đọc một bài Thơ hay, họ sẽ nhận ra rằng bài Thơ đó chỉ có thể được viết ra trong khoảnh khắc cảm hứng.
18 Tháng Giêng 20259:58 CH(Xem: 23237)
cứ thích mùa xuân đừng đi vội / để ngồi bên bếp lửa hồng tươi / ngồi bên cạnh mẹ cầm tay mẹ / ấm áp tình thương cũng đủ rồi /
16 Tháng Giêng 202510:22 CH(Xem: 26139)
con én nhỏ đã về nơi chốn cũ / như từng hẹn hò từ thuở ban sơ / mùa rất vội nên lời chào cũng vội / nắng chiều qua sông, bỏ lại đôi bờ
16 Tháng Giêng 20259:35 CH(Xem: 20110)
Chiều cuối năm—năm nay—tôi ngồi kề bên vuông cửa sổ. Tách trà còn ấm. Ngát hương sen. Tôi ngắm nhìn phố xá bên dưới lòng đường. Chiều ba mươi tháng Chạp. Con đường xứ người nhưng quen thuộc. Bảng tên đường—bên trên là dòng chữ lạ. Bên dưới mang tên quen. Trần Hưng Đạo. Thành phố Sài Gòn bây giờ thu nhỏ lại.
15 Tháng Giêng 202512:03 SA(Xem: 24697)
Ta thắp giao hòa nén nhang / Cúi đầu anh linh tiên tổ / Như mẹ buông tiếng thở dài sương khói / nhân gian ngoài khung cửa / Bóng cha tít tắp luống cày hun hút cánh đồng/ lấm tấm hoa dại vời vợi cỏ non … / Những cánh ong toả hương
14 Tháng Giêng 202511:55 CH(Xem: 22285)
Khi bước sang tháng chạp / Xuân về đến ngõ rồi / Mai vàng e ấp nụ / Về vui tết người ơi.
14 Tháng Giêng 202511:42 CH(Xem: 19181)
Tết không đơn thuần là cột mốc đặc biệt của tháng năm ghi dấu nơi tờ lịch mà là một phần của tâm thức tồn tại vĩnh viễn bên trong hồn người. Chỉ cần đến tháng chạp nó thức dậy những kỷ niệm tưởng tạm ngủ yên suốt gần một năm qua và gửi gắm những ước muốn vào năm mới với biết bao hy vọng mong chờ...
14 Tháng Giêng 20253:26 CH(Xem: 16354)
Vô cùng thương tiếc Nhận được tin buồn thân mẫu của nhà văn Alena Doan (Đoàn Phương Ái) : Bà quả phụ ĐOÀN THẾ ĐỨC / Nhũ danh NGUYỄN THỊ ÁI / Nhà văn THÙY AN Cựu giáo sư trường trung học Phan Thanh Giản và Quốc Gia Nghĩa Tử tại Đà Nẵng Vừa tạ thế lúc 0 giờ 25 phút ngày 13 tháng 1 năm 2025, nhằm ngày 14 tháng Chạp năm Giáp Thìn, tại tư gia ở thành phố Santa Clarita, California. Hưởng thọ 81 tuổi.
14 Tháng Giêng 20252:59 CH(Xem: 17786)
Vô cùng thương tiếc báo tin cùng thân bằng quyến thuộc và bạn hữu xa gần, Mẹ và Bà của chúng tôi là: /Bà quả phụ ĐOÀN THẾ ĐỨC / Nhũ danh NGUYỄN THỊ ÁI / Nhà văn THÙY AN Cựu giáo sư trường trung học Phan Thanh Giản và Quốc Gia Nghĩa Tử tại Đà Nẵng / Vừa tạ thế lúc 0 giờ 25 phút ngày 13 tháng 1 năm 2025, nhằm ngày 14 tháng Chạp năm Giáp Thìn, tại tư gia ở thành phố Santa Clarita, California. Hưởng thọ 81 tuổi.
09 Tháng Giêng 202511:36 SA(Xem: 19069)
Tháng 5 năm 1990, chúng tôi sang Quận Cam, nhà văn Mai Thảo dẫn đến thăm và giới thiệu với một họa sĩ, mà chúng tôi chưa quen: Khánh Trường. Mai Thảo cho biết Khánh Trường dự định ra một tập san văn học, đăng những tác phẩm ở trong và ngoài nước, và cần được giúp đỡ. Đó chính là Mai Thảo: ông ghét cộng sản, vì cái chết của Vũ Hoàng Chương và bản thân ông bị truy lùng trong gần hai năm, trước khi vượt biển, thoát. Ông không đọc tác phẩm trong nước, nhưng «đứa nào» làm chuyện hòa giải, giao lưu, ông ủng hộ; «đứa nào» bị đánh, ông tận tình bênh vực và giúp đỡ. Ở Mai Thảo là hai chữ Tự do đúng nghiã mà nhiều người Việt không hiểu, dù họ sang Mỹ để tìm «tự do». Bên cạnh Mai Thảo, Nhật Tiến cũng công khai ủng hộ Khánh Trường. Lập trường giao lưu của Nhật Tiến ai cũng rõ. Đó là hai nhà văn đàn anh, đứng đằng sau Hợp Lưu, trụ đỡ Khánh Trường trong những ngày sóng gió. Phía chống Hợp Lưu, cũng không thiếu những cây đa cây đề. Mai Thảo sang Paris cùng với Khánh Trường, để ra mắt Hợp Lưu số 1.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3823)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13280)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19647)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18620)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1615)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1769)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2287)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2406)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1448)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2206)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1945)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1988)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1363)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2397)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2605)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2365)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 234)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 796)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 989)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1101)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6400)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15879)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38854)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1472)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6893)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10667)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9869)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9998)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10794)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3438)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10351)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi