- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TÁC PHẨM CÒN LẠI

02 Tháng Mười 20244:46 CH(Xem: 29400)

 

tranh NGUYEN DINH THUAN
Tranh Nguyễn Đình Thuần

 

TÁC PHẨM CÒN LẠI

Truyện ngắn của Nguyễn Trường

 

 

Đối với người xa quê, cứ đồng hương là thân nhau rồi, hà huống lại là nhà văn.

Thường các nhà văn rất thích gặp nhau, có thể bàn với nhau những dự định sáng tác, động viên nhau khám phá thi pháp mới. Thân hơn nữa, đọc bản thảo của nhau, góp ý để sửa chữa tác phẩm tốt hơn, hay hơn... Tôi viết rất chậm, ba bốn tháng mới viết được một truyện ngắn. Còn Nguyễn Anh thì ngược lại, chỉ vài tháng đã có tiểu thuyết gáy dày như hòn gạch. Bao giờ viết xong anh cũng in ra, đóng thành tập, có bìa giả như một luận văn tiến sĩ, đưa tôi đọc, nhờ góp ý. Tiểu thuyết của anh là loại tình cảm xã hội nên hấp dẫn, tôi đọc một hai bữa là xong mà không thấy quá vất vả. Mới có mấy năm anh đã có hơn năm mươi đầu sách. Tác phẩm ra ào ạt nhưng anh vẫn chưa nổi tiếng trên văn đàn. Trong giới viết lách chẳng mấy người biết đến Nguyễn Anh. Có lần ngà ngà hơi men anh nói:

- Giới phê bình văn học có nhắc đến tôi không, bạn?” - tôi kém anh hơn một con giáp, là bạn vong niên? Tôi động viên anh:

- Đến như Nam Cao mà thời đó người ta làm tuyển tập còn quên, sau này Nam Cao lừng lững hơn cả những người trong tuyển tập, cũng là chuyện bình thường.

Anh nhìn tôi trìu mến, càng thân thiết hơn. Nhiều khi tôi tự vấn mình, tại sao không nói thật, góp ý những hạn chế của anh, để cùng tiến bộ? Nhưng như ta đã biết, con người có định kiến “Văn mình vợ người”. Chơi với nhau đã gần chục năm, tôi chưa một lần nói thật với anh, sợ anh giận, có khi không chơi với mình. Ngay trên Facebook bây giờ, tút của bạn mà có người nào vào chê không khéo bạn cho họ out liền. Mấy năm sau nữa, Nguyễn Anh đã có 70 tiểu thuyết, có cuốn chia làm bộ ba bốn tập dày cộp, nếu cầm không khéo, làm rớt sẽ dập ngón chân. Bởi thế anh mạnh dạn làm đơn xin vào Hội nhà văn. Có lẽ anh nghĩ, vào được cái hội nghề nghiệp này người ta mới công nhận tư cách nhà văn. Nhưng đơn gửi đi, hồ sơ nộp đủ mà mấy năm anh vẫn không qua nổi Hội đồng văn xuôi.

Hồi trẻ anh làm bên vô tuyến điện, kiến thức học ở Liên Xô về. Thời gian rảnh anh sáng tác thơ. Anh cũng đã có nhiều bài thơ đăng trên báo trung ương và địa phương. Thơ của anh theo trường phái “tự nhiên”: không cầu kỳ, không có thi pháp mới lạ. Tuy nhiên thơ của anh lẫn trong “dàn đồng ca” văn vần gắn nhãn thơ vô cùng đông đảo, như “lạm phát” trong dòng thơ của cả nước. Sau này về hưu anh mới có nhiều thời gian viết văn xuôi.

Lúc gia đình tôi chuyển về thành phố, phải ở nhà thuê; Nguyễn Anh nói với tôi “Bạn có mua nhà không, tôi có căn nhà trong hẻm bỏ không, cũng rộng rãi. Ở chỗ này tôi làm ăn rất hên nên mới có tiền mua ngôi biệt thự như bạn thấy đó”. Tôi muốn an cư lạc nghiệp nên đồng ý liền. Anh nói thêm, tuy nhà trong hẻm nhưng người ta đang làm bờ kè kinh Nhiêu Lộc, con đường được trải nhựa, có công viên ven bờ kinh chạy gần đến nhà, vì thế tương lai nó không còn nằm trong con hẻm sâu nữa. Anh nói, giá căn nhà 36 lượng vàng SJC. Tôi với anh quá thân nhau, trả giá thì nể quá nên đồng ý với giá anh đưa ra. Tôi có ngôi nhà ở Long An bán cũng được đúng 36 cây. Con gái anh làm nghề kinh doanh sách, ở căn nhà này, cháu ăn nên làm ra bằng mua bán sách; tôi đang làm việc ở nhà xuất bản, có thể lại ăn nên làm ra chăng? Việc mua bán nhà thuận lợi. Có điều lạ là căn nhà lại đứng tên con gái anh. Cháu vừa ly dị chồng. Lúc bàn giao nhà thấy đồ đạc không còn vật gì ngoài tủ kiếng chưng ở phòng khách, nó ngăn tầng dưới thành hai phòng, bên ngoài là phòng tiếp khách, bên trong là phòng ngủ, rồi đến gian bếp, phòng tắm và phòng vệ sinh. Nhà có một gác xép, có thể ngăn làm hai phòng ở. Chiếc cầu thàng ọp ẹp, khi lên xuống gây ra tiếng kêu cót két.

Tiền bạc giao xong, giấy tờ đã hoàn tất, chúng tôi dự định làm bữa tiệc mời vợ chồng anh và cháu Thanh đến tân gia, nhưng vợ anh từ chối. Một bữa chị đến chơi nhìn chiếc tủ đứng một lúc, chép miệng: “Chiếc tủ này còn đẹp mà chúng tôi chưa kịp chuyển đi. Cô chú muốn dùng thì trả cho chị hai triệu nữa”. Tôi hơi bất ngờ. Khi vợ anh đi rồi, bà hàng xóm vừa chứng kiến, nói: “Người ta bán nhà, thường để lại một vật dụng gì đó làm kỷ niệm với chủ mới. Chiếc tủ này đã lạc hậu, do nặng quá mà bả không khiêng đi chứ báu gì. Nếu thế anh chị trả lại cho bả, tiếc của thì đến mà khiêng về”. Nhà văn với nhau nên không có suy nghĩ so đo vài triệu bạc, tôi lập tức trả tiền cho chị.

Nhà anh đang ở là ngôi biệt thự hiện đại, hai tầng, hình khối cân đối, không gian, màu tươi sáng. Khu sân vườn rộng rải, rợp bóng cây xanh. Trên hồ nước nuôi cá cảnh xây nhà thủy tạ xinh xắn. Suối nước ngày đêm tuôn róc rách xuống mặt hồ nở trắng hoa sen. Thấy bóng người, hàng đàn cá xô đến, vùng vẫy bắn nước tung tóe. Đủ loại cá vàng, trắng, đỏ, nhào lộn, đùa dỡn. Tôi với anh thường ngồi trong nhà thủy tạ mát mẻ, thưởng thức hương dìu dịu của hoa sen, nghe âm thanh vui tai của suối nước, lai rai với nhau. Anh thích rượu whisky, loại Johnnie walker black laber, chai màu đen. Anh giảng giải loại rượu này có lịch sử 200 năm, chứng chỉ Hoàng gia Anh. Rồi chỉ vào bốn con số 8 in trên chai anh cho biết, trên thế giới chỉ có tám ngàn tám trăm tám mươi tám chai thôi nhé. Vậy mà nhà anh có một chai nên cực quý. Rượu nhắm với cá hồi sashimi, tôm chiên, mực hấp. Anh thích uống rượu nguyên chất, ly nhỏ, miệng thắt lại, làm rượu ít bay hơi, giữ được hương vị. Rượu uống quan trọng là không gian và người đối ẩm. Nhấp rượu qua đầu lưỡi đã thấy sự nồng nàn, mạnh mẽ, đến từ sự lên men của ngũ cốc và mạch nha, hương vị khói than bùn khô được tích tụ từ những khu rừng nguyên sinh, hương thơm từ gỗ sồi cổ thụ... Có hơi men, anh mời tôi lên phòng văn của anh. Căn phòng rộng trên lầu hai, bàn ghế, tủ, máy tính, máy in laser... có đủ, lúc bấy giờ được xem là rất hiện đại. Sách của anh chưng trong tủ kiến lộng lẫy như gian phòng triển lãm của nhà nước. Lạ là sách tham khảo của anh rất ít, có lẽ anh ít đọc sách, thời gian còn lại anh dành cho sáng tác. Tôi tò mò hỏi:

- Anh viết bằng bút hay viết trên máy tính?

- Viết trên máy tính mới nhanh được như thế chứ - anh hồn nhiên trả lời trong khi anh gõ máy tính chỉ bằng hai ngón tay, như cò mỗ tép. Viết như thế thì nhanh thế nào được mà hai tháng đã xong bộ tiểu thuyết dày cộp. Tôi hỏi:

-Anh khi đánh máy xong anh lưu vào ổ địa nào?

Lúng túng một lát, anh thú thực: con gái thuê một cô đánh máy cực nhanh, học đại học Tổng hợp khoa văn học, nên biết sửa lại những câu văn chưa hoàn chỉnh. Anh đứng chắp tay sau đít đi qua đi lại đọc cho người đánh máy. Anh có tài  tưởng tượng ra cốt truyện hấp dẫn, nhân vật chính thuộc gia đình giàu có, sang trọng, ở nhà biệt thự, đi xe hơi, ăn mặc sang chảnh. Nhân vật nữ phải đẹp, thuộc loại tiểu thư lá ngọc cành vàng. Đối tượng đọc sách loại tình cảm xã hội thường là người nghèo, lớp bình dân thường hướng ánh mắt lên cao, ao ước cuộc sống của tầng lớp giàu có; bởi thế chuyện về các anh chị con nhà “quý tộc” bao giờ cũng hấp dẫn, cũng lấy nước mắt của độc giả. Sách của anh ăn khách. Có dạo anh viết tiểu thuyết loại mỏng, in khổ nhỏ dành cho lứa tuổi teen. Câu chuyện xoanh quanh các em tuổi chừng 14, 15, chưa thành người lớn mà cũng không còn trẻ con, tuổi này thường mơ mộng, ranh giới mơ màng giữa tình bạn và tình yêu... Hầu như cuốn nào cũng chỉ có thế, nhưng bán chạy, có cuốn in hàng trăm ngàn bản, con anh giàu lên nhờ sách của cha.

¶¶


Chúng tôi ngà ngà say bởi loại rượu nguyên chất, phát ngôn vung vít, coi trời bằng bàn tay. Các nhà văn đoạt giải Nobel trên thế giới cũng là nhải nhép nhé. Anh nhìn vào mắt tôi:

- Bạn nói thiệt đi, mình có hơn 70 đầu sách, có cuốn tái bản đến ba lần, với độ dày chất cao bằng đầu người, tại sao  họ vẫn không kết nạp tôi vào Hội?

Rượu khiến tôi buột miệng:

- Vì họ cho rằng anh viết văn để kiếm tiền. Tiểu thuyết của anh chỉ đọc tên lên là biết loại tình cảm xã hội như: “Tình cuối”, “Sang ngang”, “Hai nửa trái tim”. .. Chỉ dành cho mấy em mới lớn lười suy nghĩ, mấy bà mấy cô bán vải, bán tạp hóa ở chợ, lúc rảnh rỗi đọc để giải trí.

Tôi vừa đọc xong cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh liền trao cho anh, hy vọng anh tỉnh ra và tiến bộ:

- Anh đọc cuốn này sẽ thấy anh Khánh đầu tư cho nó rất nhiều.

Hôm sau anh gọi cho tôi:

- Mình đọc xong cuốn Hồ Quý Ly rồi, văn chương không mùi mẫn, lại nhồi nhét quá nhiều thứ, đọc xong, mệt rã rời.

Tôi cố gắng thuyết phục anh:

-Tác giả hiểu rất sâu về lịch sử, kinh dịch, chữ Hán, Nôm; về các đạo như Phật, Lão, Nho... Lại có kiến thức uyên bác nên bình luận, kiến giải thuyết phục độc giả. Người đọc vừa thưởng thức áng văn chương tuyệt mỹ còn được nâng cao kiến thức. Một nhà văn lớn trên thế giới đã nói, muốn trở thành nhà văn, yêu cầu người viết phải “giàu”.

Anh lặng đi một lúc, rồi tắt máy làm tôi cảm thấy mình có lỗi. Tôi đến nhà anh, đều nghe vợ con anh nói anh không có nhà. Mấy năm sau, tôi mua được mảnh đất khá rộng ở ngoại thành. Tôi bán căn nhà nói trên, tiền nhiều nhưng tính ra cũng chỉ được 36 cây vàng. Ở tận huyện Nhà Bè, tôi ít đến nhà anh chơi.

Tôi được điều ra Hà Nội công tác nên giữa anh và tôi càng ít liên lạc. Bẵng đi một thời gian tôi nghe nhà báo về hưu Thành An, có bà con xa với anh nói lại, anh đã bán ngôi biệt thự ở quận Nhất. Có lẽ anh đã lớn tuổi, không kiếm ra tiền thì bán ngôi biệt thự to đùng, thuê căn nhà nhỏ, còn lại khoản tiền khá lớn để chi tiêu lúc tuổi già chăng?

Về Sài Gòn, tôi lập tức đến thăm anh trong phòng trọ cuối con hẻm nhỏ chỉ vừa chiếc xe máy đi lọt. Tôi chạnh lòng, thật thà hỏi:

-Làm sao đủ chỗ cho chị và cháu?

Anh hất hàm:

- Bả với con gái ở một nơi, tôi ở một nơi, khỏi vướng bận, còn có thời gian mà đọc sách phục vụ sáng tác.

Khắp phòng của anh, toàn thấy sách là sách, sách Phật giáo, sách triết học, sách kinh điển... Dạo này anh đọc nhiều. Anh gầy, tóc bạc trắng, già đi gần chục tuổi; không còn nước da trắng hồng thư sinh. Cũng có thể do ăn uống thất thường, lại ở trong hẻm sâu, ít đi tập thể dục, ít vận động nên chân tay anh nhão nhoẹt, gầy trơ xương. Chỉ còn vầng trán cao, đôi mắt sáng nhưng buồn sâu thẳm là của ngày xưa. Anh hứng thú nói về triết học, từ “Siêu hình học”, đến “Chủ nghĩa tương đối”… Anh lướt qua “Chủ nghĩa hiện sinh”, “Chủ nghĩa thực dụng”... Về các trường phái văn học phương Tây. Anh tìm hiểu sâu về Hậu hiện đại, trong đó anh tỏ ra thích thi pháp hiện thực huyền ảo. Anh nói về tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” của Gabriel García Márquez, “Báu vật của đời” của Mạc Ngôn, “Kafka bên bờ biển” của Haruki Murakami.... Nhưng hình như đầu óc anh có vấn đề, muốn dẫn chứng một tác giả, một nhân vật nào anh phải dừng lại cố nhớ, đa số anh nhớ mãi không ra. Có lúc bí từ anh chen tiếng Anh vào tiếng Việt, cứ như một người Việt kiều lâu năm mới trở về nước. Anh nói:

- Đúng là nhà văn rất cần kiến thức. Thời gian qua mình đọc rất nhiều sách để bù lại thời trẻ ít đọc, không có thời gian viết tiểu thuyết. Mình đang tập trung vào truyện ngắn, dự định giữa năm ra một tập truyện ngắn để nộp cho Hội Nhà văn.

Anh chưa thành công ở thể loại tiểu thuyết, thì nay có tập truyện ngắn tốt, hội đồng văn xuôi dễ chấp nhận hơn. Tôi động viên anh tập trung vào truyện ngắn.

Bẳng đi mấy năm, tập truyện ngắn của anh ra đời. Nó gồm 12 truyện. Anh gửi tặng tôi một cuốn. Tôi  thức gần sáng đêm đọc sách của anh. Tôi mừng cho anh, tuy truyện của anh chưa có gì sâu sắc, nhưng được cái văn anh mượt mà, anh kể rất chân thật về những người lao động nghèo khó trong hẻm anh ở nên thuyết phục được người xem. Tuy anh đọc khá nhiều sách triết nhưng trong các truyện của anh không thấy hơi hướng tư tưởng triết học. Tư tưởng triết học trong nghệ thuật bao giờ cũng ngân lên từ các cung bậc cảm xúc. Nó phải có thời gian ngấm vào máu, vào trong tình cảm của đời sống nhà văn, lẫn đâu đó trong mạch văn, như rượu đã được chưng cất, tự tỏa hương, có cố ý cũng không được. Tôi là người đầu tiên viết bài về tập truyện “Những người trong hẽm tối” của anh, in trên báo Văn nghệ. Chính tôi lặng lẽ đến từng vị trong Hội đồng văn xuôi tặng sách kèm tờ báo văn nghệ có bài bình luận và nói về sự nghiệp, kiến thức, cuộc sống của anh bây giờ.

Cuối năm, anh được kết nạp vào Hội Nhà văn. Cũng chính tôi gọi điện báo tin cho anh sớm nhất. Anh cười ha hả, thừa nhận mình định kiến nặng rồi hứa ra Hà Nội, sẽ mời tôi đi uống whisky bên bờ hồ.

Bẵng đi một thời gian khá lâu tôi không thấy anh gọi. Tôi thì lu bu chuyện quản lý cơ quan nên cũng quên anh.

Một bữa tôi gặp Thành An ra Hà Nội, anh em ngồi uống bia với nhau. Nhắc đến nhà văn Nguyễn Anh, Thành An ngạc nhiên:

- Câu không biết chuyện gì à. Nguyễn Anh chết rồi!

Tôi bàng hoàng hỏi dồn:

-         Anh ấy bị làm sao? Sao không thấy báo nào đăng tin?

¶¶

Tôi ghi lại lời kể của nhà báo Thành An.

Hồi Nguyễn Anh học ở Liên Xô về, trắng trẻo, vầng trán rộng, đôi mắt sáng, yêu đời, túi rủng rỉnh tiền. Một bữa dự đám giỗ nhà anh Thành An, Nguyễn Anh gặp người đàn bà khoảng 26 tuổi, hơi mập, nước da trắng hồng làm Thành An hơi ngạc nhiên vì thấy dạo này nước da chị ta có vẻ đẹp lên, cái cổ  cao hơn, có những đường gân xanh phập phồng. Chị có khuôn mặt tròn, ăn nói sắc sảo, đáo để, tên là Hà. Chuyện nở như ngô rang. Chị vừa ly dị chồng, đang buồn. Còn Nguyễn Anh mới ở nước ngoài về cũng đang khao khát tình cảm nên hai người bị “tiếng sét ái tình”. Thời gian sau chị Hà sinh cháu Thanh, hình như sinh non vì mới đến tháng thứ bảy. Con gái Nguyễn Anh lớn lên, có chồng sinh một con gái, anh được hạnh phúc làm ông ngoại.

Chồng Thanh là người Quảng ngãi, chủ một nhà sách lớn. Ở thành phố Hồ Chí Minh có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh sách, đa số là người Quảng Ngãi. Vợ chồng cháu Thanh lại cơm chẳng lành canh chẳng ngọt. Họ ly dị nhau, Thanh được chia  nửa tài sản, trong đó có một nhà sách ở trung tâm thành phố. Từ đó Thanh trở thành chủ nhà sách, cũng đi xin giấy phép các nhà xuất bản, mua bản thảo các tác giả, in ấn, phát hành. Nguyễn Anh bỗng trở thành  tác giả ăn khách một phần nhờ tài phát hành của con gái mình. Theo yêu cầu của Thanh, sách muốn bán được phải viết như thế nào, thị trường sách đang đòi hỏi viết ra sao. Nguyễn Anh viết suốt ngày đêm loại tiểu thuyết tình cảm xã hội để đáp ứng yêu cầu của con gái. Thường tiểu thuyết của anh có số lượng in lên đến 20 hoặc 30 ngàn  bản, lại sách tuổi teen có khi lên đến trên trăm ngàn bản. Giá bìa cao, số lượng in lớn, có khi tái bản nhiều lần, anh có thu nhập bạc tỷ mỗi tháng. Tuy vậy, tiền nhuận bút, Thanh có lúc đưa cho cha có lúc không, Nguyễn Anh không quan tâm. Nguyễn Anh trở thành con gà đẻ trứng vàng cho con gái mình.  Thanh tỏ ra chiều cha, đáp ứng cả rượu ngoại đắt tiền...

Theo suy đoán của tôi, có vẻ như đó là thời gian tôi đến nhà là anh kéo ra ngồi ngoài nhà thủy tạ nhậu lai rai. Một lần hai chúng tôi nhậu hơi nhiều, tôi không còn đủ tỉnh táo, đã dội một gáo nước lạnh vào đam mê của anh, làm anh bừng tỉnh. Nếu anh không làm đơn xin vào Hội Nhà văn, mấy năm không qua nổi Hội đồng văn xuôi, những lời góp ý của tôi không được anh quan tâm. Có thể tôi bỗng trở thành kẻ thù không đội trời chung của vợ con anh vì lý do tôi xui khôn xui dại anh, và cấm không cho anh chơi với tôi. Nhưng dù vợ con anh có làm mình làm mẩy với anh, anh vẫn không “bán linh hồn” cho loại văn học hàng chợ của con gái anh nữa. Anh đọc sách và quyết tâm “đào sâu suy nghĩ”, viết một cái gì đó lớn lao, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”.

Những năm kinh tế thế giới suy trầm kéo theo kinh tế trong nước chững lại; internet, điện thoại thông minh xuất hiện, các mạng xã hội: facebook, Zalo, Tik Tok... chiếm lĩnh thời gian từ người trẻ đến người già cũng khiến văn hóa đọc thoái trào. Ngay cả loại tiểu thuyết tình cảm xã hội cũng không có người mua. Sách ế ẩm, hoàng loạt nhà sách phá sản, trong đó có cả nhà sách của Thanh.

Thanh bán nhà sách, về nằm bẹp ở nhà. Miệng ăn núi lở, chả mấy năm số vốn nhà sách của Thanh đã tiêu hết. Gia đình Nguyễn Anh lâm vào cảnh thiếu thốn. Kinh tế khó khăn, mâu thuẫn trong gia đình bộc lộ. Hà cho con gái biết cha của cô là ai. Bà sinh Thanh đủ chín tháng mười ngày chứ không phải sinh non. Khi người ta tuổi đã lớn, cái ham muốn sinh lý không còn, cái tình cũng hết, chỉ còn lại cái nghĩa. Nguyễn Anh với vợ hai cũng chẳng có nghĩa tình sâu đậm. Thanh bán ngôi biệt thự, mướn căn nhà nhỏ để ở, số tiền còn lại dùng để làm ăn. Nguyễn Anh thấy cũng hợp lý nên đồng ý. Lúc đầu họ thuê ở chung một nhà. Mấy tháng sau Hà thuê riêng cho Nguyễn Anh một phòng “Để ông yên tĩnh mà đọc sách, mà viết văn”. Nguyễn Anh nghe vợ nói cũng có lý. Tiền thuê nhà mấy tháng đầu con gái anh trả. Nhưng đến tháng thứ tư, chủ nhà đòi tiền Nguyễn Anh. Tiền bán ngôi biệt thự nằm trong tay Thanh. Nguyễn Anh trở nên trắng tay, chỉ còn đôi đồng tiền hưu trí ít ỏi. Đến lúc này họ mới lật bài ngửa với Nguyễn Anh: Thanh không phải là con ruột của anh. Có nghĩa là Nguyễn Anh với họ chẳng có bà con máu mủ gì. Nguyễn Anh cay đắng nhận ra cuộc đời mình còn éo le, nghịch cảnh hơn những nhân vật trong tiểu thuyết tình cảm xã hội của mình.

Tuổi già bao nhiêu bệnh tật sầm sập ập đến. Có tháng Nguyễn Anh nằm viện cả mấy chục ngày, không một người hỏi thăm. Bảo hiểm y tế chỉ chi trả những lại thuốc nội rẻ tiền. Muốn khỏi bệnh phải dùng loại thuốc đắt tiền. Đang đau ốm anh xin ra viện, nằm bẹp một góc ở phòng trọ trong con hẻm tồi tàn, chờ chết. Lúc nào tỉnh táo Nguyễn Anh viết về nhân tình thế thái, viết về những cuộc đời khốn khó của kiếp người quanh phòng trọ của anh. Trong những truyện ngắn của Nguyễn Anh có sự thông cảm, có những giọt nước mắt chân thành sẻ chia, nó gần gũi với anh, nó là số kiếp của anh. Do đó, truyện ngắn của anh rất chân thật, rất sống động. Hình như anh không phải tưởng tượng, hư cấu nhiều. Đó là cô Trang chuyên làm nghề đứng đường, ban ngày ngủ, ban đêm phấn son lòe loẹt ra Huyền Trân Công chúa rước khách. Có bữa  tranh giành khách, bị đánh ghen mặt mày thâm tím. Đó là cô Thảo lượm ve chai, bịch mũ, cái xe đạp cũ kỹ lúc nào cũng chất lỉnh kỉnh những chai lọ, tấm bìa cát tông, bịch ni lon ... và người cô luôn bốc lên mùi chua nồng từ bãi rác. Đó là anh chàng sinh viên kiêm nghề chạy xe ôm kiếm sống để đi học... Tập truyện ngắn của anh được ghi nhận. Nguyễn Anh vào Hội Nhà văn từ chính tập truyện ngắn mỏng này.

Nỗi khổ của người già là lúc ốm đau không nơi nương tựa. Nhà văn già Nguyễn Anh chỉ còn đứa cháu, con ông bác là đồng ý đón anh về. Một chút máu đào hơn ao nước lã. Nhà văn gói gém đồ đạc là mấy thùng sách dọn về ở với đứa cháu. Nhưng cũng được mấy tháng, cháu dâu thấy chú ruột không có của cải, khinh ra mặt. Mấy lời hắt hủi là đủ khích tính tự ái nhà văn. Cùng đường, Nguyễn Anh đành phải liên hệ với Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh, xin vào ở Trung tâm bảo trợ xã hội mà ngày xưa gọi là “Trại tế bần”. Mặc cảm với hoàn cảnh của mình, nhà văn già không sinh hoạt với Hội văn nghệ địa phương, cũng không muốn tiếp xúc với ai. Ở đây toàn ông bà già neo đơn không nơi nương tựa. Bởi vậy họ gồm những người nghèo khổ, ít học. Những người trong trung tâm ngạc nhiên có một vị dáng trí thức, khuân về phòng hàng chồng sách, suốt ngày ngồi đọc, rồi viết, ít tiếp xúc với mọi người. Không ai biết đó là một nhà văn. Vào mùa dịch Covid lan nhanh. Những người trong trung tâm phần nhiều dính bệnh, ra đi trong lặng lẽ. Nhà văn Nguyễn Anh nhiễm Covid, nhiều bệnh nền nên không chống chọi được với thần chết. Người ta vội đưa ông đến nhà hỏa thiêu,  không người thân đưa tiễn, lặng lẽ như bao người dân chết trong mùa Covid. Cũng không một tờ báo đưa tin.

Sau mùa dich Covid tôi mới về quê đi tìm người thân của nhà văn Nguyễn Anh. Nhà văn xấu số chẳng để lại gì dù là một lọ tro cốt. Tôi ra ngồi bên bờ sông Mã ngắm dòng nước trôi xuôi. Đã bao thời gian dòng nước cứ cuồn cuộn đổ về hạ lưu như dòng đời của bao kiếp người. Cách đây nửa thế kỷ, cũng bên bờ sông Mã này, dòng sông chứng kiến giọng hò của các đôi trai gái đối đáp với nhau. Làng tôi thanh niên đã vào quân ngũ hầu hết, chỉ còn các ông già, nên các anh bộ đội ngoài khu Ba đến đóng quân là “mì chính cánh” với các cô gái làng. Nhất là các anh bộ đội lái xe chở đạn ra chiến trường. Tôi vẫn nhớ o Duyên làng tôi hò, tiếng cao vút ngân vang  trên dòng sông: “Hò ơ... Trên trời muôn vạn (mà...) vì  (ớ...) sao.../ Như lòng em với... anh nào (xe ...) lái xe... (ớ hò...)”. Các anh chàng khu Ba “một lần khiêm tốn bằng bốn lần tự kiêu” cất tiếng hò: “Hò ơ... Dại gì mà lấy (mà...) lái ( ớ...) xe/ Đi ba cây số... còn nghe ... mùi dầu...”. Càng về khuya câu hò càng thiết tha: “Đôi ta như đủa tre non/ Khen ai khéo vuốt đủa tròn nên đôi”. Tiếng anh bộ đội bắt nhịp: “Đôi ta như đủa tre già/ Khen ai khéo tiện đủa đà bằng đôi”... Sau này vào Nam, tôi đọc thơ của anh, nhận ra mấy câu thơ quen. Tôi hỏi anh. Anh khẳng định như đinh đóng cột đó là thơ của anh. Bây giờ bên dòng sông Mã tôi lại nghe giọng hò tha thiết của các cô gái, chàng trai: “ Hò ơ... Đôi ta như đủa tre non/ Khen ai khéo vuốt đã tròn một đôi”. Giọng hò mênh mang trôi trên dòng sông càng làm tôi da diết nhớ điệu hò thời chiến tranh. Hóa ra anh xuất bản gần trăm đầu sách, nhưng người đời chỉ nhớ vài câu thơ của anh mà không rõ tác giả.

¶¶

Sáng mùa thu Hà Nội, một cán bộ trung niên mang đến cơ quan tôi tập tài liệu viết tay. Tôi nhận ra ngay nét chữ nhà văn Nguyễn Anh.

- Đây là toàn bộ di cảo của Nguyễn Anh để lại Trung tâm bảo trợ xã hội. Sinh thời cụ nói viết để mua vui, giải tỏa. Tôi có đọc, rơi nước mắt và nhớ có lần ông tâm sự mình luôn nhớ người bạn vong niên làm giám đốc nhà xuất bản. Tôi lần mò tìm ra được ông và đến đây giao lại cho giám đốc bạn vong niên Nguyễn Anh...

Khỏi phải nói, tôi đọc ngấu nghiến hết bản thảo “Dưới đáy xã hội” chỉ trong một đêm. Lòng vô cùng xúc động bởi những trang Nguyễn Anh mô tả, đó là  một xã hội dưới đáy xã hội sao mà khổ, nhục, đau đớn nhưng đầy tình người. Phần Nguyễn Anh phê phán các thói hư tật xấu ở mọi miền quê, thị thành được viết hóm hỉnh, có vẻ đáng yêu nhưng sâu sắc như dao sắc cứa vào gan ruột... Tuy nhiên ông còn khoảng vài trang cuối cùng chưa hoàn thành thì đã phải từ biệt thế giới này. Trên nền xúc động của bản di cảo, tôi dễ dàng viết nốt hai trang cuối của cuốn tiểu thuyết mà mạch văn vẫn liền nhau, suông sẻ, khái quát được vấn đề mà cuốn tiểu thuyết đặt ra, cứ như Nguyễn Anh đưa đường chỉ lối cho tôi. Tôi giật mình vì Nguyễn Anh đã tìm ra một thi pháp mới, không phải hiện thực trần trụi, cũng không phải thi pháp huyền ảo mà ông đang say mê. Truyện sẽ hay hơn nếu sự sáng tạo không lệ thuộc vào thi pháp nào. Anh viết bằng tất cả niềm say mê và cảm xúc, chỉ sợ không hoàn thành nó trước khi trút hơi thở cuối cùng. Như ngọn đèn sắp tắt, bỗng sáng bừng lên.

Tôi giao phòng biên tập đánh máy, làm kế hoạch, lấy giấy phép xuất bản ngay. Số lượng in 1000 cuốn, cốt có 20 cuốn nộp lưu chiểu để tác phẩm được Nhà nước và các thư viện lưu giữ lâu dài. Bìa 4 tôi thuê họa sỹ nổi tiếng tìm in chân dung nhà văn Nguyễn Anh và chính tôi viết lời giới thiệu ngắn gọn về hoàn cảnh nhà văn Nguyễn Anh viết cuốn này trong Trung tâm bảo trợ xã hội quê nhà trước khi Covid 19 đưa ông về cõi vĩnh hằng. Riêng bản thảo được linh hồn đau khổ của ông cùng những sinh linh khổ đau tạo ra biển khổ giúp trôi nổi về nhà xuất bản.

Không ngờ cuốn tiểu thuyết “Dưới đáy xã hội” dày có 300 trang lại lay động trái tim độc giả. Sách bán rất chạy, làm xôn xao văn đàn cả nước, các báo lớn đưa  tin, rất nhiều bài bình về cuốn tiểu thuyết này in trên các tạp chí văn học. Tiền nhuận bút tôi báo cho vợ con Nguyễn Anh đến nhận vì dù gì họ đang là người thừa kế hợp pháp. Một sáng thứ hai, Thanh đến nhà xuất bản gặp tôi và nhận nhuận bút. Khi nhìn thấy số tiền khá lớn nước mắt cô bỗng tuôn rơi. Cô ôm mặt khóc một lúc mới nghẹn ngào nói:

-Cháu có lỗi với cha. Sinh thời cha rất thương cháu, hy sinh cả cuộc đời vì cháu, vậy mà do ích kỷ cháu đã đẩy cha vào đường cùng khốn khổ... 

Tôi phải động viên Thanh:

-Đó là số kiếp của cha cháu, có lẽ vì vậy mà cha cháu đã viết được tác phẩm để đời.

Thanh ngẩng lên, đôi mắt đỏ hoe:

-Chú ơi, cháu nhờ chú giúp cháu một việc. Chú chuyển toàn bộ số tiền này cho Trung tâm bảo trợ xã hội ở quê cha cháu, làm quỹ giúp người nghèo khó, đơn côi, đó cũng là đáp ứng tâm nguyện của cha cháu.

Năm sau cuốn “Dưới đáy xã hội” được một nhà xuất bản Hoa Kỳ dịch ra tiếng Anh, in ấn phát hành trên 17 nền tảng như Amazon, Apple... bán khắp thế giới. Bìa 4 có đoạn đánh giá sự nghiệp của Nguyễn Anh, tôi tạm dịch như sau: “Nhà văn Nguyễn Anh đã in 70 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn. Những gì nhà văn Nguyễn Anh viết trong  hơn 70 cuốn sách chỉ là chẩn bị tư tưởng nghệ thuật cho cuốn tiểu thuyết cuối cùng này; hay nói chính xác, ông là nhà văn chỉ có một tác phẩm văn chương nhưng vô cùng nổi tiếng”.

Nguyễn Trường

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 202410:35 CH(Xem: 34894)
Chuyện Huân có nhiều người yêu thì cả thị xã, quần chúng nhân dân các giới đều biết chứ chẳng cứ gì đám con gái trẻ. Bọn này thực ra cũng đang mắt liên mày láo tia lấy một anh chàng nào đó làm chồng cho xứng đáng cái tấm thân ngà ngọc bố mẹ ban cho. “Lấy chồng cho xứng tấm chồng/ bõ công trang điểm má hồng răng đen”, lời các cụ dạy cấm có sai. Xưa không sai đã đành, nay cũng vẫn đúng nguyên. Nên nói một cách sòng phẳng, hình như Huân bị đám con gái ấy nó chủ động đưa vào lưới tình...
08 Tháng Hai 20243:27 CH(Xem: 35686)
Con đường thủy chung bụi đỏ / Cánh đồng gian nan chữ nghĩa / Râm ran dế gáy cội nguồn / Những đứa trẻ chuồn chuồn / Đuổi bắt / Những hạt mầm bùn lầy ẩn nấp / Đất bao dung / Nơi bắt đầu những yêu thương /
08 Tháng Hai 20242:20 CH(Xem: 37021)
một hôm nào bỗng nhớ / mơ hồ tiếng hát xưa / vọng dài trên sông vắng / giọng buồn vang âm mưa
08 Tháng Hai 20242:08 CH(Xem: 37628)
Niềm hư ảo / Cõi thực mơ hồ bảng lảng bâng khuâng / Ngôi sao mai / Đọng ở đôi mắt em lóng lánh giữa đời
08 Tháng Hai 20242:52 SA(Xem: 30440)
Bên hoa / e ấp…bóng hồng / Vai mềm dáng liễu / hương nồng nàn bay Mượt mềm / dải lụa tóc mây...
08 Tháng Hai 20242:46 SA(Xem: 28071)
Đôi tình nhân đã có một thời 20 hoặc 30 năm… / Họ, dường như khó hoặc là (!)nhận ra nhau. / “Xin lỗi cô, tôi không cố ý!” / Sự gặp nhau trên bãi tắm . Họ đang bơi và vô tình va chạm nhau.
07 Tháng Hai 20244:36 SA(Xem: 35166)
em gở vòng tay đêm, choàng dậy / những tia chớp đuổi nhau / tiếng sấm gầm, tiếng bầu trời nổ tung / nghìn hạt thuỷ tinh đen / mưa tháng chạp /
07 Tháng Hai 20243:34 SA(Xem: 33456)
Khi tìm đọc văn học chiến tranh (giai đoạn 1954-1975) tôi bắt gặp rất nhiều lần lời giới thiệu ngắn tên tuổi, và các tác phẩm của nhà văn Nguyên Vũ. Kể từ đó, tôi luôn tìm Nguyên Vũ để đọc, song dường như không có tác phẩm nào của ông được đưa lên các trạng mạng, hay các thư viện điện tử. Hôm rồi, thật may mắn, đang nghiền ngẫm về cố nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, tình cờ tôi bắt gặp: Mây Trên Đỉnh Núi, truyện dài gồm 20 chương của Nguyên Vũ. Đây có lẽ là truyện dài đầu tay, và ít được nhắc đến của ông. Cũng định thử một vài trang, rồi lúc nào đó sẽ đọc tiếp, nhưng bập vào tôi không thể dứt ra được, và đọc một mạch ngay nơi làm việc. Sự hấp dẫn, sinh động ấy, không hẳn bởi chỉ nội dung, mà còn do bố cục, nghệ thuật đan xen những tình tiết câu chuyện...
07 Tháng Hai 20242:19 SA(Xem: 31599)
Bài này, “Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền”, được phát triển, bổ sung và mở rộng từ bài viết gốc năm 1986, với tựa “Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy”, theo tinh thần tựa đề “L’Homme, cet Inconnu” (1935) (Con Người, kẻ Xa Lạ ấy) của Alexis Carrel (Nobel 1912). Một vài chủ đề đã được đưa vào, hay tô đậm, qua một cái nhìn hồi cố và tái thẩm, để làm đầy đặn và làm rõ hơn các đường nét về thơ Thanh Tâm Tuyền, vốn, trong bản gốc nguyên thuỷ, đã được vạch ra nhưng chưa được khai thác kỹ.
07 Tháng Hai 20241:35 SA(Xem: 28553)
Người ta thường chỉ nói về thơ Thanh Tâm Tuyền ở cái thời tuổi trẻ của ông, và gần như không có ai nói kỹ (hoặc tương đối kỹ) về tập “Thơ Ở Đâu Xa”, kết tinh bởi những bài thơ thời sau này của Thanh Tâm Tuyền, đặc biệt là thời ông đã đi qua những hào quang của tuổi trẻ mình, và cũng là thời mà ông đang đi vào, đang đi qua những hiện thực sống động nhất, theo một nghĩa nào đó, của thân phận con người, nói chung, và thân phận thi sĩ, nói riêng, của chính ông. Cũng có ý kiến cho rằng thơ Thanh Tâm Tuyền, trong giai đoạn này, chỉ là thơ thời khổ nạn, tù đầy, không có mấy điều đáng bàn. Ý kiến đó có lẽ nên được xét lại. Con người thi sĩ, đặc biệt những con người thi sĩ với chiều sâu và kích thước như của Thanh Tâm Tuyền, có thể tự thể hiện phong cách độc đáo của mình, tự khám phá hoặc đổi mới mình, trong tứ, trong từ, trong hình ảnh, suy tư mình, trên các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, tiết nhịp, điệu thức, thể loại… trong bất kỳ hoàn cảnh hiện sinh nào của họ.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3855)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13301)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19668)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18651)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1654)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1814)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2327)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2440)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1475)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2218)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1961)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2012)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1390)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2437)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2642)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2385)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 250)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 822)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1020)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1140)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6423)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15903)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32166)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38869)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1500)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13905)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6919)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10728)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9928)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10040)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10841)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3467)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11160)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10370)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi