- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

“LẠC ĐÀ TRONG RỪNG THẲM” TỰ TRUYỆN CỦA MỘT GÃ IRAQ (kỳ 2)

18 Tháng Sáu 20235:32 CH(Xem: 34233)

TRANH dtc
tranh Đinh Trường Chinh


Phạm Ngọc Lương

"LẠC ĐÀ TRONG RỪNG THẲM"
TỰ TRUYỆN CỦA MỘT GÃ IRAQ
(kỳ 2 "chương 4, 5 và 6")

CHƯƠNG 4.

 

“Lễ tang của cậu qua đi đã lâu nhưng không khí trong nhà tôi vẫn chùng xuống. Không ai biết phải làm gì để tiếp tục sống, ngoài số tiền ít ỏi của cậu dành dụm được khi trước. Sau cuộc chiến “Bão sa mạc” với Mỹ cùng các nước đồng minh, Iraq thất thủ, bị cấm vận. Bao phủ Baghdad là một bầu không khí ngột ngạt, không có bất cứ việc gì để làm. Dù không quá sung túc, nhưng chẳng bao giờ chúng tôi để thức ăn thừa từ bữa trưa sang bữa tối, mà đều phải vứt đi. Các chủ gia đình sẽ lấy làm xấu hổ nếu họ mua dưới 50 cân gạo một lần, thường đặt hàng cả con cừu, thịt tại nhà và ăn tươi. Tiết kiệm là tính từ không khi nào xuất hiện trong tiêu dùng của người Baghdad. Và bây giờ thì chúng tôi ăn khoai tây, chà là, bánh mỳ làm từ bột mỳ đen vốn chỉ dành cho gia súc. Thế nhưng vẫn có những gia đình còn tệ hơn. Thuốc men hạn chế, đồ ăn không có. Đói. Những khuôn mặt hốc hác với tròng mắt to tròn trũng sâu thao láo nhìn nhau dưới cái nắng nóng gần 50oC. Nhiều người không ngớt lời cầu khẩn thánh Allah. Về một nghĩa nào đó thì như thể chúng tôi đang phải trả giá cho sự hoang phí thực phẩm của chính mình trước kia.

 

Nhưng chúng tôi đói một thì mẹ đói mười. Nhìn những đứa con đang tuổi ăn, tuổi lớn phổng phao, nay rộc người đi, mẹ nhịn dần phần của mình, để dành cơm cho các con. Có những khi mẹ không ăn liên tục hai ngày liền, rồi dần gầy ốm đi. Chẳng ai trong mấy chị em biết. Mãi đến khi mẹ nhịn nhiều quá, dạ dày không chịu được, bụng đau dữ dội, phải đưa đi bệnh viện khám, bác sĩ nhìn chúng tôi ái ngại hỏi: “Không cho bà ăn à?”. Sự thật nghiệt ngã bị tiết lộ ấy không khác gì cái tát mạnh vào mặt chúng tôi. Anh ba gần như phát điên, khóc lóc không ngừng rồi đập phá đồ trong nhà. Tôi và anh hai lao tới, dùng hết sức lực ghì chặt, bắt anh ba nằm im. “Nghèo quá, ôi nghèo quá, tại sao chúng ta lại nghèo đến thế”. Ngừng cựa quậy, anh ba nằm im trên đất, khóc tu tu. Anh cả nhắm chặt mắt, thốt từng từ: “Hết cách rồi”. Sau đó anh cả xin đi làm cảnh vệ cho tổng thống. Nghề này đã nuôi sống cả gia đình tôi giai đoạn đó, nhưng thực lòng thì anh cả không thích, và nó cũng vô cùng nguy hiểm trong lúc nhạy cảm đó ở Baghdad. Anh ba vẫn đi học. Tôi thi thoảng xin đi làm thợ xây, bán hàng cho Pepsi trên đường phố để kiếm thêm thu nhập. Phải một năm sau ngày bị cấm vận, cuộc sống chúng tôi mới dần dễ chịu hơn.

 

Mẹ bắt tôi tập trung vào việc học nhiều hơn, như thể đó là ước mơ to lớn nhất đời mẹ, ước mơ vượt xa hơn những rặng cây chà là, những đám mây trên trời cao và đến một nơi nào ánh sáng vẫn chiếu rọi. Mẹ nói: “Kể cả các anh chị nghỉ học hết, nhưng riêng con không được phép lười. Con thông minh nhất, cũng khôn lanh nhất, phải ráng học để sau này còn giúp đỡ gia đình”. Tôi lại cắp sách tới trường, vì theo luật ở Iraq, ai bỏ kỳ thi coi như phải học lại một năm, rồi được thi một lần nữa như cơ hội cuối cùng, bỏ thi hoặc trượt thì coi như bị đuổi thẳng. 

 

Điều đặc biệt nhất ở Iraq là nhà nước bao cấp toàn bộ cho giáo dục, từ mẫu giáo lên tới đại học, thậm chí là cao hơn vẫn không mất tiền, chỉ cần người ấy có khả năng. Bù lại là hệ thống thi cử, xét tuyển rất nghiêm túc và chặt chẽ. Chính vì vậy các dòng họ, gia tộc rất tự hào khi con cháu vào được trường tốt, và bản thân họ cũng dễ dàng đạt được vị trí cao trong xã hội hơn. Y, xây dựng, kiến trúc, luật, khoa học chính trị là tốp trường quan trọng nhất. Ngay khi học đến lớp 11, học sinh nào cũng phải chọn một trong hai chuyên ban là khoa học xã hội hoặc khoa học tự nhiên. Lúc ấy tôi buộc mình phải vào ban khoa học với mục tiêu tiếp theo là đại học y. Nhưng dù đạt được 85/100 điểm, đủ để vào nha khoa, nhưng do tôi từng phải bỏ thi vì việc tang của cậu, nên bị trừ mất 10 điểm trong tổng số điểm thi, và chỉ đủ để vào đại học Nông nghiệp. Có thể ví đây là cú sốc đầu tiên, khi sự tự tin vào khả năng của bản thân mình bị lẽ may – rủi, một điều rất thường trong cuộc đời này đánh gục. Tôi cảm giác mất thăng bằng và từ chối theo học trường Nông nghiệp. Với tôi, dường như tương lai đã bị định đoạt. Điều không mong đợi thì cũng xảy ra rồi. Nếu đó là vận rủi thì chắc chẳng còn gì có thể xui xẻo hơn nữa. 

 

Tôi quyết định thi vào đại học Quân sự, để vừa có bằng, vừa có lương nuôi gia đình. Các vòng thi tôi đều vượt qua một cách xuất sắc, chỉ còn một buổi phỏng vấn. Nhưng tôi không tham gia. Rồi tới lượt trường Công An, cũng trong lần trao đổi cuối cùng ấy, tôi lại không tới. Chẳng biết điều gì lại ngăn cản khiến cho tôi không muốn bước ra khỏi nhà vào cả hai ngày đấy. Không phải sự chết nhát, sợ mình bị từ chối sẽ khiến thiên hạ cười chê. Tôi tự tin là mình sẽ đỗ, nhưng như có một điềm báo trước nào đó khiến cho tôi luôn có cảm giác bồn chồn không yên. Linh tính như mách bảo tôi rằng: đừng đi, đừng đi. Tôi biết, nếu vào quân sự thì bắt buộc suốt đời này sẽ không được phép bước chân ra khỏi Iraq dù làm chức vụ gì. Đó là một lời thề thiêng liêng mà không một người lính nào được phép phạm phải. Đêm trước buổi phỏng vấn, tôi thức trắng. Tôi tự đặt ra cho mình câu hỏi mà không trả lời được: “Mình đang làm gì đây?”. Ừ, mình đang làm gì nhỉ! Định biến cuộc đời mình thành một tù nhân trong cái nhà tù lớn là Iraq này chăng. Có khác gì một nhà tù không nếu ta chẳng thể ra ngoài? Khi ấy, tôi nào đã nghĩ tới chuyện sẽ có ngày mình đi tới một vùng đất Á Đông xa xôi và ở lại đó, nhưng thâm tâm tôi tự thấy sự bó buộc, hạn chế nếu tự tay khép cánh cửa, nhốt mình trong đất nước này. Sau này khi có những chuyện vô tình cũng như hữu ý khác xảy ra trong cuộc đời mình, khi cần phải suy nghĩ và đưa ra quyết định trước việc làm hay không làm, tôi luôn chú tâm lắng nghe linh cảm của mình.  

 

Tôi biết phải làm gì đây, khi dường như không có một lựa chọn nào khả dĩ tốt hơn cho tương lai của mình. Học hay kiếm tiền trong khi anh ba vừa tốt nghiệp, còn chờ việc, chị cả chưa lấy chồng, còn em gái vẫn đang đi học. Chúng tôi không dám nghĩ tới ngày mai sẽ gõ cửa với màu sắc gì nữa. Đường cùng, tôi cắn răng bán cái áo sơ mi đẹp nhất đang có trong tủ, mua ba cây thuốc lá đứng bán rong ngoài đường. Khi Jihad nhìn thấy cảnh đấy đã vô cùng ái ngại, bảo: “Cậu học giỏi như thế, đừng có ra đứng đường cho ảnh hưởng, thôi để tôi hy sinh đi bán thuốc lá thay ông”. Nhưng cuộc sống đường phố phức tạp hơn những gì đầu óc non nớt của một đứa trẻ có thể lường trước, bọn bảo kê, trấn lột, ăn hiếp, lấn áp địa bàn… Jihad lủi thủi đưa ra vài đồng bạc còn lại, kể với tôi rặt chuyện buồn. Không nản chí, tôi lại đi mua sữa chua, vác chậu to trong nhà ra, đặt sữa chua vào bên trong, đổ đầy nước, cho đá vào giữ lạnh, mang ra bến xe ngồi bán. Lãi lời đáng là bao so với cái nắng rằn vặt mỗi ngày. Nắng đến cong vênh cả thanh chắn bùn xe ô tô nếu chẳng may người chủ quên không phủ bạt. Tôi chỉ còn lại vài đồng bạc, cùng sự thất vọng in hình trên khuôn mặt. Cuối năm 1993, anh hai đột nhiên ra khỏi lực lượng cảnh vệ, nên chị cả quyết định xin đi làm tại khách sạn năm sao Al-Rasheed để phụ giúp gia đình. Tôi quyết định đi thực hiện nghĩa vụ quân sự ba năm để có tiền lương, vừa đi học trường Văn học Anh lớp buổi tối. Nhưng vào quân đội cũng đâu khiến cuộc sống dễ chịu hơn. Nơi tôi đóng quân cách Baghdad khá xa, nên phải tháng rưỡi đến hai tháng mới được về nhà một lần. Tôi cố gắng xoay xở đủ mọi cách để xin về Baghdad, nhưng thay vào đó, lại bị chuyển đi xa hơn. Tới 1995, tôi đóng quân ở Mussel nên cố gắng tham gia lớp buổi tối trường Văn học Anh. Mãi năm 1996 tôi mới được chuyển về gần nhà, sáng xách ba lô tới quân trại, chiều về. Đáng tiếc là tôi quá chậm trong thủ tục chuyển từ trường ở Mussel về Baghdad nên không còn được theo học tiếp. Chẳng còn lý do gì gò bó, tôi lại nghĩ tới chuyện kiếm tiền.

 

Khó khăn kéo dài khiến một loạt các doanh nghiệp phá sản, nhiều người tự tử vì bế tắc, tới giai đoạn 1996 – 1997 tuy Baghdad chưa qua thời cấm vận nhưng đã dễ chịu hơn, chính phủ phát nhiều phiếu hơn cho dân để mua lương thực nên cái ăn không thiếu, có điều hàng hóa, đồ dùng hàng ngày vẫn còn khan hiếm. Đồ mới thì không mấy người đủ điều kiện mua, nên mới có những cửa hàng chuyên bán đồ “second hand” xuất hiện ngày càng nhiều. Suy đi nghĩ lại thì đây sẽ là cơ hội của mình. Không đủ điều kiện để mở hẳn kho trữ đồ, chúng tôi xoay xở làm người môi giới ở giữa, điều quan trọng là tìm được nhanh nhất thông tin của những gia đình đang có nhu cầu bán toàn bộ đồ đạc với giá rẻ cũng được để có thể đi khỏi Iraq, sau đó giới thiệu cho các cửa hàng. Như thế sẽ chỉ lời khoản hoa hồng rất thấp, nhưng tỉ lệ an toàn cao. Cứ thế chăm chỉ một thời gian, tôi và anh ba đã có một chút vốn trong tay, liền mua đồ về, nhưng không bán ngay mà sẵn có tay nghề sửa chữa của anh, chúng tôi bỏ công sức rửa sạch, sơn sửa lại đẹp nhất có thể để làm hài lòng người mua hơn và tăng giá trị món hàng. Lúc đầu chúng tôi mang ra bán sỉ lại cho cửa hàng đấu giá. Có dư vốn hơn, chúng tôi chỉ ký gửi và chia hoa hồng cho họ. Dù không nói là khấm khá, nhưng biết cách xoay xở nên gia đình bớt khó khăn hơn trước.

 

Như được Thánh Allah chỉ lối, một hôm, người anh họ tới và thông báo cho chúng tôi rằng có cửa hàng trên phố vừa nhập một lượng lớn lốp ô tô cũ các kiểu dáng, do có việc cần tiền gấp nên muốn bán trọn gói với giá rẻ. Chúng tôi ngay lập tức đi xem. Vừa nhìn qua, anh ba biết là số lốp tốt nhiều hơn lốp hỏng, khả năng sẽ lời nhiều, nên bàn nhau dốc hết tiền mua toàn bộ, rồi chuyển về trang trại của anh họ lưu trữ. Chúng tôi dành cả hai ngày để lau, dùng xà phòng rửa sạch lốp, cái nào hỏng hẳn mới vứt đi. Nhìn đống lốp xe còn lại gần như mới, chúng tôi vô cùng phấn khởi, và quả nhiên rất được giá. Sau khi biếu mỗi người giúp mình một ít tiền, chúng tôi còn lời rất nhiều.

 

Cứ thế tiến tới, tôi dần lân la tìm hiểu thêm thông tin về các mặt hàng khác, mở rộng mối quan hệ để cơ hội tới nhiều hơn. Trong họ hàng tôi có ông anh làm công an và cũng có buôn bán thêm ô tô. Nhận ra thuận lợi này, tôi quyết định tới tìm anh, đề nghị kết hợp với nhau cùng làm ăn. Theo đó tôi sẽ tìm mối mua xe ở các tỉnh lân cận với giá rẻ, mang về sửa chữa lại, rồi anh họ sẽ xoay xở đổi thành biển số ở Baghdad, bán để lấy chênh lệch cao. Được sự đồng ý của anh họ, chuyến đi tới thành phố Mussel cách Baghdad 550 km về phía Bắc đã thay đổi cuộc sống gia đình tôi. Chấm dứt luôn chuỗi ngày lúc nào cũng phải buông cả mành lẫn rèm che kín mọi khung cửa, chỉ hé mắt nhìn ra xem ai tới, phòng khi chủ nhà muốn lấy tiền thuê nhà hoặc ai sang đòi nợ thì không biết phải lấy gì đưa cho họ. Thành công luôn tới khi ta chú tâm vào một việc gì. Nhưng điều thực sự có ý nghĩa là khi tôi có thể dẫn mẹ tới cửa hàng, bảo mẹ chọn tủ lạnh, máy giặt mới để mua. Thật khó diễn tả, nhưng mẹ xúc động và nói rằng: đã quá lâu rồi không có ai dẫn mẹ đi mua một món đồ gì mới cả. Nhìn vào mắt mẹ tôi nhận ra sự an tâm.

 

Ba năm, tôi đã dành đủ tiền để mua đất, mua nhà và sắm thêm hai chiếc ô tô cho gia đình. Ngày có đủ tiền trong tay để tự tin nói với mẹ chuyện bà nên đi chọn mua một ngôi nhà cho gia đình, tôi thấy bà đột nhiên biến thành đứa trẻ lần đầu nhận được món quà lớn nhất trong đời. Mẹ vui không tả xiết, tới hết đại lý này đến đại lý khác chọn cho kỳ được ngôi nhà mình ưng ý. “Con là con trai mẹ, thứ con làm ra thảy đều là của mẹ”. Bà thì thào lặp đi lặp lại lời tôi nói. “Ngay cả thứ bố không cho mẹ được, con sẽ cho”.

 





 

CHƯƠNG 5.

 

Cuối tuần, tôi tới đón em vào cái giờ mọi khi chúng tôi vẫn ngồi gần nhau trò chuyện. Nơi em ở là tầng hai có lối đi riêng nhỏ hẹp từ bên hông con ngách cụt. Vốn đó là căn nhà trệt mặt tiền trên con phố đông đúc. Em đã cơi nới gác lửng rộng ra, đẩy mái cao lên, tách lối đi riêng để ở, rồi cho thuê phía dưới như vô vàn những con người khác trong khu nội thành chật chội này. Kể ra đó cũng là quyết định không tồi. Sống trong chốn này đến hít thở cũng hạn hẹp.

 

Tiệm vịt nướng bốc ra từng đợt khói kèm mùi thơm dậy mũi. Từng con vịt vừa treo lên móc chưa ấm chỗ đã bị dỡ ra thớt chặt chém rồi trút vào hộp. Giờ tan tầm, tựa như thành phố này dốc ngược túi, đổ hết bao nhiêu người nó đang chứa trong mình ra đường để đếm. Những gương mặt cứ thế hiện hữu trước mắt tôi rồi tiêu biến. Liệu có khi nào tôi vô tình gặp lại họ ở nơi khác và nhận ra không nhỉ. Đến tôi cũng thấy nực cười với sự nhàn tản quá mức của mình. Trên một góc độ khác mà nói, dù đã sống ở đây hơn 30 năm, tôi vẫn luôn thấy mình chỉ như một du khách tạm dừng chân mà nhìn ngắm mọi thứ bằng đôi mắt xa lạ. Không phải loại du khách hứng trí bừng bừng khám phá, mà là một đôi mắt mỏi mệt, thê lương.

 

Con xe của tôi hẳn cũng già nua cũ kĩ như tôi. Nó chẳng bóng bẩy bắt mắt mà như một tồn tại cần được thay thế trên đường phố. Một sản vật mà thời gian không khoác lên nó bất kì giá trị cổ điển, trầm tích, chỉ thể hiện ra sự lạc loài với thời đại. Thế nên mỗi một vị khách dừng lại mua vịt nướng, trong lúc chờ đợi đều hướng mắt tới con xe của tôi, mà dường như đều có vẻ trách móc tiềm ẩn vì sao tôi không chịu tống con xe vào một cửa hàng nào đó, dỡ nhỏ nó ra, rồi kiếm cho mình một chiếc xe mới rẻ tiền, hợp thị hiếu hơn. May thay, chiếc xe vẫn chạy tốt, chứ không phụt ra hàng đống khói đen kịt khi khởi động. Nó như niềm an ủi cuối cùng của tôi với ông bạn già này. Một thân xác già nua hơi rệu rã nhưng không ốm đau.

 

Từ xa em hướng tới con xe của tôi, từng bước ngắn chậm rãi. Quần jean, phông trắng, áo phao đen, khăn quàng xám, balo khoác trên vai, đi đôi giày Adidas đỏ, em hiện diện như tất cả những gì vốn có của tuổi trẻ, sạch sẽ, không cần tô điểm cầu kì để che đủ loại khiếm khuyết trên cơ thể. Đơn giản đến hoàn hảo. Thấy tôi mở cửa xe, em gật đầu cảm ơn, đưa mắt khẽ liếc một vòng xung quanh rồi mới nhoài người vào. Như để trả lời cho cái nhìn của em, đằng sau quầy hàng đối diện nhô ra một mái tóc bù xù, hai mắt lập loè bao quát kín kẽ chúng tôi. Hàng lông mày em nhướng lên cao, mặt vênh lên đáp trả rồi đóng xầm cửa xe lại.

 

“Xin lỗi vì để anh chờ”.

Em rút bao thuốc lá trong túi ra, đưa lên mũi ngửi, thoáng ngần ngừ rồi lại bỏ vào. Dường như em đang bối rối, cần điều gì đó để phân tán sự chú ý.

“Em khoẻ không! Ai làm phiền em hả?”

“Em đang có chút khúc mắc với hàng xóm. Anh biết đó, em cơi nới gác lửng, sửa lại lối thông ra ngõ bên hông mà em vốn không sử dụng lâu lắm rồi. Thế là bà ấy trở mặt như thể em đang xâm phạm tới quyền sở hữu của bả. Ồi, chỉ là chút lông gà vỏ tỏi mà đi nói xấu em khắp nơi. Anh nhìn dáng vẻ vịt bầu của bà ấy chưa, vậy mà dám nói em xấu như viên ô mai cuối lọ nên không ai thèm lấy. Lạy hồn.”

 

Em có xấu không? Chưa khi nào tôi tự hỏi bản thân điều đó, nó thật sự không cần thiết. Tôi thích làn da sáng màu với chút tàn nhang bên gò má của em, cùng tôi mắt to đen sạch sẽ, sạch sẽ đến mức tôi sẽ tự nguyền rủa mình nếu cố làm vấy bẩn nó. Nếu kết hợp giữa làn da cùng lớp son môi màu đen, móng tay đen cùng trang phục tối màu, phản ứng của số đông hẳn là như nhau, mà tôi không mấy quan tâm tới thẩm mỹ của đám đông. Một gã già gàn dở cùng một cô gái trẻ gàn dở là đã đủ lắm rồi.

 

Tôi khởi động máy sau khi nhắc em buộc đai an toàn. Con xe khò khè thở dài trước khi lăn bánh. Chúng tôi đi xuyên thành phố tới phần rìa tây quận nơi con sông lớn nằm lẫn lộn giữa một đống hồ nước. Người ta đã dần dần lấp đi những cái hồ nhỏ để lấn thêm đất. Hẳn trong ngày nắng nóng, những cái hồ cũng thở khò khè không khác gì con xe già lão của tôi. Một lớp hỗn hợp dầu mỡ, chất thải, váng bẩn, tích lại cùng rác rưởi phủ trên mặt hồ cướp đoạt sức sống, phà vào không khí hơi thở hôi thối đặc trưng của cống rãnh. Tôi đã từ lâu đóng kín cửa xe khi chạy ngoài đường. Tôi từ chối nhìn, nghe và tiếp nhận mọi hiện thực đang có vẻ tồi tệ hơn ngoài kia. Tôi sớm khoác lên mình sự ích kỷ của tuổi già và dừng nghĩ về tương lai để không cần phàn nàn với ai khác về sự bất ổn, lật lọng, phản bội từ thế giới.

 

Chúng tôi đi xuyên thành phố và dừng xe trên vỉa hè, rồi đi bộ xuôi theo con dốc ngắn hẹp chạy xuống hồ. Một người đàn ông trung tuổi nhỏ gầy đứng ngay ở cổng tỏ vẻ chờ đợi đã lâu, rồi để chúng tôi bước vào trong xem với thái độ ân cần đúng mực. Gã tựa như đã được dặn trước về tôi, nên sau màn chào hỏi, gã tự bỏ qua vẻ mặt hờ hững của tôi mà chỉ bắt chuyện với em.

 

“Anh tên Tố, vốn là người luôn sửa chữa, dọn dẹp ngôi nhà này, mà lâu rồi không có ai ở nên xuống cấp nhanh quá. Cô Ánh có nói là em sẽ ở lại đây và muốn làm hài lòng em, nên chiều theo ý của em là tiện nhất. Em muốn sửa chữa, tu bổ hoặc cần đồ đạc gì thì nói trực tiếp với anh là đủ.”

 

Tôi bước lên ban công tầng hai, nhìn xuống hồ như tôi đã từng đứng đây mười năm về trước trong một đêm trăng sáng. Không còn từng bãi trống mọc đầy lau sậy rầm rì tiếng côn trùng than thở. Căn nhà lọt thỏm trước những hàng xóm cao gầy lèn ứ xi măng sắt thép. Đến gió cũng phải lách mình mới lọt qua nổi. Ánh mắt tôi không tự chủ lướt qua từng góc khuất tối cố tìm kiếm đốm sáng nhập nhoè từng múa vũ điệu lân tinh câm lặng của rất nhiều năm về trước. Đom đóm là loài ngủ đông. Lý trí tôi dù lặp đi lặp lại lời này vẫn không thể điều khiển đôi mắt của tôi ngừng đuổi theo. Loại cảm giác phi lý tới bất lực đè nặng lên vai tôi. Nó ở đó, còn nguyên, nằm sâu trong tôi nỗi sợ hãi cận kề cái chết.

 

“Anh”.

Em đứng cạnh tôi từ lúc nào, dè dặt vươn tay không dám chạm. Tựa như em nhìn thấy đôi mắt tôi đang lồi ra nhìn trân trối vào khoảng không, rằng đôi tay tôi bấu mạnh vào lan can sắt cố giữ lấy thứ vũ khí cuối cùng bảo trì sinh mạng. Tôi quay sang và vất nguyên nỗi sợ hãi vào em không hề phòng bị. Mặt tôi đủ kinh hoàng khiến cho em vội lui lại nửa bước. Cái chết tựa như cười nhạo sự ngu xuẩn của một gã yếu đuối như tôi mà lùi ra xa, tự chìm vào bóng tối. Quanh tôi chỉ còn vẻ sững sờ trong mắt em và từng vệt sáng đan xen mà ánh đèn sợi đốt trên cao toả ra. Tôi run rẩy đưa tay lên quờ mặt, che vội đi sự thất thố.

“Xin lỗi em. Anh tự dưng nhớ lại chuyện không tốt”.

 

  

 

 

 

 

CHƯƠNG 6

 

Khi tiền không còn là vấn đề quá nghiêm trọng, tôi bắt đầu nghĩ nhiều hơn tới việc phải làm một điều gì đó khác hơn cho cuộc sống của mình. Và chuyện đi nước ngoài vô tình gieo vào đầu óc của tôi sau một lần nói chuyện với người anh họ, nguyên là con của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục. Năm 1997, mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước tiến thêm một bước quan trọng khi cả hai đã cùng thông qua chương trình hợp tác văn hóa, theo đó mỗi bên sẽ tặng vài suất học bổng cho các sinh viên xuất sắc. Tuy nhiên chỉ có một suất giành cho ngành ngôn ngữ. Theo quan điểm của Iraq lúc đó thì ngôn ngữ các nước nhỏ… được coi là ngôn ngữ “chết” vì chỉ có dân bản địa dùng, không mang tính phổ biến rộng trên thế giới, nhưng chính phủ vẫn muốn gửi sinh viên sang học nhằm đạt tới một tầm quan hệ chính trị rộng và chặt chẽ hơn nữa. Đối với tôi, điều này không khác gì một lối thoát cho cảm giác hoang mang hiện tại và cũng là cơ hội, biết đâu cũng sẽ tạo ra con đường thênh thang hơn cho sự nghiệp sau khi kết thúc khóa học về nước. 

 

Vốn dĩ lúc này tôi đang theo Đại học Văn Hoá buổi tối, nên sau khi suy nghĩ kỹ, tôi nêu nguyện vọng sẽ đăng ký thi để theo ngành ngôn ngữ học tại Châu Á. Không ước vọng đó là thiên đường, tôi chỉ mơ hồ cảm nhận thấy một sự phù hợp nào đó cho mình về một nước ở xứ nhiệt đới. Tôi sang nhà bác nguyên là Bộ trưởng Giáo dục, mong ông giúp đỡ. Nhưng vốn là người khó tính và nguyên tắc, ông ngồi trước tôi, khoanh tay bảo: “Muốn đạt được nó thì thi vào thôi, bác không giúp gì được”. 

 

Tự lực, thì tôi vốn tự đứng trên hai chân mình từ quá lâu rồi, nên điều đấy chẳng còn quá đỗi xa lạ nữa. Cũng chẳng non nớt gì cho cam, tôi nhìn thống kê gần 300 người xin thi vào một cách hờ hững, trong đầu chỉ hiện lên một điều: Tiếp tục. Ừ, nếu cả cuộc đời này có là một cuộc chiến đấu dai dẳng và mệt mỏi đi chăng nữa thì cũng chẳng còn lựa chọn nào khác là phải tiến lên phía trước. 

 

Tôi tập trung ôn luyện cho kì thi và ngay khi môn thi cuối cùng kết thúc thì tôi buông cây bút, thở phào nhẹ nhõm, chỉ muốn nhanh chân bước về nhà. “Học tài thi phận”, không, vận may đôi khi là có thật nhưng nó sẽ chẳng có giá trị gì nếu ta không cố gắng đến cùng. Tôi đã cố gắng đủ rồi, giờ chỉ còn chờ đợi.

 

Một hôm, ba anh em tôi đang ngồi nói chuyện trong nhà thì người chị họ khóc nức nở tìm tới. Nhìn những giọt nước mắt xối xả nhỏ ra trên gương mặt xinh đẹp của người phụ nữ yếu ớt luôn bị chồng đánh vì ghen tuông vô cớ, chúng tôi không thể kìm nén sự phẫn nộ. Với người Iraq, phụ nữ luôn là đối tượng phải được bảo vệ hàng đầu, nhưng bố chị đã mất, anh hai hy sinh trong chiến tranh, anh cả và anh ba đều là tiến sĩ, học quá nhiều, không còn quan tâm tới gia đình, nên coi như nhà không có đàn ông, chị đành qua than thở với chúng tôi. Không nói nhiều, anh cả dẫn chúng tôi đi tìm gã và đánh một trận, bắt gã phải hứa sẽ không bao giờ dám vô cớ đánh vợ như thế nữa. Thế nhưng điều tôi không thể ngờ tới là dù không dám kháng cự cũng như đe dọa vợ nữa, nhưng gã âm thầm bày mưu, giấu vàng của vợ rồi đi báo công an là ba chúng tôi tới gây sự, đánh rồi cướp số vàng đó. Nghiễm nhiên, ngay chiều thứ năm, khi tôi đang ở nhà, công an tới, chẳng thông báo gì, yêu cầu tôi phải theo họ về đồn. Khai xong tên tuổi, địa chỉ, việc làm, quan hệ với người báo mất đồ xong, họ để tôi ngồi lại một mình trong phòng. Như để thị uy, nửa tiếng sau mới có người tới, nhìn chằm chằm vào tôi với cặp mắt đầy đe dọa, gằn giọng hỏi: 

 

“Có biết vì sao cậu lại ở đây không?”

Bỏ mặc những lời giải thích của tôi, hắn ra điệu bộ biết thừa về thói quen chối tội của bọn tội phạm, điềm nhiên gấp sổ tay, bỏ đi. Ngồi một mình và bị trói chặt trong mớ suy nghĩ vòng vo không thoát ra được, tôi đưa ra hàng loạt giả thiết cho chuyện bị bắt của mình, xác lập nguyên nhân, loại bỏ, rồi lại hồ nghi. Tôi chờ đợi trong sự nóng giận và lo sợ, nhưng kết quả vẫn chẳng rõ ràng gì khi chiều muộn hôm đó một tay cảnh sát ra lệnh tạm đưa tôi vào phòng giam vì chính họ cũng chưa có thời gian để xem xét trường hợp của tôi.

 

“Tại sao?”. Tôi hốt hoảng hỏi.

“Mai sẽ biết”.

Tôi suýt nổi khùng lên, mai là thứ sáu, theo đạo Hồi thì phải nghỉ, nên từ “mai” của họ ý là đợi tới thứ 7 mới được giải thích. Thế nhưng họ chẳng thèm đoái hoài gì tới nỗi bất bình của tôi, cũng chẳng trả lời câu hỏi tại sao mà nghiễm nhiên bắt tôi chờ tới thứ tư tuần tiếp theo mới gọi lên để tra hỏi tiếp.

 

“Giờ thì khai hết chưa, hai anh trai mày đâu?”

“Tôi không biết, chắc ở đâu đó thôi”

“Trốn hả”

“Không thể, chúng tôi có phạm tội gì đâu mà phải trốn”

“Thôi đừng cố chối. Ba anh em chúng mày đến tận nhà người ta đánh, rồi còn lấy vàng. Họ trình báo rõ ràng như thế mà vẫn bai bải chối”

“Thưa ngài, không thể buộc tội khống được, tôi đang kể đúng sự thật đã xảy ra cho các ngài đây”.

 

Nhưng dù sự thật của tôi có rõ ràng thế nào thì quy trình làm việc của cảnh sát cũng chẳng vì thế mà thay đổi. Biệt tài lớn nhất của họ là làm cho người vô tội cũng phải hồ nghi vào sự trong sạch của bản thân. Ngay khi biết tin tôi bị bắt, hai anh đã tạm thời giấu mặt.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                          

 

Phòng tạm giam vốn chỉ toàn những người đang trong diện bị nghi vấn giống tôi, thế nhưng như mọi nơi giam giữ khác, nó cũng có ông trùm. Ma mới, nên khi cảnh sát dẫn giải vừa đi khỏi, tôi nhìn quanh quất để tìm chỗ ngả lưng, nhưng ngồi đâu cũng bị đuổi bằng điệu bộ, lời nói và những cái gườm không thân thiện. Cực chẳng đã, tôi lê bước ra ngay sát cửa ra vào, ngồi bệt xuống, lẫn lộn với đống giày dép trong tâm trạng mệt mỏi chán chường, rồi ngủ lúc nào không biết.

 

Thêm một người đàn ông nữa bị tống vào, nồng nặc mùi rượu, nhưng luôn mồm đe dọa sẽ cho những thằng tống giam ông ra đường. Hóa ra ông là họ hàng của một sếp lớn thật, và sáng sớm hôm sau cả phòng giam đã rộn ràng tiếng chửi bới, nạt nộ của lão. Tôi ngao ngán lắc đầu tự nhủ: đúng mình là dân đen rồi.

 

Ngày trôi qua nặng nề, không một dấu hiệu thân thiện nào của căn phòng chứng tỏ tôi đã được họ tiếp nhận. Cứ thấy bóng công an đi qua là tôi lại bật dậy hỏi han dù không ai buồn dừng lại. Tôi không có cảm giác thèm ăn, chỉ muốn được hút điếu thuốc lá để giữ được thăng bằng, nhưng tìm đâu ra thứ hiếm hoi đó ở nơi này. Mặc cho sự chán nản xâm chiếm, tôi ngồi thu lu một mình trong góc. Cách đó không xa hiện diện một người đàn ông có dáng vẻ lười nhác, chỉ nằm khểnh ra, bên cạnh là hai người công an đang massage tay chân. (Ở Iraq, khi công an phạm lỗi cũng bị tạm giam với thường dân chứ không có phòng riêng. Trong trường hợp này, tôi cho rằng họ đã từng có thù oán với lão trùm nên mới phải bấm bụng hầu hạ như thế). Rồi tôi chợt nhận ra gã trùm đang để lòng bàn chân hướng thẳng về phía tôi ngồi, không phải cố tình, cũng không vô ý, đơn giản là gã coi như tôi hoàn toàn chẳng hiện diện trước mặt, dù lão hiểu rõ rằng với người Iraq hành động này thể hiện sự coi thường không thể chấp nhận được. Không lưỡng lự, tôi quay hẳn người về phía lão, rành rọt:

 

“Ông có thể vui lòng để chân về hướng khác được không”.

Sự phản kháng bất ngờ làm lão nghểnh cổ lên, nhìn tôi qua khoảng trống giữa hai bắp đùi.

“Cái gì?”.

“Ông hãy quay chân ra hướng khác, phải đàng hoàng chứ, tôi cũng là người có văn hóa mà”. Tôi nhắc lại.

 

Ngay lập tức, vài khuôn mặt dữ tợn đứng bật dậy, chực nhào vào tôi để trừng trị tội hỗn, nhưng lão gằn giọng:

“Chúng mày dừng lại”. Quay sang phía tôi, lão hất hàm: “Sao, không thích à?”

Tôi thu nắm đấm chờ đợi một trận đòn tập thể, cơ bắp dần cứng lên.

“Vâng, hoàn toàn không thích. Tôi cũng là người chứ, ông hãy bỏ chân ra chỗ khác”

“Mày tên gì?”

“Không cần biết!”

“Tao hỏi thật. Nói. Tên gì”.

“Noor Tahi”

“Ừm, Noor, tới đây và ngồi cạnh tao”

 

Lão chìa cho tôi điếu thuốc, bật lửa và không cần nghĩ ngợi nhiều, tôi đưa lên miệng, rít một hơi. Chỉ còn cảm giác rất thèm hương vị khói thuốc quấn quyện trong lồng ngực lúc này.

“Ể, đừng có hút hết chứ, điếu thuốc này quý lắm đấy, phải chia sẻ cho cả phòng, đó là luật đấy”.

 

Thế rồi chúng tôi nói chuyện, không quá thân mật, cũng không khách sáo, như thể hai thằng đàn ông vị nể nhau. Tôi kể cho ông gần như tất cả về tôi, từ họ hàng, gia thế lẫn những khao khát đang cồn cào trong tôi. 

 

Sinh ra trong một gia đình có xuất xứ không tốt, không chỉ lão mà em trai lão cũng là những tay giang hồ lọc lõi. Thường khi tội phạm bị bắt, cảnh sát sẽ nhốt họ vào một nơi, tra tấn hàng ngày, gọi là đào tạo một tháng để dằn mặt. Lão đã ba lần phải đi đào tạo, nhưng chẳng điều gì thay đổi. Lão nhếch mép thả cho đám khói xám xịt bay ra khỏi kẽ răng. Tuy nhiên, vào lúc này, trong tình cảnh lạ lùng ấy chúng tôi lại trở nên dễ dàng thấu hiểu cho nhau hơn lúc nào hết. Tôi chia sẻ với mọi người ngay cả thức ăn khi gia đình mang vào.

 

Một hôm, mẹ vào thăm tôi, bà sâu kín nói tôi đã đỗ học bổng, đứng đầu toàn khóa. Nhận được tin báo từ mẹ mà tôi chỉ muốn khóc. Làm sao có thể vui mừng nổi khi tôi vẫn đang chôn chân mình trong trại giam này còn thời hạn nhập học thì có hạn. Lòng tôi như lửa đốt. Nếu không nhanh thoát khỏi chốn này thì cơ hội sẽ được trao cho người thứ hai. Nhận ra nỗi rối bời trong mắt con trai, mẹ cầm tay tôi động viên: “Đừng lo, các anh đang cố chạy cho con”. Ừ, cả nhà đều biết tôi khao khát chuyến đi này, nên đều dốc hết khả năng có thể thể tìm cách đưa tôi ra, còn nếu không được thì đành đổ cho số phận. Một số phận với chuyến đi ra nước ngoài trong vinh quanh hay một số phận thiếu ánh sáng trong phòng tạm giam này và luôn bị người khác hồ nghi vì từng có tiền án.

 

Còn anh họ, người đã đẩy tôi vào hoàn cảnh này dường như cũng đang làm hết khả năng có thể để lôi kéo vợ, thậm chí hắn còn trả khoản tiền lớn cho cảnh sát để họ giữ tôi trong trại giam lâu hơn, hòng mong mẹ tôi tạo sức ép, buộc vợ hắn vì sợ hãi mà phải về nhà. Hắn vì tình yêu lệch lạc, còn tôi là khát vọng thanh xuân, dường như cả hai đều đang mong chờ một thứ may mắn không biết rõ là gì rơi xuống. Nhưng tôi có hai người anh ruột và họ đã trốn thoát khỏi cuộc vây bắt của cảnh sát, nên tôi chẳng lạ gì khi được tin báo là họ lần nữa quay lại và đánh tên anh họ một trận tơi bời. Chuyện dần bung bét và cuối cùng những người vai vế nhất trong dòng họ tôi cũng biết. Với một họ lớn như Al-Mashhadany thì việc một người cháu vô cớ bị ngồi tù chẳng khác gì xúc phạm cả dòng họ, nên không chỉ gia đình tôi mà các bậc chức sắc cũng vào cuộc. Họ tới làm việc với cảnh sát, nhưng phía cảnh sát thì chưa thể tha ngay được nếu không có một lý do nào đó. Và không nói cũng biết gã kia đã bị cả họ hàng tới đe dọa. “Tôi chỉ muốn vợ quay về”, gã lý nhí nói nhưng không còn ai quan tâm nữa, với người Iraq, danh dự là tất cả. 

 

Đã hai tuần. Tôi không hiểu điều gì đang diễn ra với cuộc đời mình. Những con người khốn khổ đã sống với tôi suốt hai tuần liền ở đây, những đôi mắt xa lạ thoảng hoặc lại ném về phía tôi một ánh nhìn run rẩy. Thời khắc chậm rãi trôi qua. Khung cửa sắt nhỏ với những chấn song nhà tù tựa như lời phán quyết cho tương lai chưa rõ ràng này. Đứng đầu trong danh sách gần 300 người tham gia kỳ thi, tôi đã đỗ học bổng và đã có tấm vé sang Việt Nam. Nhưng cái cánh cửa bước sang đất nước nhỏ bé ấy giờ đây đang bị từng thanh sắt bằm nát. Tựa như vết thương ngưng chảy máu chưa lâu, và tôi lại tự tay cào làm nó thêm hoen rỉ. Có giấc mơ xa lạ nào đó về một vùng đất nhiệt đới thì thào liên tục bên tai. Đau đớn, bấn loạn, tuyệt vọng. Tất cả chạy hỗn loạn bên trong cái vẻ ngoài to lớn, kiên định. Đưa hai tay lên đầu, tôi thầm kêu: “Lạy Thánh Allah, con đã làm gì”.

 

Tiếng giày đinh gõ lộp cộp dọc hành lang, tới gần và dừng lại. Tiếng chìa tra vào ổ khóa tanh tách. Xạch. Cánh cửa phòng giam bật mở, hắt chùm ánh sáng đèn nê ông vào căn phòng vàng bủng. Tay cảnh sát đảo mắt một vòng, nhìn thẳng vào tôi và nói: “Noor, anh được tự do”.

 

“Tao biết chuyện sẽ thế này mà, chả có gì ngáng chân được mày đâu”.

Gã giang hồ vỗ bộp vào vai làm tôi hoàn hồn lại. Tôi biết may mắn đã trở lại trong lòng bàn tay rồi.

“Tôi sẽ quay lại đây thăm mọi người với những món ăn hạng nhất đấy. Chờ nhé”.

“Ờ. Được thế thì khoảng một tháng nữa. Tao bị đưa đi chơi xong thì mày đến thăm tao nhé. Nhớ đấy, tao thèm một tảng thịt cừu nướng chảy mỡ, mà phải nguyên khối”. 

“Hứa chắc”.

Phạm Ngọc Lương
* Còn tiếp những kỳ sau



 







Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Mười Hai 20253:41 CH(Xem: 9576)
Từ tháng 5/2023 đến cuối năm 2025, kênh đào Funan Techo – dự án biểu tượng dân tộc Khmer do hai cha con Hun Sen và Hun Manet quyết liệt thúc đẩy – đã chính thức bước vào giai đoạn thi công thực địa, với sự tái khẳng định tài trợ 1,7 tỷ USD từ Trung Quốc. Dài 180 km, lấy nước trực tiếp từ cả hai phân lưu chính của sông Mekong (đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu), con kênh không chỉ khó đạt được mục tiêu rút ngắn lộ trình và giảm chi phí vận tải như Cam Bốt tuyên truyền, mà còn có nguy cơ: (1) làm suy giảm nghiêm trọng lưu lượng nước mùa khô về hạ lưu, (2) chặn đứng phù sa, (3) đẩy nhanh xâm nhập mặn sâu thêm hàng chục kilômét, (4) đe dọa trực tiếp sinh kế của hơn 20 triệu cư dân Đồng bằng sông Cửu Long.
11 Tháng Mười Hai 20254:55 SA(Xem: 9800)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
10 Tháng Mười Hai 20257:12 CH(Xem: 15159)
Mùa thu sao lại buồn như cỏ / Trong gió hiu hắt buổi chợ chiều / Tôi trở về đây sau cơn lũ / Nghe hồn còn ngập nỗi cô liêu.
08 Tháng Mười Hai 20258:55 CH(Xem: 11446)
Câu chuyện phim giản dị diễn ra ở một khu chung cư cũ ở Sài Gòn vào thập niên 1980. Hai nhân vật chính: 1. Kỳ Nam, nguyên nữ sinh trường Tây và là vợ góa của một sĩ quan tâm lý chiến quân đội VNCH, từng nổi tiếng trên báo chí và truyền hình về tài dạy nữ công gia chánh. Sau 1975, trong căn bếp nhỏ tại Chung cư, Kỳ Nam sinh sống bằng việc nấu cơm tháng và có lúc nấu cả cỗ cưới; 2. Khang - người thuê nhà mới, một chàng trai đang nhận dịch lại tác phẩm “Hoàng tử bé” của nhà văn phi công Pháp Saint–Exupéry, sau bản dịch của thi sĩ Bùi Giáng đã xuất bản tại Sài Gòn trước 1975… Giữa những bề bộn đời sống, vượt lên tâm lý thóc mách, đố kỵ, ghen ăn tức ở của hàng xóm, Kỳ Nam và Khang đã đến với nhau trong sự đồng cảm thầm lặng mà sâu sắc – một thứ tình cảm cao hơn tình yêu trai gái thông thường…
08 Tháng Mười Hai 20258:05 CH(Xem: 13748)
Dã quỳ vàng giữa heo may / Thầm thì nắng sớm hong ngày yêu thương / Đồi cao gió quyện mờ sương / Hoa nghiêng lối nhỏ, vấn vương gót hài
08 Tháng Mười Hai 20257:59 CH(Xem: 10734)
Hồi còn nhỏ tôi thích nhất là được đi chùa với bà Nội. Lớn lên tí nữa tôi cũng thích đi chùa. Và sau này tôi không còn trẻ nữa tôi vẫn thích đi chùa nhưng thường tự đi chỉ một mình. Nơi tôi đến đó là chùa Long Khánh Qui Nhơn, nhưng chẳng phải đến để tu tập đâu mà đến chỉ để tìm khoảng không gian yên tĩnh chỉ có ở cảnh chùa.
08 Tháng Mười Hai 20256:59 CH(Xem: 11840)
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (*). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness (397 trang; 25 chương đánh số từ 1 đến 25; Nhà Xuất bản Penguin Press, New York, 2025) . Tác phẩm mới nầy nhanh chóng được các danh sách uy tín của Amazon xếp vào một trong những cuốn sách được mong chờ nhất trong năm 2025(**) và xác nhận Ocean Vuong đã chuyển từ “ngôi sao mới của thơ ca” thành “một trong những giọng văn triển vọng của thế kỷ XXI”.
26 Tháng Mười Một 202511:38 CH(Xem: 13905)
Quê nhà cơn lũ / Em tôi/ Mẹ ôm con lạy giữa đồi mưa bay / Con sông cuộn xác / Cha gầy / Những đồi đất chảy / Đã dày nỗi oan
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 11420)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
26 Tháng Mười Một 202510:59 CH(Xem: 9785)
Có một lần, ăn một món ăn giống ngày xưa mình đã từng ăn, nên thấy nhớ mẹ, mình viết lên facebook "Món ăn mẹ nấu". / Một anh bạn trên face còm vào bảo mình rằng: "Sao cứ phải là món ăn mẹ nấu? ai cũng cứ rập khuôn rằng chỉ có mẹ mới có món ăn để con cái nhớ. Sao lại không là ba kia chứ". Mình buồn cười về cách dỗi của anh bạn ấy song điều đó cũng làm mình nghĩ lại.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3816)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13279)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19646)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18619)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1612)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1760)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2280)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2395)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1440)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2203)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1941)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1987)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1361)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2387)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2598)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2361)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 234)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 789)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 988)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1100)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6399)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15878)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38853)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1469)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6892)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10662)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9868)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9995)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10786)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3435)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11148)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10350)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi