- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Con Rùa Thần Cuối Cùng Trong Hồ Hoàn Kiếm

17 Tháng Bảy 200912:00 SA(Xem: 188479)

blankMột bài báo của hãng Thông Tấn AP được loan ra trong trung tuần Tháng 10/2008, do phóng viên Cara Anna viết về tin một cặp rùa già được xếp đặt để truyền giống. Chàng khoảng độ 100 tuổi và nàng mới có 80. Các nhà khoa học về động vật đều nín thở để chờ đợi kết quả của loài rùa đang tuyệt chủng này. Nhưng các cố gắng đã thất bại, vỏ trứng quá mỏng vì thiếu chất calcium nên đã bị rạn nứt trước khi nở.

Cũng trong bài báo này cho biết trên thế giới loài rùa mai mềm sông Dương Tử này gần như bị tuyệt chủng, nay chỉ còn lại bốn con, trong đó ba con là đực. Một con được nuôi tại sở thú Suzhou gần Shanghai. Một con cái mới tìm ra được năm ngoái tại một sở thú tại Changsha, mà người giữ thú tin đây là một con trong loại rùa cuối cùng. Khi đọc được lời kêu gọi tìm kiếm và hình loại rùa này giống như con rùa họ đang nuôi, họ đã báo ngay cho giới thẩm quyền biết. Tức thì một toán chuyên viên gồm người Mỹ và Trung Hoa đã cấp tốc đến để chuẩn bị di chuyển rùa cái từ đó về Suzhou cách 600 dặm. Ông Rick Hudson, Đồng Chủ Tịch của Hôi Bảo Vệ Rùa cho biết đây là một cuộc di chuyển đầy gay cấn, chỉ sợ những điều không hay xẩy ra tại dọc đường cho con rùa cái này. Kết quả là chàng đã gặp nàng, và nàng đã được đặt tên, một cái tên yêu kiều của cả một dân tộc là “China Girl”, Cô Gái Trung Hoa. Nàng được bảo vệ rất cẩn thận, có máy thâu hình theo rõi thường trực, có nhân viên bảo vệ và các cửa kính là loại chắn đạn. Nhân viên sở thú đang sửa soạn cho kỳ truyền giống của chàng và nàng trong năm tới được kết quả. Họ đã tăng phần ăn thêm chất calcium bằng cá, crayfish và cổ gà để vỏ trứng được cứng thêm. Trong lúc chờ tới mùa “động phòng”, chàng và nàng bị ngăn cách bằng một cửa sắt. Bà Liu Jinde, Giám đốc sở thú cho biết:”Chúng tôi đang làm việc tích cực, nhất định sẽ thành công trong năm tới. Hiện nay hai con rùa này rất khỏe mạnh”.

Trung Hoa đã được tiếng về bảo tồn loại gấu Panda, nhưng các nhà khoa học cũng cho biết khoảng 40% các loại động vật (Mammal) đang bị cơ nguy tuyệt chủng vì ô nhiễm và săn bắt.

Ngoài hai con rùa thuộc sông Dương Tử nói trên, họ cho biết có hai con rùa đực còn lại tại Việt Nam. Bốn con rùa này có thể cùng một giống, nhưng hai con rùa ở Việt Nam theo truyền thuyết lại là những con rùa thần được gắn liền với lịch sử linh hiển Việt Nam, mà được cả một dân tộc tôn kính.

 *

Tìm hiểu về rùa Hoàn Kiếm chúng ta hãy đi ngược trở lại những trang sử Việt Nam, chính sử cũng như huyền sử, và những bài viết thực tế đương thời đã được lưu trữ trong các mạng lưới. Khi đọc những dữ liệu trên, nhiều người sẽ có một cảm tưởng những dữ kiện về rùa không được thống nhất cả về huyền sử lẫn thực tế, và có những vấn đề cần được thảo luận.

Trước hết, hãy đọc lại chính sử, mà quyển Việt Nam Sử Lược (VNSL) của Trần Trọng Kim được coi là đáng tin cậy để biết được bối cảnh của huyền sử đã được truyền tụng đến ngày nay. Sau hai triều đại Lý (1010-1225), và Trần (1225-1400) cường thịnh trải dài gần bốn thế kỷ. tiếp đến nhà Hồ và Hậu Trần suy thoái đã đưa đến việc nhà Minh tìm cách đưa quân sang Việt Nam đô hộ từ năm 1414-1427, và trong thời gian này họ cố tìm cách hủy diệt văn hóa và cố đồng hóa theo người Tầu. Theo VNSL: “May lúc ấy có một đấng anh hùng nổi lên, kéo cờ khởi nghĩa để chống với giặc Nguyên, trong 10 năm lấy lại được giang sơn cũ, và xây đắp lại nền độc lập cho nước Nam. Đấng anh hùng ấy, người ở làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, họ Lê, tên là Lợi. Đã mấy đời làm nghề canh nông, nhà vẫn giầu có, lại hay giúp đỡ cho kẻ nghèo khó, cho nên mọi người đều phục, và những tôi tớ có hàng ngàn người. Ông Lê Lợi khảng khái, có chí lớn, quan nhà Minh nghe tiếng, đã dỗ cho làm quan, nhưng ông không chịu khuất, thường nói rằng: “Làm trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chớ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ người”. Bèn giấu tiếng ở chỗ sơn lâm, đón mời những kể hào kiệt, chiêu tập những kẻ lưu vong”.

Lê Lợi có những tướng giỏi như Lê Thạch, Lê Liễu, Lê Lai, Trần Nguyên Hãn, Phạm văn Xảo và nhiều tướng khác nữa tận lòng phụ giúp. Sau này còn có “Nguyễn Trãi vào yết kiến, dâng bài bình Ngô, Lê Lợi xem thấy hay, bèn mời làm tham mưu bầy mưu định kế để lo sự bình định”

Sau khi Lê Lợi dẹp xong giặc Minh rồi, lập nên Triều Đại Nhà Lê, lấy tên là Lê Thái Tổ, sai ông Nguyễn Trãi làm tờ bá cáo cho thiên hạ biết. Tờ Bình Ngô Đại Cáo này làm bằng Hán Văn là một bản văn chương rất có giá trị trong đời Lê, nguyên văn được lưu trong Hoàng Việt Văn Tuyển.

Sau khi đọc qua đoạn chính sử trên, liên tưởng đến truyền sử về Nguyễn Trãi, ông đã cho người dùng mỡ viết trên những chiếc lá câu: “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” (Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm quan), kiến thấy mỡ tới ăn, đục lá thành dòng chữ trên rồi cho thả theo dòng nước tới những chỗ đông dân. Dân chúng cho rằng đó là mệnh trời, nên hùa theo Lê Lợi. Nguyễn Trãi chắc đã không ngừng ở đó, và đã tiếp tục đặt ra truyện Lê Lợi nhận được kiếm thần để thu phục thêm được nhân tâm hầu đuổi được giặc Minh, dành lại độc lập. Có một câu hỏi được đặt ra cũng có lý do là, tại sao đã nhận được kiếm thần rồi không giữ, mà lại tạo thêm truyện trả kiếm lại, để ngày nay chúng ta có huyền sử Hồ Hoàn Kiếm. Chuyện này chúng ta sẽ bàn đến ở đoạn sau.

Chỉ tiếc rằng Lê Thái Tổ khi lên ngôi, tính hay nghi ngờ, nên đã giết hại công thần như Trần Nguyên Hãn và Phạm văn Xảo, hai người đã có công lớn, chỉ vì sự dèm pha mà đều phải chết oan, gia tộc cũng phải vạ lây. Triều vua sau, vua Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi cũng không tránh khỏi hàm oan. Sử có chép: “ Năm Nhâm Tuất 1442, Thái Tông đi duyệt binh tại Côn Sơn. Bấy giờ ông Nguyễn Trãi đã về trí sĩ ở trại Côn Sơn, thuộc huyện Chí Linh, khi vua đi qua đó có vào thăm, và thấy người hầu ông ấy là Nguyễn Thị Lộ, có tài sắc, bèn bắt theo hầu. Đi đến huyện Gia Định (nay là huyện Gia Bình ở Bắc Ninh) thì vua mất. Triều đình đổ tội cho Nguyễn Thị Lộ giết vua, bắt ông Nguyễn Trãi làm tội và tru di cả ba họ”. Sau đó, truyền sử được đặt ra vì chuyện rắn báo oán mà Nguyễn Trãi đã gặp nạn. Khi đó Thái Tông 20 tuổi.”

 *

Theo truyền thuyết, có tác giả cho rằng câu truyện chỉ liên quan đến ba nhân vật là Lê Lợi, thanh kiếm và con rùa, nhưng cũng cần phải kể thêm đến hồ Hoàn Kiếm, Tháp Rùa và Nguyễn Trãi, người đã giúp Lê Lợi hoàn thành cuộc khởi nghĩa.

Theo “Lam Sơn Thực Lục” của Nguyễn Trãi, một công thần tham mưu của Lê Lợi:

“ Khi ấy nhà vua cùng người ở trại Mục Sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ Ma-viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của` cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:

- Sắt nào đây?

Thận nói:

- Đêm trước quăng chài bắt được.

Nhà vua nhân xin lấy, Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận Thiên”, cùng chữ “Lợi”. Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:

- Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền với nhau!

Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, lúc đêm, trời mưa gió, sớm ngày mai, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ “Thuận Thiên” (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ “Lợi”. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra. Truyền thuyết kể tiếp rằng, sau Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh, lên làm vua. Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Lục. Ra giữa hồ, có Rùa Vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:

- Xin nhà vua hãy hoàn lại gươm thần cho Long Vương!

Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Lục Thủy được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm”.

Hãy đọc thêm sách “Tang Thương Ngẫu Lục” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án soạn đời Gia Long (1802-1819), khoảng gần 400 năm sau sách “Lam Sơn Thực Lục”:

“Hồ Hoàn Kiếm bên cạnh phường Báo Thiên, thành Thăng Long, thông với nước ngoài sông, hình thể rất to rộng. Hồ này là nơi đức Thái Tổ (triều trước) đánh rơi thanh kiếm.

Hồi Thái Tổ khởi nghĩa, ngài bắt được một thanh gươm cổ. Khi ngài làm vua, ngài vẫn thường đeo thanh gươm đó. Một hôm chơi thuyền ở trong hồ, chợt thấy một con ba ba rất lớn nổi lên mặt nước, bắn nó không trúng. Ngài bèn lấy thanh gươm mà chỉ. Bất đồ, thanh kiếm rơi xuống nước mất, con ba ba cũng lặn theo. Ngài giận, sai lấp cửa hồ lại, đắp cái bờ ngang, tát hết nước để tìm, nhưng chẳng thấy đâu cả. Đời sau, nhân cái vết bờ ấy chia hồ ra làm hai: tả vọng và hữu vọng. Cuối đời Cảnh Hưng, bỗng có một vệt sáng từ cái đảo trong hồ vọt lên cao, sáng rực tan ra rồi tắt, người ta cho là thanh kiếm đã bay đi”.

Ngoài ra còn khá nhiều truyền thuyết khác. Nhiều dân tộc trên thế giới Âu, Á cũng có những thần thoại và huyền sử như chúng ta, những huyền sử làm cho họ hãnh diện liên hệ đến những sự linh thiêng. Điều hay nhất là trong những truyền sử đó, hãy cùng nhau chọn và giữ một huyền sử mà mình tin nhất, đẹp nhất, cảm thấy linh thiêng nhất và phù hợp với văn hóa của dân tôc. Theo đó huyền sử trong Nguyễn Trãi Thực Lục là nguyên thủy nhất, của chính thời kỳ phát sinh ra kiếm, và có thể tin được rằng chính Nguyễn Trãi đã tạo ra huyền sử này và viết lại. Tang Thương Ngẫu Lục sau 400 năm, một quãng thời gian quá xa, viết lại một truyền sử chắc không tránh khỏi những điều sai lạc và thêu dệt thêm.

 *

Khi nói về thực tế Rùa Hoàn Kiếm, nguồn dữ liệu phong phú nhất là tìm trên các mạng lưới tin học. Nếu vào Google, với “Rùa Hoàn Kiếm” hay “Turtle in Hoàn Kiếm Lake in Viet Nam” có hàng mấy chục trang Việt ngữ và Anh Ngữ liệt kê các đề tài liên quan đến rùa trong hồ này. Mạng lưới là nơi đóng góp dữ liệu, các bài báo của nhiều người nên các ý kiến rất đa dạng, có một số lớn bài trùng nhau và thiếu tên tác giả. Đại đề có thể chia làm ba đề mục lớn:

1- Một số lượng bài đáng kể nói về nạn “Thản Nhiên Câu Rùa tại Hồ Hoàn Kiếm, chẳng ai cấm!”, bất chấp luật lệ, nhân viên công lực lơ là. Có một bài tả cảnh xả thịt con rùa bị bắt ngay bên hồ, khiến nhiều người, ngay cả những du khách ngoại quốc chứng kiến rất là phẫn nộ, mà không can thiệp được. Trong hồ cũng có những loại rùa khác, và có một loại rùa độc mắt đỏ đang được trừ khử.

2- Một số bài nói về huyền thoại rùa đáng kể của hai sử liệu: Nguyễn Trãi Thực Lục của Nguyễn Trãi khoảng năm 1428, Tang Thương Ngẫu Lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, đời Gia Long 1802-1819, ngoài ra còn của Phạm Đình Bách 1873 và của một người Pháp là Philippe Papin trong cuốn Histoire de Hanoi, Fayard 2001

3- Một số nhỏ bài viết về động vật học, môi trường rùa sống và việc bảo vệ rùa.

Trong các bài trên, có một bài đặt ra những câu hỏi rất là xác đáng và thích thú:

Tên Hồ Gươm có từ bao giờ? Theo sử khi vua Lý Thái Tổ chọn vùng đất Đại La làm kinh đô, khu vực này là vùng rừng rậm, hoang vắng, đầm lầy và có hồ Dâm Đàm (Hồ Tây), hồ Lục Thủy (Hồ Gươm) và hàng chục hồ lớn nhỏ khác. Hồ có tên Lục Thủy vì màu nước hồ xanh ngắt quanh năm. Ngay từ thời Lý đã cho dựng chùa Sùng Thiên, là công trình kỳ vĩ ngay trên bờ hồ Lục Thủy. Suốt hai triều Lý Trần hơn 400 năm không hề thấy sử sách hay thư tịch nào nói có loài rùa lớn sống trong hồ này. Mãi đến thế kỷ 15 với truyền thuyết vua Lê trả lại gươm báu cho Thần Rùa tại hồ Lục Thủy, sau khi dẹp được quân Minh, loài rùa lớn này mới được nói đến và hồ này từ đó được đổi tên là hồ Hoàn Kiếm hay hồ trả Gươm.

Tại sao rùa này chỉ có tại hồ Gươm mà không thấy ở các hồ khác tại Hà nội? Như đoạn trên trình bầy, Hà nội có nhiều hồ, các hồ này thời xưa đã nối liền với sông Hồng Hà, mà chỉ có hồ Gươm là có rùa, ngay cả không ai nói đến có rùa này trong sông Hồng như bên Tầu rùa này có trong sông Dương Tử.

Phải chăng rùa đã được đưa từ nơi khác thả vào hồ Gươm?. Trong sách cổ có nói Vụng Sung trên Sông Lương ở vùng Lam Sơn, nơi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa có một loại rùa to bằng cái nia. Người dân kể lại rằng xưa kia họ đã từng dùng mai rùa dựng làm mái lều che ba người ngồi dưới mà không ướt, hoặc lật ngược thành thuyền hái rau muống. Một số vùng miền Lam Sơn người ta còn dùng mai rùa lớn làm chậu hứng từ máng dẫn nước từ trên núi xuống để lấy nước. Một điều kỳ thú là người ta tìm thấy con rùa đá đội bia Vĩnh Lăng tại Lam Kinh là loại rùa mai mềm, về hình thái giống như rùa hồ Gươm hiện nay. Nghệ nhân vùng này quá quen thuộc với loại rùa này, nên tạc tượng rùa đội đá Vĩnh Lăng khác với những con rùa đá ở Văn Miếu hay các đình chùa khác. Nhiều người cho rằng chính Lê Lợi đã đưa rùa này thả vào hồ Lục Thủy và tạo nên huyền sử Hoàn Kiếm. Có một điều nữa làm cho người ta tin rằng rùa Hồ Gươm chính là thần Kim Quy, bàn chân rùa đá Vĩnh Lăng có 6 móng, trong đó có một móng bị khuyết, phải chăng móng đó đã bị Triệu Đà lừa mang về Tầu, đã làm liệt nỏ thần của An Dương Vương, đưa nước ta lại vòng lệ thuộc. Những điều này chưa được kiểm chứng rõ rệt.

Tiến sĩ Hà Đình Đức, một nhà sinh học chuyên nghiên cứu về loài rùa này hơn chục năm, cũng có nhận định rùa Hồ Gươm không phải là rùa tự nhiên vốn sống tại hồ mà được mang từ nơi khác đến. Ông cũng đưa ra lập luận, Hồ Gươm là phần còn lưu lại dấu tích chuyển dịch của sông Hồng Hà, như hồ Tây, hồ Thuyền Cuông, hồ Bẩy Mẫu và nhiều các hồ khác, tuy nhiên chỉ có Hồ Gươm là có loại rùa này. TS. Đức cũng đồng ý với giả thuyết rằng rùa Hồ Gươm đã được Lê Lợi mang từ quê hương Thanh Hoá thả vào hồ.

Tại sao Lê Lợi được gươm thần không giữ mà tìm cách trả lại? Có một bài viết giải thích dựa trên truyền thuyết Thần Kim Quy đã xuất hiện trong lịch sử Việt Nam ba lần. Lần thứ nhất, Thần Kim Quy cho An Dương Vương (257-207 trước Tây Lịch) mượn thanh bảo kiếm để trừ yêu quái đến phá phách trong lúc xây thành Cổ Loa, khi thành xây xong, An Dương Vương đã làm lễ trả lại. Sau đó, khi Triệu Đà từ phương Bắc xuống đánh, Thần Kim Quy lại cho mượn một chiếc móng của mình để làm lẫy nỏ thần và khiến Triệu Đà đại bại thoái lui về Bắc. Nhưng lần này An Dương Vương không hoàn trả móng rùa. Triệu Đà sau đó dùng kế giảng hòa, cho con trai là Trọng Thủy lấy con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Trong Thủy tìm cách lừa Mỵ Châu tráo lẫy nỏ thần mang về Tầu. Triệu Đà lại đem quân sang đánh, An Dương Vương đem nỏ thần ra bắn thì vô hiệu, bèn mang Mỵ Châu chạy trốn. Lúc đường cùng, An Dương Vương cầu cứu Thần Kim Quy, Thần bảo: “Giặc ngồi đằng sau nhà ngươi đấy!”. An Dương Vương chợt hiểu ra, tức giận rút gươm ra chém Mỵ Châu, rồi nhẩy xuống biển tự vận. Theo truyền thuyết, An Dương Vương vì đã không trả lại móng rùa, đã phạm vào quy luật “Vay-Trả”, nên đã chịu thảm họa như thế. Lần thứ ba, Thần Kim Quy xuất hiện, giúp Lê Lợi có thanh bảo kiếm, trên lưỡi có khắc sâu hai chữ “Thuận Thiên” (hợp ý trời). Sau khi dẹp xong giặc Minh, Lê Lợi rút ra bài học này, đã đem thanh bảo kiếm trả lại cho rùa thần trên hồ Lục Thủy giữa kinh thành, như muốn chứng minh với văn võ bá quan, truớc bàn dân thiên hạ: “Thần cho ta mượn thanh bảo kiếm dẹp giặc, nay việc lớn đã xong, ta đem hoàn trả”. Không có rùa to ở hồ Lục Thủy, Lê Lợi đã mang rùa từ nơi khác đến thả để minh chứng việc làm của mình (?).

Theo một bài viết, trên hồ có hai hòn đảo, đảo Ngọc và đảo Rùa (vì rùa thường bò lên nằm phơi nắng). Cuối thế kỷ thứ 16, Chúa Trịnh dựng phủ Chúa ở phường Bảo Thiên (nay là Nhà Thờ Lớn) và ở chỗ phố Thợ Nhuộm gần hồ, nên đặt cho hai phần hồ là Hữu Vọng và Tả Vọng. Sau đó Trịnh Doanh cho đắp ở bờ hồ, chỗ đối diện với đảo Ngọc, một gò đất tên là Ngọc Bội, còn trên đảo Rùa thì cho dựng lầu Tả Vọng. Khi Trịnh suy, Lê Chiêu Thống cho đốt phá tất cả những gì do họ Trịnh dựng lên. Đến đầu thế kỷ 19, người ta dựng một ngôi chùa trên đảo Ngọc gọi là chùa Ngọc Sơn. Ít lâu sau chùa này không thờ Phật mà thờ thánh Văn Xương và Trần Hưng Đạo, do đó chùa đổi thành đền, tức đền Ngọc Sơn ngày nay. Năm 1864, nhà nho Nguyễn Văn Siêu đã đứng ra sửa sang lại cảnh đền. Trên gò Ngọc Bội, ông cho xây một ngọn tháp hình bút. Đó là tháp Bút ngày nay. Riêng tháp Rùa, có một vài bài viết tranh luận của các sử gia về tháp Rùa được xây cất vào thời đại nào cũng chưa xác định được, và lầu Tả Vọng có phải là Tháp Rùa ngày nay hay không?

Rùa Hoàn Kiếm thuộc giống nào và còn bao nhiêu con trong hồ? Đây cũng là một sự bất đồng ý kiến không những của những người trong nước và cả với các tổ chức bảo vệ rùa quốc tế. Về tên khoa học các tổ chức nghiên cứu quốc tế cho rằng rùa Hoàn Kiếm cùng loại với rùa của sông Dương Tử, đang được nuôi tại một sở thú gần Thượng Hải. Loài rùa này có thể nặng tới 136kg, dài tới hơn một mét và sống hơn 100 năm, có tên là Rafetus swinhoei. Nhưng Tiến Sĩ Hà Đình Đức, người chuyên nghiên cứu về rùa tại Việt Nam lại cho rằng: “Công bố của nhóm nghiên cứu trên không mang tính chất khoa học và không liên quan gì đến rùa ở hồ Hoàn Kiếm”. Ông đặt tên rùa Hoàn Kiếm là Rafetus leloii (chắc dựa vào tên Lê Lợi) và cho rằng không giống với loại rùa Rafetus swinhoei của sông Dương Tử về hình thái.

Số rùa còn sống trong hồ Gươm cũng vẫn còn là một nghi vấn, vì có những con số khác nhau được đưa ra. Bài báo của hãng AP trên cho rằng còn 2 con rùa đực. Trong một website mang tên asianturtlenetwork thì còn 1 con không nói đực hay cái. Theo nhóm nghiên cứu về rùa tại vườn thú Cleveland Metropark cũng cho rằng có một con, không nói đực hay cái.

Tại Việt Nam, theo một số bài trong websites, có giả thuyết cho rằng còn 5 con, giả thuyết khác cho rằng có hai con, một đực một cái, một con đực đã bị giết chết, nay còn một con cái mà thôi. Theo TS. Hà Đình Đức, là một nguồn tin đáng tin cậy, thì ông cho biết rùa hồ Gươm trong một số năm qua có 4 con:

1- Hiện còn một con rùa sống trong hồ Hoàn Kiếm, không nói đực hay cái

2- Ba con đã chết:

- Một xác được lưu trữ trong đền Ngọc Sơn

- Một xác được lưu trữ trong kho của Bảo tàng Hà Nội

- Một bị giết năm 1962-1963, khi bò lên vườn hoa Chí Linh sau một cơn mưa lớn.

Nếu ở một nước khác, với kỹ thuật tìm kiếm khoa học, và với một diện tích hồ nhỏ và đáy không sâu của hồ Gươm, việc biết được hồ còn bao nhiêu con rùa, đực hay cái ra sao là một điều không khó khăn lắm.

Rùa Đồng Mô, Sơn Tây cùng loại mới tìm thấy ít lâu nay có thể làm đảo lộn một số các giả thuyết trên. Theo một bài viết trong tháng 11/2008 mới đây của báo Tiền Phong trong nước, phỏng vấn ông Douglas Hendri, Giám đốc Chương trình Bảo tồn rùa Á châu, ông cho biết hình ảnh rùa Đồng Mô sau khi rùa được trả lại hồ đã được gửi cho các chuyên gia đang làm việc tại Trung Quốc, nơi có vườn thú đang nuôi dưỡng một cặp rùa cùng loại và được ông Peter Richard, chuyên viên hàng đầu thế giới về rùa Rafetus Swinhoei, xác nhận 99% đây là rùa đực. Ông Hendri nói: “Hiện nay chúng tôi đang tiếp tục phối hợp với người dân khu vực hồ Đồng Mô và chính quyền địa phương tại đây để bảo vệ chặt chẽ loại rùa quý này. Chúng tôi cũng làm việc với người thuê hồ này để thả cá từ hơn một năm nay, ngày nào cũng đi khảo sát quanh hồ, và phỏng vấn dân cư quanh đó các câu hỏi như có nhìn thấy rùa không?”. Ông cho biết người thuê hồ này rất nhiệt tình bảo vệ hồ. Ông này đã yêu cầu tất cả dân địa phương vào khu vực này đánh cá bắt tôm phải làm cam kết không được dùng hay mang theo thiết bị đánh bắt rùa, và thuê ba người bảo vệ cùng ông để trông coi hồ. Nhưng có một bài báo trước đó đã thuật lại sự mặc cả giữa Tổ Chức Bảo Vệ Rùa và người này về số phận con rùa sau khi bị người này bắt. Người này lúc đầu đòi $4000 đô la,giá mà một tiệm ăn đề nghị trả để làm món đặc sản cho thực khách. Sau khi tổ chức cố thuyết phục, người này chịu nhận $200 và bằng lòng để con rùa quý được trở lại hồ. Không hiểu có gì bảo đảm để con rùa khỏi bị bắt lại, và lần này có thể sẽ phải trả gía cao hơn nhiều.

Ông Hendri còn cho biết thêm, tổ chức của ông sẽ tiếp tục tìm kiếm thêm loại rùa này ở các khu vực khác và các vùng khác tại Việt Nam, nơi đã từng ghi nhận có sự xuất hiện của loài rùa Rafetus Swinhoei. Nếu may mắn có thể tìm thấy một con rùa cái, thì có thể chuyển về Đồng Mô để cùng sống với rùa đực ở đây để tạo cơ hội sinh sản. Còn rùa Hoàn Kiếm hiện chưa xác định được là rùa đực hay rùa cái. Một phương cách nữa là mang rùa Đồng Mô sang Trung quốc hay ngược lại để gây nuôi sinh sản. Trên thực tế, rất ít hi vọng tìm được rùa cái và trong quá khứ các cuộc điều tra cho thấy, chưa có một báo cáo nào hay hay thông tin nào ghi nhận đã từng có sự sinh sản của rùa đực và rùa cái trong khu vực chúng sinh sống. Ông cho rằng dù thực hiện cách nào để bảo tồn giống rùa quý hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của chính phủ và cơ quan chức năng tại Việt Nam. Hiện nay chỉ còn trông chờ vào kết quả trong mùa tới của cặp rùa tại vườn thú Thượng Hải bên Trung Quốc

 *

Vấn đề cuối cùng là rùa và hồ Hoàn Kiếm được bảo vệ như thế nào?

Trước hết là bảo vệ an ninh cho rùa. Với nạn thản nhiên câu rùa quanh hồ Hoàn Kiếm, chắc thế nào cũng có ngày một lưỡi câu nào đó sẽ móc sâu vào lưng rùa và bị đem đi, vì đã có một bài viết quan sát khi rùa bò lên đảo nhỏ tháp rùa, trên mai người ta thấy có những vết sẹo, và họ cho rằng do những lưỡi câu đã móc xước trên mai rùa. Chắc cũng có một ngày, Hà Nội trong cơn mưa lụt, nước ngập tràn hồ, rùa có thể bị lạc hay bị nước mưa lũ cuốn khỏi hồ. Sự việc này cũng đã xẩy ra, một lần trước năm 1954, sau cơn mưa lớn khi nước rút, người ta thấy rùa nằm trơ giữa đường phố, một số người bèn hợp nhau khênh rùa trả lại xuống hồ. Đến năm 1962-63, như TS. Hà Đình Đức cho biết cũng sau một trận mưa lớn, rùa bị lạc trên vườn hoa Chí Linh cạnh hồ, đã bị giết, chắc là đã bị đem xả thịt trong một quán ăn đặc sản nào đó.

Hầu hết tại các nước, họ thường cấm câu tại các hồ công cộng, muốn câu phải có môn bài và tuân theo luật lệ về câu. Các thời trước từ Pháp thuộc, câu trái phép đều bị phạt nặng, không hiểu sao hiện nay thành phố và nhân viên công lực lơ là khiến cho có nhiều bài viết trên mạng lưới phẫn nộ về việc câu rùa thản nhiên tại hồ Hoàn Kiếm. Thành phố có nghĩ đến cần có một hàng rào cản nào, hay xây bờ lên cao tại những chỗ mà rùa có thể thường bị nước lũ cuốn lên cạn.

Gần như khó kiếm thấy những bài về Bảo vệ sức khỏe cho rùa Hoàn Kiếm trong mạng lưới. Như ở các sở thú khác, chắc hẳn là các con thú đều được theo rõi về tình trạng sức khỏe hay khám tổng quát định kỳ như người ta vậy, nhất là đối với những con thú hiếm đang tuyệt chủng. Đối với những con thú thả hoang, như chúng ta thường được xem trong các phim tài liệu, nặng như voi, dữ như sư tử trong rừng hoang Phi Châu, cũng đã được các chuyên viên bắn thuốc ngủ để chữa bệnh. Ngay cả những con thú nhỏ, như cá hồi cũng được gắn máy trên mình để theo rõi dù ở một nơi nào đó trong biển cà mênh mông. Chúng ta đã biết loại rùa này ở Trung Hoa, họ đang săn săn sóc bảo vệ tối đa như thế nào.

Chắc hẳn rùa Hoàn Kiếm chưa một lần nào được khám sức khỏe, biết được bệnh tật ra sao hay cần được săn sóc như thế nào. Chế độ dinh dưỡng của rùa như thế nào, rùa cần ăn thức ăn nào và không nên ăn những thức ăn nào có sẵn trong hồ. Thói quen của rùa cũng cần được biết đến. Tuổi của rùa cũng dễ định, không quá huyền thoại cho rằng những con rùa này đã sống ngàn năm. Quan niệm thực tế khoa học và truyền thuyết linh thiêng của Việt Nam đã không thể đi song song với nhau. Huyền thoại linh thiêng từ xưa đã ngăn cản khiến không ai dám đụng đến rùa, vì đó là điều xúc phạm. Việc đưa rùa vào phòng thí nghiệm lại càng không thể chấp nhận được. Hồi trước đã có người đưa ra đề nghị có tính cách khoa học trên nhưng bị phản ứng mãnh liệt. Nhưng ái oăm thay, lại không có gì ngăn cấm được sự thản nhiên câu rùa xảy ra hàng ngày quanh bờ hồ lịch sử đó, và có lần rùa đã bị giết và xả thịt đem đi bán.

Nói về Môi trường rùa đang sống, ai cũng rõ môi trường ô nhiễm và săn bắt là hai yếu tố nguy hại làm tuyệt chủng thú vật. Có một bài của ông Lê Bảo Trung, thuật lại cuộc nghiên cứu của CETASD, Đại học Tự Nhiên Hà Nội thực hiện, báo động nước hồ giảm một cách trầm trọng, khiến mọi người giật mình. Một thành viên trong nhóm nghiên cứu, ông Phạm văn Quân đã kể lại rằng: “Ngày 14.11.2003, tổ khảo sát của chúng tôi bơi thuyền ra hồ để lấy mẫu nước và thật bất ngờ, vừa ngồi xuống thuyền thì đáy thuyền đã chạm…đất. Chúng tôi không ngờ mực nước hồ lại thấp đến thế…”.

Sau đây là một bài viết rất quan trọng của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết. Ông đậu bằng Tiến sĩ Hóa học tại Pháp, từng là Khoa Trưởng Phân Khoa Hóa Học tại Đại Học Sư Phạm Saigon, và là chuyên viên nghiên cứu Y Sinh Hóa tại Đại Học Y Khoa Mineapolis. Ông viết bài Phân Tích Nước Hồ Hoàn Kiếm tháng 1/2004 tại West Covina. Đây là một bài viết quan trọng, nên để nguyên văn như sau: “Công cuộc bảo quản không đuợc chu đáo cho nên”Rùa Vàng” trong thời gian sau này xuất hiện nhiều lần, thường xuyên hơn, cũng như trên mặt nước lâu hơn. Năm 2002, rùa xuất hiện hơn 10 lần, điều này chưa bao giờ xảy ra trước đó. Lý do là ô nhiễm nguồn nước của hồ. Đáy hồ cạn dần và nguồn dưỡng khí (oxygen) trong nước không còn đầy đủ nên Rùa Vàng phải trồi lên mặt nước để thở. Có lẽ vì những lý do trên cho nên ngày 15 tháng 12, 2003, Trung Tâm Công nghệ, Môi Trường và Phát Triển Bền Vững thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã cho đo đạc lại độ sâu của hồ. Kết quả là độ sâu đã giảm (từ nhiều thước sâu) xuống còn khoảng trung bình là 0,9 m, chỗ sâu nhất là 1,50 m, và đáy hồ bị che phủ bởi một lớp bùn dầy đặc”.

“Giáo sư Hà Đình Đức, Đại Học Tự Nhiên Hà Nội nghĩ rằng rùa sẽ không bị ảnh hưởng vì tình trạng của hồ kể trên vì lớp bùn là môi trường quan trọng cho điều kiện sinh sống của loài rùa, do đó nếu cần phải vét hồ chỉ nên vét 30cm lớp bùn mặt mà thôi”

TS Truyết viết thêm: “Cần phải kể thêm vài nguyên nhân ô nhiễm của hồ là do thời tiết nóng bức vào mùa khô làm cho nước hồ cạn dần. Cũng như các công trình xây cất đê điều của sông Hồng năm 1993 và 1997 làm ảnh hưởng nhiều đến phẩm chất nước trong hồ”.

Từ đó, quyết định công tác nạo vét hồ đã được Ủy Ban Nhân Dân Hà Nội chấp thuận với ngân khoản 600 triệu đồng VN. Ngày 9 tháng 1,2004, công việc nạo vét đã được khởi công và kết thúc vào ngày 16 tháng 1, 2004 cho địa điểm dời bùn và phế thải ra khỏi vùng Hoa Phong, gần nhà Thủy Tạ. Tổng cộng có khoảng 600 m3 bùn nằm dọc theo chiều dàị 450 m đã được rời đi. Tiếp theo đó, nước từ hai nhà máy thủy lợí 1 và 2 được bơm vào với lưu lượng từ 1.400 đến 1.500 m3/ngày, mục đích là để tăng thêm lượng nước trong hồ. Tại vùng hồ được nạo vét, đáy hồ đã được sâu thêm 30cm. Và theo dự án, nước hồ sẽ được theo dõi và kiểm soát phẩm chất thường xuyên”.

Một mẫu nước Hồ Hoàn Kiếm được lấy vào 8 giờ sáng ngày 14 tháng 12 năm 2003, gần nhà Thủy Tạ. Mẫu này được TS. Mai Thanh Truyết phân chất một cách chi tiết theo tiêu chuẩn. Tiến sĩ cho biết: “Mẫu nước có màu rêu xanh và có sự hiện diện của nhiều “sợi” rong li ti lơ lửng trong đó… Vì điều kiện lấy mẫu nước không cho phép phân tích các hợp chất hữu cơ nhẹ (VOCs), tuy nhiên kết quả của Tổng lượng hữu cơ (TOC) và nhu cầu oxy hóa (COD) cho thấy nước hồ Gươm đã bị ô nhiễm hữu cơ khá trầm trọng. Theo kinh nghiệm qua việc phân tích nước thải ở Hoa Kỳ, hàm lượng của hai thông số trên có thể tương đương với nồng độ VOCs từ 1,50 đến 2,0 mg/L trong nước. Về nguyên do ô nhiễm, tuy không có mặt ở hiện trường để được quan sát tường tận hơn, nhưng thiết nghĩ nguyên do chính yếu là do con người qua việc xả rác bừa bãi, và phế thải có thể từ khách ngoạn du cũng như thực khách trên cầu Thê Húc và nhà hàng Thủy Tạ…Một câu hỏi cấp bách được đặt ra là phế thải do nhu cầu tiểu đại tiện của con người có “bị” xả thẳng vào hồ hay không?.

Lượng chất rắn lơ lửng (TSS) khá cao so với tiêu chuẩn nước uống tại Việt Nam (5 mg/L) cho thấy các sinh vật sống trong nưóc không có điều kiện sống an toàn và lượng oxy hòa tan (DO) chắc chắn sẽ giảm nhiều (Không thể phân tích được thông số này vì mẫu nước nhận được mất thời gian tính cho phép). Đó là lý do chính khiến rùa phải trồi lên mặt nước thường xuyên.

Nồng độ chloride (Cl) và Natrium (NA) tương đối thấp và còn nằm trong tiêu chuẩn của nước sạch, Các ions nhu Sulfate (SO4=), Nitrate (NO3-), và Phosphate (PO43+) không hiện diện hoặc dưới một lượng rất nhỏ, chứng tỏ rằng nước hồ chưa bị ảnh hưởng nhiều vì các hóa chất và phân bón phục vụ cho nông nghiệp.

Tuy nhiên hàm lượng của kim loại trong nước chưa ở tình trạng báo động, nhưng là những chỉ dấu cho thấy sự ô nhiễm đã bắt đầu xuất hiện. Các hoá chất độc hại như Chì (Pb), Nicken (Ni), Manganese (Mn), Đồng (Cu) xuất hiện dưới hàm lượng thấp, nhưng cũng cần phải lưu ý vì đây là những hóa chất độc hại. Lượng Arsenic (As) vẫn còn thấp dưới tiêu chuẩn cho phép là 10ug/L.”

TS Mai Thanh Truyết đề nghi: “Hồ Hoàn Kiếm là một trung tâm du lịch của thành phố, do đó đề nghị cần nên bổ túc thêm một số việc cần làm liệt kê theo đây với mục đích vừa tăng thêm nét cảnh quan và bảo vệ môi trường sống trong hồ:

- Chung quanh hồ cần phải be bờ bằng gạch hay ciment để tránh cảnh sạt lở và tạo điều kiện an toàn cho khách thưởng ngoạn

- Tuyệt đối không tiếp nhận phế thải sinh hoạt từ các cống dẫn từ những đơn vị gia cư.

- Quy định việc giáo dục và phạt vạ cho việc xả rác và phóng uế xuống hồ.

 Các biện pháp trên có thể giảm thiểu lượng hợp chất hữu cơ và tăng lượng oxy hòa tan trong nước.

- Đáy hồ cần được vét sâu hơn nữa để tránh hiện tượng đồng hóa diệp lục tố làm

sinh sản thêm nhiều rong rêu trong hồ.

- Sau cùng, một trong những giải pháp các quốc gia Tây Phương đang áp dụng để

xử lý các ions và hợp chất hữu cơ là trồng cây chung quanh hồ, cũng như trong

nước. Đó là cây sậy có tên là Duckweed cần nên trồng nhiều nơi trên mặt hồ. Các

cây Bạch Dương (polar) ,Khuynh Diệp (eucalyptus), Liễu (willow) cũng nên trồng chung quanh hồ. Các cây này vừa làm tăng nét thơ mộng của hồ, vừa có nhiệm vụ hấp thụ các ions và hợp chất hữu cơ trong trầm tích và trong nước”.

Cũng trong bài viết này có đăng một lá thư có tính cách nghi vấn về công cuộc tạo vét hồ từ Hà Nội gửi đến một tuần sau khi bài viết này được loan ra, cho biết: “Những số liệu mà các bác công bố trên đây chỉ mới có một tuần, còn mẫu nước thì cũng chỉ mới lấy có hơn một tháng, mà nay thì khác hoàn toàn! Mức nước hồ Gươm tính cho đến ngày 6/02/2004, chỗ sâu nhất chưa tới 60cm, cạn nhất trong vòng 12 năm trở lại đây. Công việc nạo vét một đoạn quanh hồ do sở GTCC Hà Nội thi công tiêu tới 600 triệu đồng, nay người ta có thể nhìn thấy đá lởm chởm nhô lên mặt nước, mà không cải thiện được tình hình.” Cuộc phân tích này nay đã quá 4 năm, chưa thấy có một phân tich nào khác, trong nước và ngoài nước. Không hiểu tình trạng nước và môi trường hồ Gươm có thay đổi, tốt đẹp hay tồi tệ ra sao?

 *

Trong các trang nói về rùa Hoàn Kiếm, khó tìm được một trang nào nói về một tổ chức bảo vệ rùa của Việt Nam. Chính quyền thành phố có luật lệ nghiêm chỉnh, nhân viên công lực làm việc tích cực, cơ quan bảo vệ muông thú tìm được một phương cách chăm lo rùa dung hòa giữa khoa học và tâm linh lịch sử. Một hội bất vụ lợi được sự bảo trợ của các doanh nghiệp tài trợ để thực hiện các công tác văn hóa, giáo dục quần chúng, nghiên cứu liên quan đến rùa, cũng như phối hợp với các tổ chức quốc tế bảo vệ rùa như các nước khác thường làm.

 *

Hà-Nội là kinh đô, là thủ đô của Việt Nam, là một thành phố văn học và đầy di tích lịch sử, sắp kỷ niệm 1000 năm thành lập. Hồ Gươm là trung tâm du lịch, lịch sử của thành phố. Con rùa là linh hồn còn sót lại của hồ Gươm. Con rùa cuối cùng này đang sống những năm tháng cuối cùng của đời mình, có được bảo vệ đúng mức, hay một ngày nào sẽ bị câu, sẽ bị lạc vào dòng mưa lũ, mắc cạn rồi bị giết thành món nhậu như con rùa mà TS. Hà Đình Đức nói đến ở vườn hoa Chí Linh năm nào. Hơn thế nữa, cảnh quan Hồ Gươm cũng phải được tôn trọng. Năm 2007, Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam (EVN) đưa ra một đề án xây dựng một cao ốc quá độ, Hội Di Sản Văn Hoá Việt Nam và một số lớn các giới quan tâm đã phản đối một cách mãnh liệt. Họ cho rằng EVN đã vi phạm nghiêm trọng đến quy hoạch của khu vực và báo động Hồ Gươm sẽ thành một “ao làng” hay một “vũng”. 

Hồ Gươm một ngày nào đó có thể không còn nữa, vì nhiều cao ốc sẽ được mọc xung quanh, vì đã có một công ty xây cất Đại Hàn đề nghị san bằng để xây một thương xá quy mô cho thành phố. Lời đề nghị này là một xúc phạm đến một dân tộc, hay là một câu hỏi trắc nghiệm cho một xã hội đang cố chạy theo doanh lợi tư bản?. Xem ra người ta có thể làm bất cứ điều gì khi nghĩ tới tư lợi khổng lồ.

Khi mà con rùa thần đó không còn nữa, khi mà nước hồ cạn dần, đáy trồi lên ngang gần bờ, chỉ còn là một vũng nước ao tù với rong rêu và cỏ hoang, thì còn gì là huyền thoại linh thiêng, còn gì là một Hồ Gươm lịch sử mà cần phải giữ. Và thay vào đó, một thương xá hoành tráng đúng vào một nơi đắc địa như thế, ngang ngửa sánh với các nước lân bang thì điều đó có thể thuyết phục được nhiều doanh nhân tư bản và chính quyền của các thế hệ sau. Sự kiện này rất có thể xảy ra và thực là đáng tiếc lắm thay! 

Nguyễn Công Khanh
12-2008

Ý kiến bạn đọc
12 Tháng Mười 20142:19 SA
Khách
bình thường hề hề
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Mười 20262:22 CH(Xem: 1202)
Có những buổi sáng, ngồi uống cà phê và đọc tin tức, tôi chợt nghĩ: nước Mỹ thật kỳ lạ. Một đất nước được xây dựng trên ý niệm rằng không ai được đứng cao hơn Hiến pháp, rằng quyền lực phải được phân chia, rằng người dân có quyền thay đổi người cai trị — vậy mà đôi khi, người ta lại phải tự hỏi liệu những nguyên tắc ấy có còn đủ sức bảo vệ chính mình hay không.
11 Tháng Mười 20264:13 CH(Xem: 1543)
Trên địa cầu hiện có khoảng 8,3 tỷ người. Mỗi người một số phận, một cuộc đời, một câu chuyện đáng kể. Có những người âm thầm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, những người miệt mài chữa bệnh trong bệnh viện, những người lao động ngoài công trường, những người ngày đêm sáng tạo để làm cho đời sống nhân loại tốt đẹp hơn. Nhưng thử hỏi, trong số hàng tỷ con người ấy, có bao nhiêu người được truyền thông quốc tế nhắc đến mỗi ngày? Và có bao nhiêu người, dù ở cách nửa vòng trái đất, vẫn có thể khiến hàng triệu người cùng lúc quay đầu nhìn về phía mình chỉ bằng một câu nói? Donald Trump là một trường hợp đáng quan sát.
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2252)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2376)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2378)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
09 Tháng Mười 20265:27 CH(Xem: 2189)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
09 Tháng Mười 20264:59 CH(Xem: 1918)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
02 Tháng Mười 20264:23 CH(Xem: 1971)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2561)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
25 Tháng Chín 20265:37 SA(Xem: 2055)
Sáng thứ Năm 24 tháng 9 vừa qua, một thẩm phán liên bang đã ra lệnh cho chính quyền Trump khôi phục quyền truy cập tòa Bạch Ốc cho ba tổ chức tin tức: CNN, MS NOW và Politico. Quyết định này đưa ra sau khi các phóng viên bị cấm vào tòa nhà này trong nhiều ngày do Tổng thống Donald Trump không hài lòng với các tường thuật mà ông cho là tiêu cực về các việc làm của chính phủ của ông.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3806)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13249)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19627)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1582)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1738)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2251)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2374)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1422)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2189)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1917)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1971)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1332)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2377)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2561)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2334)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 223)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 777)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 978)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1057)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6385)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15862)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32121)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38843)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1440)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13874)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6877)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10645)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9837)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9963)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10765)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3429)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11106)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10334)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi