- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THI SĨ NGUYỄN CHÍ-TRUNG VÀ PHỐ KIA HÀ NỘI

05 Tháng Mười 20244:58 CH(Xem: 30349)

chan dung 3- thi si NCT
Chân dung Thi sĩ Nguyễn Chí Trung



THI SĨ NGUYỄN CHÍ-TRUNG VÀ PHỐ KIA HÀ NỘI



Thi sĩ NGUYỄN CHÍ TRUNG

NCT sinh năm 1948 tại Vũng Tàu, cha mẹ là người Hà Nội. Từ đầu những năm 1950er NCT lớn lên ở thành phố Sài Gòn, học tiểu học ở trường Bàn Cờ, trung học ở trường Chu Văn An. Năm 1967 ông từ chối những học bổng của những quốc gia khác, chọn học bổng quốc gia (VNCH) để sang CHLB Đức du học. Tại Viện Đại Học Stuttgart NCT học Triết học và Toán Học & Cơ Học Áp Dụng. Vào thời điểm đó những triết gia Đức có tiếng như Martin Heidegger, Karl Jaspers, hay Ernst Bloch đã hưu trí, ông đã làm luận án tiến sĩ ở Viện Cơ Học & Toán Học Áp Dụng. Ông là sinh viên trẻ nhất xưa nay có bằng Tiến Sĩ Kỹ Sư (Doktor-Ingenieur), vào năm 1977.

NCT bắt đầu viết lúc khoảng 13, 14 tuổi và viết liên tục đến ngày hôm nay (2024). Năm 1996 NCT đã chấm dứt việc làm với tư cách tiến sĩ kỹ sư để chỉ còn làm việc văn chương & nghệ thuật. Ông đã viết trên 50 tập Thơ trong hai ngôn ngữ Đức và Việt. Và ông đã dịch những Thi Sĩ quan trọng của Thi Ca thế giới ra Việt ngữ như Hölderlin, Shakespeare, Dickinson, Rimbaud, Leopardi, Baudelaire, Pessoa, Kavafis, Porchia, Trakl, Montale, Khayyam, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu và Thơ Chữ Hán của Nguyễn Du ... Ông đã hủy bỏ hết những tiểu luận, phê bình văn hóa, chỉ giữ lại những thư trao đổi với các bạn VN như Bùi Giáng, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn, Hoàng Cầm, Thái Bá Vân … Đôi khi ông vẽ và làm Thư Pháp (Calligraphy).

Những năm đầu của phong trào người VN di tản và định cư ở USA, Canada, Pháp … ông có cho phổ biến một số Thơ trên các tạp chí văn học nghệ thuật, trong đó có cả Hợp Lưu.

Trước năm 2003 chỉ trừ những người bạn VN nêu tên trên đây biết, thì ông làm việc trong im lặng, không ồn ào, Năm 2003 thi đàn thế giới khám phá ra Thơ NCT. Từ đó cho đến nay 21 năm ông đã được mời đi dự các Đại Hội Thi Ca Quốc Tế - International Poetry Festival – từ Đông sang Tây, Bắc xuống Nam địa cầu. Tại những ĐH ấy ông đã đọc Thơ Lục Bát của mình trong ngôn ngữ Việt Nam. Khán thính giả theo dõi bản dịch ra ngôn ngữ của quốc gia đó.

Ông đã từ chối những giải thưởng văn học dự định trao cho ông, và ông cũng hạn chế những cuộc phỏng ván. Ông ít giao thiệp với văn giới VN. Thơ NCT đã phổ biến trên những tạp chí (in trên giấy và online) khắp nơi, nhiều nhất là ở châu Mỹ La Tinh. Đài Phát Thanh của Thi Sĩ – Radio del Poeta CALIDOSCOPIO – Musica y Poesia del Mundo – Âm Nhạc và Thi Ca thế giới đọc Thơ NCT đều đặn trong bản dịch tiếng TBN.

Năm 1996 NCT xuất bản ở Hà Nội (nxb Văn Học) tập "THI CA“ và năm sau 1997 tập "THI CA NGOẠI TẬP“. Cùng năm ấy ở SG nxb Trẻ đã xuất bản tuyển tập Thơ "SƯƠNG MÙ VÀ NGỰA HỒNG“. Năm 2013 NCT cho xuất bản ở Saigon một bộ Thơ gồm 7 tập với tựa đề chung là "BẢY LỜI“. Năm 2014 nxb Trẻ ấn hành tập "NGUYỄN DU - Thơ Chữ Hán – bản dịch Lục Bát của NCT“.

Thơ NCT đã được xuất bản trong những ngôn ngữ như tiếng Ý (4 tập), Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và được dịch ra những ngôn ngữ khác như tiếng Anh, Pháp, Thụy Điển, tiếng Hindi, Ả Rạp và tiếng Serbia.






 

 

NGUYỄN CHÍ-TRUNG
PHỐ KIA HÀ NỘI
Một Bài Thơ Bi Thảm


1
Phố kia Hà Nội ôi chao
Một lần ta đến để trao gửi Lời
Một lần ta đến tìm Người
Một lần ta đến nhìn trời, nhìn quanh
Phố kia chừng quá mong manh
Tiếng người từ cõi, phong phanh gọi về
Mười nghìn cây số lê thê
Ta về mê nốt cơn mê cuối cùng


2
Phố kia hất hủi tận cùng
Âm thầm nhỏ lệ vào vùng chiêm bao
Ta đi mang một lời chào
Người không muốn nhận ta trao gửi trời
Ta nằm chừng muốn tắt hơi
Tìm đâu hơi thở của người cho ta ?
Trong giòng lệ chảy nhạt nhòa
Chiếc giường tàn lạnh thôi là nơi chôn


3
Phố kia từ chối nụ hôn
Mà ta ấp ủ từ hôm Mới Đầu
Ta ôm ta giữ từ lâu
Bao giờ gặp gỡ Nụ Sầu thành hoa
Nhiều năm ta mãi xót xa
Đợi người qua suốt miền xa cõi gần
Hồn ta ta đã lột trần
Trên bao trang giấy vô ngần khổ đau


4
Phố ơi ta chỉ muốn giao
Một Bài Thơ, nếu Mai Sau có còn
Một vài câu, nếu mỏi mòn
Một hơi Thơ thoảng qua hồn dân gian
Ta đi vất vả gian nan
Qua bao nhiêu cõi trần gian ta về
Phi trường kẻ đến người đi
Đứng yên, chỉ một não nề dâng lên


5
Phố kia cố ý đắp lên
Một niềm hời hợt, để quên chính mình
Chẳng ai sống với lòng mình
Mà không giãy chết trong tình huống xưa
Ta về tìm lại xa xưa
Trong lòng tự hỏi người chưa mất người ?
Phố kia cổ độ mất rồi ?
Hay là đang mất trong thời điêu linh


6
Phố kia lẳng lặng làm thinh
Dù ta đã tỏ mối tình thâm sâu
Tình ta bao xiết thảm sầu
Hồn ta ? đừng nói còn đâu là hồn !
Hồn ta mang quá nỗi buồn
Hồn ta ta đã đem chôn mấy lần
Hồn ta đau khổ vô ngần
Dù trần gian ấy đâu cần khổ đau !


7
Phố kia sắp mất về đâu ?
Tìm nhau, hay chẳng tìm nhau làm gì ?
Tìm nhau, ấy để đền nghì ?
Trong thời thối rữa trong kỳ trầm luân
Gọi người trời đất bâng khuâng
Hồ Gươm mệt mỏi sương dâng thềm sầu
Gọi người tiếng vọng còn lâu
Cách nhau con phố mà đâu thấy người


8
Phố kia chừng đã xa rồi
Ta ôm mặt khóc nhớ thời chưa sinh
Bây giờ ta hiện nguyên hình
Là hơi gió thoảng nhớ bình nguyên xưa
Bây giờ người vẫn còn chưa
Đáp vào Lời Hỏi ta đưa Thuở Đầu
Hồn người giờ sắp đổi màu
Còn ta ? Ta đã từ lâu chôn vùi


9
Phố kia đen thủi đen thui
Lang thang như chó ta thui thủi về
Ta về trong một cơn mê
Tìm người, ta muốn tìm Quê Hương nào
Tìm người, chỉ để mà trao
Một lời trang trọng gửi nhau tấm lòng
Rằng không, cũng chẳng là không
Vì Tâm kia đã bao dung Cõi Trần


10
Phố kia Hà Nội mờ dần
Ta thương ta xót bội phần ta yêu
Tuy lòng Phố Huế tiêu điều
Ta thương ta xót ta yêu vô cùng
Em ơi ngõ đến đường cùng
Dẫn ta em dẫn đến vùng đau thương
Về đây, đường chẳng còn đường
Về đây đối diện bức tường hư không


11
Phố kia bạc bẽo như lòng ?
Ta lêu bêu giữa những giòng lêu bêu ?
Ta ôm hình bóng đuổi đeo
Vì tim đã một lần gieo cho người !
Rằng ta có hẹn với người
Mà trong khoảnh khắc tiếng cười thiên thu
Dường như trong cuộc hư phù
Tình Yêu là tiếng mùa thu thở dài ?


12
Phố kia Hà Nội và ai
Tìm người hay muốn tìm Mai thay người ?
Tìm người ta đánh mất đời
Về trong xứ sở, ta rời Quê Chung
Ba mươi sáu phố, đường cùng
Tìm người, ta quyết là không gặp người
Trong thư tuyệt mệnh là Lời
Mai sau, nếu có, nhắc người ngày nay


13
Phố kia Hà Nội dằng dai
Quên nhau ? Mà vẫn mong ngày gặp nhau !
Đã từ bỏ được nhau đâu
Mà toan tính chuyện gieo sầu cho thêm !
Đã là có nợ và duyên
Làm sao thoát được kiếp tiền định kia
Đã đành trong Gặp có Lìa
Mà lòng nếu giữ, ai chia được lòng ?


14
Phố kia đêm xuống trống không
Đèn vàng nhỏ giọt mênh mông cõi mờ
Bờ Hồ cây liễu lặng lờ
Bờ Hồ ta cũng lặng lờ như cây
Ăn mày ngửa nón đưa tay
Còn ta, ta mở lòng này để « xin »
Chung quy một cuộc hiện sinh
Nhìn nhau thăm thẳm có nhìn nhận ra ?


15
Phố kia tàn lạnh trên da
Quay lưng lạnh nhạt để ta đứng chờ
Lạc loài trong phố hàng giờ
Tàn cây, gió cũ hững hờ bỏ nhau
Biết người giờ đã về đâu ?
Thân người người muốn vùi sâu vào đời
Linh hồn người cũng muốn rời
Vì ta, người chẳng chia đời cùng ta ?


16
Phố kia người bỏ đi xa
Ta lang thang kiếm làm ma phố dài
Quẩn quanh lên xuống Hàng Bài
Lặng nhìn Phố Huế mưa dài trên lưng
Ôi ta chẳng thể nào đừng
Dù người lạnh nhạt dửng dưng như người
Và ta cũng chẳng thể rời
Ôm tàn Mộng Cũ tìm người để trao


17
Hoàng Lan gió lá xạc xào
Đêm sâu nhà khách ta vào cơn mơ
« Quả rằng người chẳng thờ ơ
Quả rằng người chẳng hững hờ với ta
Gần nhau tim máu nhạt nhòa
Phải đâu thể xác mà là thương yêu »
Ngoài kia phố xá tiêu điều
Nghe chừng thế giới còn đìu hiu hơn


18
Phố kia Hà Nội trống trơn
Niềm cô độc ấy đã sờn trái tim
Đi tìm ta vẫn đi tìm
Vì hồn ta lạc qua miền dương gian
Những ngày tháng ấy mênh mang
Những đêm tháng ấy ngỡ ngàng là đêm
Ta đi mãi chẳng đến thềm
Bốn nghìn năm lạnh xương mềm trong thân


19
Phố kia Hà Nội thật gần
Gần nhau cũng chỉ để dần dã nhau
Phố dài còn biết đi đâu
Đi đâu ta cũng mang sầu đi theo
Trần Gian ta mãi đuổi đeo
Về qua Mặt Đất ta gieo vài vần
Mai sau ai có đến gần
Là Người ta kiếm suốt Trần Gian kia


20
Phố kia Văn Miếu dựng bia
Tưởng người danh sĩ đã lìa dương gian
Mù mù ta đứng ngỡ ngàng
Rồi ra chung cục vài hàng còn ghi ?
Phố ơi ta nhận Chia Ly
Trần gian giã biệt ôm ghì ta ôm
Tim ta muốn giữ Nụ Hôn
Lên Lòng Mặt Đất Chiều Hôm Tạ Tàn


21
Phố ơi ta quá đa mang ?
Hay hồn ta quá mênh mang nỗi sầu ?
Sao ta phải viết mãi câu ?
Vì ta phải chuyển nỗi sầu vào Thơ ?
Để ta giãy chết từng giờ
Từng ngày từng tháng từng tờ viết ra
Đem tim yêu mãi người ta
Mà đau khổ ấy lại là niềm riêng


22
Phố kia chạy trốn não phiền
Ngờ đâu lại đến diện tiền hư vô
Ngờ đâu quyết định hồ đồ
Đem thân tiên nữ làm mồ Thi Nhân
Tránh ta đi, chớ đến gần
Trốn ta, em hãy bội phần ra đi
Bỏ ta, em cứ vu qui
Lìa ta, em hãy chia ly trong Lời


23
Phố kia Hà Nội là nơi
Ta về thở hắt một hơi cuối cùng
Ta về Cái Chết trùng phùng
Tình Yêu ta đặt vào lòng phố xưa
Ta về tìm lại cơn mưa
Để yêu giọt nước mới vừa rơi ngang
Ta về nhận nỗi bẽ bàng
Để yêu người, để cưu mang mối tình


24
Phố kia Hà Nội lặng thinh
Âm u mái ngói rêu xanh bờ tường
Vỉa hè rác rưởi đường mương
Một giòng Thơ, nỗi thê lương qua đời
Trong con ngõ tối đen thui
Cửa im lìm đóng, chờ người mở ra
Mở tôi cánh cửa, tôi qua
Nhận cho tôi một xót xa Thơ này


25
Phố kia Hà Nội mình dây
Cho tôi vào để đọa đầy hồn tôi
Cho tôi giây phút thế thôi
Dù tôi muốn ngủ một đời trong em
Em ơi da trắng thịt mềm
Đưa ta qua khỏi cõi miền khổ đau ?
Nhưng ta chẳng biết làm sao
Để mà sống được mai sau mỗi ngày ?


26
Phố kia Hà Nội mệt nhoài
Bây giờ nhan sắc tàn phai lắm rồi
Bây giờ tuổi tác lôi thôi
Quầng thâm đã thẫm một đôi mắt người
Bây giờ nửa khóe miệng cười
Nửa kia còn mếu cuộc đời không vui
Bây giờ, nếu có ngậm ngùi
Thì ta có lẽ đã vùi lãng quên


27
Phố kia Hà Nội lênh đênh
Mưa xuân ảm đạm bấp bênh phận người
Hồ Tây chỉ một màu trời
Gió mùa đông bắc qua đời thê lương
Để ta lạc lõng giữa đường
Để ta giữ chặt yêu thương trong lòng
Để ta đi đến tận cùng
Để ta ngạt thở giữa giòng cô đơn


28
Phố ơi lòng em đã sờn ?
Còn ta giữ lấy tủi hờn làm riêng
Sông Hồng giòng đổ nghiêng nghiêng
Chan hòa ngập lụt xuống miền máu tim
Đi tìm, ta vẫn đi tìm
Qua ngày suốt đến tận đêm không ngừng
Phố phường dẫm nát bàn chân
Thấy ai đó cũng tần ngần là Ai


29
Bây giờ đào nhớ cành mai
Mùa xuân xứ Bắc gió dài vào Nam
Vì người, phải chịu cho cam ?
Vì ta đã quyết đem giam hồn mình ?
Phố ơi em cứ lặng thinh
Như thành quách đó đã thành thiên thu
Như không gian đã sương mù
Như tuổi thơ đã âm u qua đời


30
Phố ơi em cứ nặng lời
Trách ta là chẳng buông rời em ra
Vâng, ta làm mãi bóng ma
Đè lên tâm thức chính ta và người
Lang thang dẫn bước qua đời
Giữa đường bỗng bắt gặp Lời Hư Vô
Lẽ đâu đem xuống đáy mồ
Lời dù để lại, cơ hồ cũng không


31
Phố ơi em cứ đi rong
Đi lên đi xuống đi vòng đi ngang
Chẳng gì đâu là muộn màng
Riêng phần thống khổ vài hàng ta ghi
Đường ngang ngõ dọc ta đi
Có đâu chắc đã là vì ai đâu ?
Một người đầu phố buồn rầu
Mà người cuối phố dãi dầu cho chăng ?


32
Phố ơi hãy tự hỏi rằng
Võng sầu ai đã đem giăng cõi trần ?
Ai vào nằm cội cô thân ?
Và ai trơ trọi, ai trần truồng hơn ?
Ai về tìm kiếm cuộc cơn ?
Và ai nước mắt đã gờn gợn xa ?
Ai về tìm lại Quê Nhà ?
Mà trong mất hút biết là tìm đâu


33
Phố ơi em có nỗi sầu ?
Nếu không có, thì mai sau không chừng
Bao giờ em biết bâng khuâng
Bấy giờ em sẽ đến gần khổ đau
Bấy giờ, sẽ mãi mai sau
Bấy giờ, ta chẳng còn đâu ở đời
Có còn chăng, chỉ là Lời
Mối Tình xưa cũ cho Người và em


34
Phố kia Hà Nội vào đêm
Giòng bi thảm ấy sao đem tặng Người ?
Phần riêng thì đã xong rồi ?
Phần chung ta vẫn chưa rời bỏ ra ?
Phố ơi ta muốn đi qua
Dù rằng để lại xót xa một vài
Đời ta ngắn mà phố dài
Mất ta, phố chẳng đoái hoài đến ta


35
Phố ơi gần thế mà xa
Có nghe chăng được âm ba thảm sầu
Ta về viết mỗi một câu
Cho ba mươi sáu năm dầu dãi đi
Ta về tìm phố cũng vì
Tình yêu ta muốn đền nghì thế thôi
Tình ta giòng cuốn mãi trôi
Tìm người gửi, trước khi hơi thở tàn


36
Phố ơi thôi sẽ muộn màng
Linh hồn ta đã điêu tàn mang theo
Ấy là Vần Cũ còn gieo
Ấy là tài mệnh còn đeo đuổi cùng
Phố ôi thôi nhé trùng phùng
Là Mai Sau ở trong vùng Chiêm Bao
Phố ôi vĩnh biệt Lời Chào
Rồi ra trống vắng gió gào trong không


16. – 23.03. 1995
(trích “Đìu Hiu”)
(Bảy Lời – Lời 6)

Nguyễn Chí Trung



PHỐ KIA HÀ NỘI
- thơ Nguyễn Chí Trung- giọng đọc Vũ Tuyết Mai



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 864)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 911)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 769)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 673)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2974)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1899)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2812)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2353)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2742)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2516)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15606)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16032)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 910)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2974)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2811)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2742)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 769)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5001)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6889)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6171)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 864)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2353)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2516)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2752)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2236)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2063)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2219)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2259)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 673)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13208)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29255)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35566)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10521)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12427)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1899)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2811)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3051)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3105)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3855)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7554)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6917)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9457)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.