- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THI SĨ NGUYỄN CHÍ-TRUNG VÀ PHỐ KIA HÀ NỘI

05 Tháng Mười 20244:58 CH(Xem: 34051)

chan dung 3- thi si NCT
Chân dung Thi sĩ Nguyễn Chí Trung



THI SĨ NGUYỄN CHÍ-TRUNG VÀ PHỐ KIA HÀ NỘI



Thi sĩ NGUYỄN CHÍ TRUNG

NCT sinh năm 1948 tại Vũng Tàu, cha mẹ là người Hà Nội. Từ đầu những năm 1950er NCT lớn lên ở thành phố Sài Gòn, học tiểu học ở trường Bàn Cờ, trung học ở trường Chu Văn An. Năm 1967 ông từ chối những học bổng của những quốc gia khác, chọn học bổng quốc gia (VNCH) để sang CHLB Đức du học. Tại Viện Đại Học Stuttgart NCT học Triết học và Toán Học & Cơ Học Áp Dụng. Vào thời điểm đó những triết gia Đức có tiếng như Martin Heidegger, Karl Jaspers, hay Ernst Bloch đã hưu trí, ông đã làm luận án tiến sĩ ở Viện Cơ Học & Toán Học Áp Dụng. Ông là sinh viên trẻ nhất xưa nay có bằng Tiến Sĩ Kỹ Sư (Doktor-Ingenieur), vào năm 1977.

NCT bắt đầu viết lúc khoảng 13, 14 tuổi và viết liên tục đến ngày hôm nay (2024). Năm 1996 NCT đã chấm dứt việc làm với tư cách tiến sĩ kỹ sư để chỉ còn làm việc văn chương & nghệ thuật. Ông đã viết trên 50 tập Thơ trong hai ngôn ngữ Đức và Việt. Và ông đã dịch những Thi Sĩ quan trọng của Thi Ca thế giới ra Việt ngữ như Hölderlin, Shakespeare, Dickinson, Rimbaud, Leopardi, Baudelaire, Pessoa, Kavafis, Porchia, Trakl, Montale, Khayyam, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu và Thơ Chữ Hán của Nguyễn Du ... Ông đã hủy bỏ hết những tiểu luận, phê bình văn hóa, chỉ giữ lại những thư trao đổi với các bạn VN như Bùi Giáng, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn, Hoàng Cầm, Thái Bá Vân … Đôi khi ông vẽ và làm Thư Pháp (Calligraphy).

Những năm đầu của phong trào người VN di tản và định cư ở USA, Canada, Pháp … ông có cho phổ biến một số Thơ trên các tạp chí văn học nghệ thuật, trong đó có cả Hợp Lưu.

Trước năm 2003 chỉ trừ những người bạn VN nêu tên trên đây biết, thì ông làm việc trong im lặng, không ồn ào, Năm 2003 thi đàn thế giới khám phá ra Thơ NCT. Từ đó cho đến nay 21 năm ông đã được mời đi dự các Đại Hội Thi Ca Quốc Tế - International Poetry Festival – từ Đông sang Tây, Bắc xuống Nam địa cầu. Tại những ĐH ấy ông đã đọc Thơ Lục Bát của mình trong ngôn ngữ Việt Nam. Khán thính giả theo dõi bản dịch ra ngôn ngữ của quốc gia đó.

Ông đã từ chối những giải thưởng văn học dự định trao cho ông, và ông cũng hạn chế những cuộc phỏng ván. Ông ít giao thiệp với văn giới VN. Thơ NCT đã phổ biến trên những tạp chí (in trên giấy và online) khắp nơi, nhiều nhất là ở châu Mỹ La Tinh. Đài Phát Thanh của Thi Sĩ – Radio del Poeta CALIDOSCOPIO – Musica y Poesia del Mundo – Âm Nhạc và Thi Ca thế giới đọc Thơ NCT đều đặn trong bản dịch tiếng TBN.

Năm 1996 NCT xuất bản ở Hà Nội (nxb Văn Học) tập "THI CA“ và năm sau 1997 tập "THI CA NGOẠI TẬP“. Cùng năm ấy ở SG nxb Trẻ đã xuất bản tuyển tập Thơ "SƯƠNG MÙ VÀ NGỰA HỒNG“. Năm 2013 NCT cho xuất bản ở Saigon một bộ Thơ gồm 7 tập với tựa đề chung là "BẢY LỜI“. Năm 2014 nxb Trẻ ấn hành tập "NGUYỄN DU - Thơ Chữ Hán – bản dịch Lục Bát của NCT“.

Thơ NCT đã được xuất bản trong những ngôn ngữ như tiếng Ý (4 tập), Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và được dịch ra những ngôn ngữ khác như tiếng Anh, Pháp, Thụy Điển, tiếng Hindi, Ả Rạp và tiếng Serbia.






 

 

NGUYỄN CHÍ-TRUNG
PHỐ KIA HÀ NỘI
Một Bài Thơ Bi Thảm


1
Phố kia Hà Nội ôi chao
Một lần ta đến để trao gửi Lời
Một lần ta đến tìm Người
Một lần ta đến nhìn trời, nhìn quanh
Phố kia chừng quá mong manh
Tiếng người từ cõi, phong phanh gọi về
Mười nghìn cây số lê thê
Ta về mê nốt cơn mê cuối cùng


2
Phố kia hất hủi tận cùng
Âm thầm nhỏ lệ vào vùng chiêm bao
Ta đi mang một lời chào
Người không muốn nhận ta trao gửi trời
Ta nằm chừng muốn tắt hơi
Tìm đâu hơi thở của người cho ta ?
Trong giòng lệ chảy nhạt nhòa
Chiếc giường tàn lạnh thôi là nơi chôn


3
Phố kia từ chối nụ hôn
Mà ta ấp ủ từ hôm Mới Đầu
Ta ôm ta giữ từ lâu
Bao giờ gặp gỡ Nụ Sầu thành hoa
Nhiều năm ta mãi xót xa
Đợi người qua suốt miền xa cõi gần
Hồn ta ta đã lột trần
Trên bao trang giấy vô ngần khổ đau


4
Phố ơi ta chỉ muốn giao
Một Bài Thơ, nếu Mai Sau có còn
Một vài câu, nếu mỏi mòn
Một hơi Thơ thoảng qua hồn dân gian
Ta đi vất vả gian nan
Qua bao nhiêu cõi trần gian ta về
Phi trường kẻ đến người đi
Đứng yên, chỉ một não nề dâng lên


5
Phố kia cố ý đắp lên
Một niềm hời hợt, để quên chính mình
Chẳng ai sống với lòng mình
Mà không giãy chết trong tình huống xưa
Ta về tìm lại xa xưa
Trong lòng tự hỏi người chưa mất người ?
Phố kia cổ độ mất rồi ?
Hay là đang mất trong thời điêu linh


6
Phố kia lẳng lặng làm thinh
Dù ta đã tỏ mối tình thâm sâu
Tình ta bao xiết thảm sầu
Hồn ta ? đừng nói còn đâu là hồn !
Hồn ta mang quá nỗi buồn
Hồn ta ta đã đem chôn mấy lần
Hồn ta đau khổ vô ngần
Dù trần gian ấy đâu cần khổ đau !


7
Phố kia sắp mất về đâu ?
Tìm nhau, hay chẳng tìm nhau làm gì ?
Tìm nhau, ấy để đền nghì ?
Trong thời thối rữa trong kỳ trầm luân
Gọi người trời đất bâng khuâng
Hồ Gươm mệt mỏi sương dâng thềm sầu
Gọi người tiếng vọng còn lâu
Cách nhau con phố mà đâu thấy người


8
Phố kia chừng đã xa rồi
Ta ôm mặt khóc nhớ thời chưa sinh
Bây giờ ta hiện nguyên hình
Là hơi gió thoảng nhớ bình nguyên xưa
Bây giờ người vẫn còn chưa
Đáp vào Lời Hỏi ta đưa Thuở Đầu
Hồn người giờ sắp đổi màu
Còn ta ? Ta đã từ lâu chôn vùi


9
Phố kia đen thủi đen thui
Lang thang như chó ta thui thủi về
Ta về trong một cơn mê
Tìm người, ta muốn tìm Quê Hương nào
Tìm người, chỉ để mà trao
Một lời trang trọng gửi nhau tấm lòng
Rằng không, cũng chẳng là không
Vì Tâm kia đã bao dung Cõi Trần


10
Phố kia Hà Nội mờ dần
Ta thương ta xót bội phần ta yêu
Tuy lòng Phố Huế tiêu điều
Ta thương ta xót ta yêu vô cùng
Em ơi ngõ đến đường cùng
Dẫn ta em dẫn đến vùng đau thương
Về đây, đường chẳng còn đường
Về đây đối diện bức tường hư không


11
Phố kia bạc bẽo như lòng ?
Ta lêu bêu giữa những giòng lêu bêu ?
Ta ôm hình bóng đuổi đeo
Vì tim đã một lần gieo cho người !
Rằng ta có hẹn với người
Mà trong khoảnh khắc tiếng cười thiên thu
Dường như trong cuộc hư phù
Tình Yêu là tiếng mùa thu thở dài ?


12
Phố kia Hà Nội và ai
Tìm người hay muốn tìm Mai thay người ?
Tìm người ta đánh mất đời
Về trong xứ sở, ta rời Quê Chung
Ba mươi sáu phố, đường cùng
Tìm người, ta quyết là không gặp người
Trong thư tuyệt mệnh là Lời
Mai sau, nếu có, nhắc người ngày nay


13
Phố kia Hà Nội dằng dai
Quên nhau ? Mà vẫn mong ngày gặp nhau !
Đã từ bỏ được nhau đâu
Mà toan tính chuyện gieo sầu cho thêm !
Đã là có nợ và duyên
Làm sao thoát được kiếp tiền định kia
Đã đành trong Gặp có Lìa
Mà lòng nếu giữ, ai chia được lòng ?


14
Phố kia đêm xuống trống không
Đèn vàng nhỏ giọt mênh mông cõi mờ
Bờ Hồ cây liễu lặng lờ
Bờ Hồ ta cũng lặng lờ như cây
Ăn mày ngửa nón đưa tay
Còn ta, ta mở lòng này để « xin »
Chung quy một cuộc hiện sinh
Nhìn nhau thăm thẳm có nhìn nhận ra ?


15
Phố kia tàn lạnh trên da
Quay lưng lạnh nhạt để ta đứng chờ
Lạc loài trong phố hàng giờ
Tàn cây, gió cũ hững hờ bỏ nhau
Biết người giờ đã về đâu ?
Thân người người muốn vùi sâu vào đời
Linh hồn người cũng muốn rời
Vì ta, người chẳng chia đời cùng ta ?


16
Phố kia người bỏ đi xa
Ta lang thang kiếm làm ma phố dài
Quẩn quanh lên xuống Hàng Bài
Lặng nhìn Phố Huế mưa dài trên lưng
Ôi ta chẳng thể nào đừng
Dù người lạnh nhạt dửng dưng như người
Và ta cũng chẳng thể rời
Ôm tàn Mộng Cũ tìm người để trao


17
Hoàng Lan gió lá xạc xào
Đêm sâu nhà khách ta vào cơn mơ
« Quả rằng người chẳng thờ ơ
Quả rằng người chẳng hững hờ với ta
Gần nhau tim máu nhạt nhòa
Phải đâu thể xác mà là thương yêu »
Ngoài kia phố xá tiêu điều
Nghe chừng thế giới còn đìu hiu hơn


18
Phố kia Hà Nội trống trơn
Niềm cô độc ấy đã sờn trái tim
Đi tìm ta vẫn đi tìm
Vì hồn ta lạc qua miền dương gian
Những ngày tháng ấy mênh mang
Những đêm tháng ấy ngỡ ngàng là đêm
Ta đi mãi chẳng đến thềm
Bốn nghìn năm lạnh xương mềm trong thân


19
Phố kia Hà Nội thật gần
Gần nhau cũng chỉ để dần dã nhau
Phố dài còn biết đi đâu
Đi đâu ta cũng mang sầu đi theo
Trần Gian ta mãi đuổi đeo
Về qua Mặt Đất ta gieo vài vần
Mai sau ai có đến gần
Là Người ta kiếm suốt Trần Gian kia


20
Phố kia Văn Miếu dựng bia
Tưởng người danh sĩ đã lìa dương gian
Mù mù ta đứng ngỡ ngàng
Rồi ra chung cục vài hàng còn ghi ?
Phố ơi ta nhận Chia Ly
Trần gian giã biệt ôm ghì ta ôm
Tim ta muốn giữ Nụ Hôn
Lên Lòng Mặt Đất Chiều Hôm Tạ Tàn


21
Phố ơi ta quá đa mang ?
Hay hồn ta quá mênh mang nỗi sầu ?
Sao ta phải viết mãi câu ?
Vì ta phải chuyển nỗi sầu vào Thơ ?
Để ta giãy chết từng giờ
Từng ngày từng tháng từng tờ viết ra
Đem tim yêu mãi người ta
Mà đau khổ ấy lại là niềm riêng


22
Phố kia chạy trốn não phiền
Ngờ đâu lại đến diện tiền hư vô
Ngờ đâu quyết định hồ đồ
Đem thân tiên nữ làm mồ Thi Nhân
Tránh ta đi, chớ đến gần
Trốn ta, em hãy bội phần ra đi
Bỏ ta, em cứ vu qui
Lìa ta, em hãy chia ly trong Lời


23
Phố kia Hà Nội là nơi
Ta về thở hắt một hơi cuối cùng
Ta về Cái Chết trùng phùng
Tình Yêu ta đặt vào lòng phố xưa
Ta về tìm lại cơn mưa
Để yêu giọt nước mới vừa rơi ngang
Ta về nhận nỗi bẽ bàng
Để yêu người, để cưu mang mối tình


24
Phố kia Hà Nội lặng thinh
Âm u mái ngói rêu xanh bờ tường
Vỉa hè rác rưởi đường mương
Một giòng Thơ, nỗi thê lương qua đời
Trong con ngõ tối đen thui
Cửa im lìm đóng, chờ người mở ra
Mở tôi cánh cửa, tôi qua
Nhận cho tôi một xót xa Thơ này


25
Phố kia Hà Nội mình dây
Cho tôi vào để đọa đầy hồn tôi
Cho tôi giây phút thế thôi
Dù tôi muốn ngủ một đời trong em
Em ơi da trắng thịt mềm
Đưa ta qua khỏi cõi miền khổ đau ?
Nhưng ta chẳng biết làm sao
Để mà sống được mai sau mỗi ngày ?


26
Phố kia Hà Nội mệt nhoài
Bây giờ nhan sắc tàn phai lắm rồi
Bây giờ tuổi tác lôi thôi
Quầng thâm đã thẫm một đôi mắt người
Bây giờ nửa khóe miệng cười
Nửa kia còn mếu cuộc đời không vui
Bây giờ, nếu có ngậm ngùi
Thì ta có lẽ đã vùi lãng quên


27
Phố kia Hà Nội lênh đênh
Mưa xuân ảm đạm bấp bênh phận người
Hồ Tây chỉ một màu trời
Gió mùa đông bắc qua đời thê lương
Để ta lạc lõng giữa đường
Để ta giữ chặt yêu thương trong lòng
Để ta đi đến tận cùng
Để ta ngạt thở giữa giòng cô đơn


28
Phố ơi lòng em đã sờn ?
Còn ta giữ lấy tủi hờn làm riêng
Sông Hồng giòng đổ nghiêng nghiêng
Chan hòa ngập lụt xuống miền máu tim
Đi tìm, ta vẫn đi tìm
Qua ngày suốt đến tận đêm không ngừng
Phố phường dẫm nát bàn chân
Thấy ai đó cũng tần ngần là Ai


29
Bây giờ đào nhớ cành mai
Mùa xuân xứ Bắc gió dài vào Nam
Vì người, phải chịu cho cam ?
Vì ta đã quyết đem giam hồn mình ?
Phố ơi em cứ lặng thinh
Như thành quách đó đã thành thiên thu
Như không gian đã sương mù
Như tuổi thơ đã âm u qua đời


30
Phố ơi em cứ nặng lời
Trách ta là chẳng buông rời em ra
Vâng, ta làm mãi bóng ma
Đè lên tâm thức chính ta và người
Lang thang dẫn bước qua đời
Giữa đường bỗng bắt gặp Lời Hư Vô
Lẽ đâu đem xuống đáy mồ
Lời dù để lại, cơ hồ cũng không


31
Phố ơi em cứ đi rong
Đi lên đi xuống đi vòng đi ngang
Chẳng gì đâu là muộn màng
Riêng phần thống khổ vài hàng ta ghi
Đường ngang ngõ dọc ta đi
Có đâu chắc đã là vì ai đâu ?
Một người đầu phố buồn rầu
Mà người cuối phố dãi dầu cho chăng ?


32
Phố ơi hãy tự hỏi rằng
Võng sầu ai đã đem giăng cõi trần ?
Ai vào nằm cội cô thân ?
Và ai trơ trọi, ai trần truồng hơn ?
Ai về tìm kiếm cuộc cơn ?
Và ai nước mắt đã gờn gợn xa ?
Ai về tìm lại Quê Nhà ?
Mà trong mất hút biết là tìm đâu


33
Phố ơi em có nỗi sầu ?
Nếu không có, thì mai sau không chừng
Bao giờ em biết bâng khuâng
Bấy giờ em sẽ đến gần khổ đau
Bấy giờ, sẽ mãi mai sau
Bấy giờ, ta chẳng còn đâu ở đời
Có còn chăng, chỉ là Lời
Mối Tình xưa cũ cho Người và em


34
Phố kia Hà Nội vào đêm
Giòng bi thảm ấy sao đem tặng Người ?
Phần riêng thì đã xong rồi ?
Phần chung ta vẫn chưa rời bỏ ra ?
Phố ơi ta muốn đi qua
Dù rằng để lại xót xa một vài
Đời ta ngắn mà phố dài
Mất ta, phố chẳng đoái hoài đến ta


35
Phố ơi gần thế mà xa
Có nghe chăng được âm ba thảm sầu
Ta về viết mỗi một câu
Cho ba mươi sáu năm dầu dãi đi
Ta về tìm phố cũng vì
Tình yêu ta muốn đền nghì thế thôi
Tình ta giòng cuốn mãi trôi
Tìm người gửi, trước khi hơi thở tàn


36
Phố ơi thôi sẽ muộn màng
Linh hồn ta đã điêu tàn mang theo
Ấy là Vần Cũ còn gieo
Ấy là tài mệnh còn đeo đuổi cùng
Phố ôi thôi nhé trùng phùng
Là Mai Sau ở trong vùng Chiêm Bao
Phố ôi vĩnh biệt Lời Chào
Rồi ra trống vắng gió gào trong không


16. – 23.03. 1995
(trích “Đìu Hiu”)
(Bảy Lời – Lời 6)

Nguyễn Chí Trung



PHỐ KIA HÀ NỘI
- thơ Nguyễn Chí Trung- giọng đọc Vũ Tuyết Mai



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20258:11 CH(Xem: 21481)
Tuổi yêu đương ngọt ngào thì mình đã qua rồi! Có thả hồn về dĩ vãng với một thời tuổi trẻ mình vẫn nhả ra thơ tình tha thiết đắm say không khác kẻ đang yêu đâu! Thật đấy! Văn nghệ sĩ mà! Lùi về dĩ vãng, hiện tại hay tương lai, nhập vai, hóa thân có thể đưa mình về thuở xuân xanh 18, hay bất kỳ đoạn đời nào. Trí tưởng tượng có thể đưa người sáng tác đi bất cứ đâu mà họ muốn.
13 Tháng Hai 20257:52 CH(Xem: 26874)
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, / Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn. / Gác mái, ngư ông về viễn phố, / Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. / ** The sky nonchalantly turned crimson in the waning sun / Forlorn conches tooted amidst pressing sounds of drums / Stashing his oars, the fisherman headed back for the distant wharf / Tapping a horn, the buffalo boy returned to his hamlet, lonesome
12 Tháng Hai 202512:47 SA(Xem: 26611)
Anh về đêm đã qua ngày khác / Lòng trống phòng không phủ bụi mù / Bật que diêm sáng cùng đêm nhớ / Em ở nơi nào chân lãng du.
09 Tháng Hai 202512:27 SA(Xem: 17357)
Thơ của Nguyễn Chí Trung dâng lên như một dòng sông lũ, từ một vực thẳm sâu không thể nghĩ bàn và không thể dò thấu, theo lời của Filomena Ciavarella[iii]. Sự hấp dẫn tương tự của sông Hằng, biểu tượng của phương Đông, hòa quyện vào tâm hồn Trung. Nguồn gốc của bài Thơ “Khi Tôi Bước Xuống” - As I Step Down (sau đây gọi là AISD), một bài thơ gồm mười từ khúc theo cấu trúc nhịp "Lục Bát", có mối liên hệ chặt chẽ và lãng mạn với dòng sông linh thiêng đó: "Tôi đã mơ một lần trong đời đến đứng bên bờ sông và trẩy thuyền qua đó"[iv]. Giống như một hình ảnh trong giấc mơ, tất cả đã trở thành sự thật vào mùa đông năm 2015/16.
05 Tháng Hai 20252:37 CH(Xem: 22077)
With an inconsistent and always “pivoting” policy, with a negligible total investment, over the past 50 years since 1975, the United States has made almost no positive and effective moves to prevent China’s expansion and encroachment – not only in the Mekong River basin – but also in the East Sea. To be able to counterbalance Beijing, of course, Washington needs to have a strategic vision, accepting a commensurate price to pay in order to restore its long-standing influence on the Mekong River Chessboard. NGO THE VINH
04 Tháng Hai 20254:37 CH(Xem: 19872)
Belen là một cô gái trẻ người Mexico ngoài hai mươi tuổi vừa mới đến Mỹ. Sau khi sống tại nhà anh họ ở Alabama trong vài tháng, cô đã nhận được một công việc bảo mẫu ở Atlanta thông qua một công ty môi giới việc làm. Với chiếc xe đã qua sử dụng mà cô mua, cô đã lái xe trên đường cao tốc liên bang lần đầu tiên trong sự hồi hộp. Một tuần sau khi bắt đầu công việc, cô đã viết bức thư sau cho anh họ của mình...
04 Tháng Hai 20254:29 CH(Xem: 19577)
Belen is a young Mexican girl in her early twenties who had just come to America. After living at her cousin's house in Alabama for a few months, she got a job as a nanny in Atlanta through an employment agency. With the used car she bought, she nervously drove down the interstate highway for the first time. One week after starting her job, she wrote the following letter to her cousin...
03 Tháng Hai 20255:45 CH(Xem: 18085)
Lâu lắm rồi tôi không còn nghe được tiếng chuông chùa ngân lên mỗi buổi sáng thật sớm trong màn đêm còn dày đặc khi thành phố còn ngủ yên. Tiếng chuông ngân hiền hòa lắng lại không xôn xao lay động bởi những muộn phiền sót lại trong ngày. Ai trong đời lớn lên mà không có nỗi buồn vấn vương trong sâu thẳm, tôi cũng buồn cũng lẩn thẩn với vô vàn những khắc khoải riêng tư. Nhưng tiếng chuông chùa thanh thoát là cái nét, cái hồn quê hương cho tôi cảm nhận sự an bình.
03 Tháng Hai 20254:56 CH(Xem: 17429)
Nhớ lại 50 năm trước, một điều dĩ nhiên là thế giới không phải như ngày hôm nay, nước Mỹ không phải như ngày hôm nay và người Việt ở Mỹ hay ở khắp các nơi cũng không hẳn là người Việt ngày hôm nay. Trong thời gian ấy, ít nhất hai thế hệ mới đã ra đời./ Nhớ lại 50 năm trước, đêm cuối cùng, một phép lạ đã đưa chúng tôi lọt được vào quân cảng Saigon và trèo lên được chiếc chiến hạm cuối cùng đang nằm ụ, bỏ nước ra đi. Những ngày dài chen chúc nhau trong một con tầu chết máy trôi trên biển mãi mới đến được đảo Guam. Những ngày lang bạt, tất tưởi rời trại này qua trại khác, cuối cùng được đưa vào vào đất liền, và tạm trú tại Camp Pendleton trại Thủy Quân Lục Chiến miền Nam Cali. Trại trải dài hàng cây số, với hàng trăm căn lều vải đón nhận hàng trăm ngàn người tị nạn.
03 Tháng Hai 20252:18 CH(Xem: 19997)
Tấm hình ai đó chụp nhà văn Vũ Thư Hiên trở về Tổ quốc mình ôm bó hoa với nụ cười sáng rực trước Tết Dân tộc khiến không ít người dù đang lo âu, buồn bã bởi gia cảnh & thế sự cũng chợt cảm thấy lòng được ấm áp đôi chút… Người sở hữu nụ cười quý giá và hiếm hoi ấy là người từng trải qua bao giông tố của số phận, đã tiếp nối một cách xót xa dòng văn “lưu vong” bắt đầu từ cụ Hồ Nguyên Trừng với “giấc mộng của ông già nước Nam” (Nam ông mộng lục) nhiều thế kỷ trước…
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3849)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19662)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18638)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1639)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1797)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2318)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2422)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1463)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1959)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2002)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1374)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2420)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2629)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2382)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 248)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 820)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1010)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1124)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6417)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15899)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32156)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38864)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1487)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6910)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9893)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10024)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10830)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3460)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11154)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10362)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi