LTS: Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu những thi phẩm của thi sĩ Nguyễn Hữu Thụy, từ “PHÂN ĐOẠN CUỘC ĐỜI” cho đến “THƠ - VỚI THƠ ĐẦU NĂM” sẽ đưa chúng ta đi qua thời gian và không gian của một đời thơ, cùng thân phận của người dân khốn khó trong những ngày chiến tranh để có hòa bình trên quê hương hôm nay. “Tìm đường sống chính trong cái chết
Biết giặc là ai lộ mặt người !” Thân mời quí bạn cùng vào cõi thơ của Nguyễn Hữu Thụy.
Tạp Chí Hợp Lưu
Nguyễn Hữu Thụy
PHÂN ĐOẠN CUỘC ĐỜI
Mẹ hiền rứt ruột đẻ ra ta Cái tên như hoa ngời ngời đẹp Đứa con đầu lòng nơi xó bếp Thời chống Tây chạy giặc lên non
Trung Phước đưa nôi gần năm tròn Bầu sữa Mẹ no tình nghèo khó Sau hòa bình cõng ta lội bộ Về quê Cha khoai sắn dâu tằm
Những ngày vui cũng chừng mười năm Từ Trường Sơn quân...tràn xuống tới Lụt theo sau xác người trôi nổi Mẹ tay bồng tay xách lìa quê
Vượt tuyến qua sông bỏ lại ghe Đạn réo sau lưng ngày bái biệt Tìm đường sống chính trong cái chết Biết giặc là ai lộ mặt người !
*****
Thương ta thằng nhóc mặc quần đùi Đu xe đò Phi Long Tiến Lực Đà Nẵng ôm ta trong lòng ngực Đông Giang ấp yêu ngày lớn khôn
Trại tạm cư che mái nhà tôn Trời An Hải định danh tị nạn Trông về quê hút xa tầm đạn Mà lòng con trẻ mãi ngùi thương
Mồ côi Cha trong Tết Mậu Thân Chuột dưới hang trồi lên thành phố Giữa trời Xuân rền vang tiếng nổ Hương hồn tử sĩ khóc đưa tang
Mẹ ta lần từng bước gian nan Nuôi con chữ thi đâu đậu đó Bàn chân non vết ruồi son đỏ Đen bụi chì thượng lộ đi Nam
*****
Đất Sài Gòn như cục nam châm Hút tất cả vàng thau lẫn lộn Từ máy bay trên trời nhìn xuống Ta rơi theo hòn sạn trượt dài
Không đủ tâm đủ lực đủ tài Bỏ bút giữa chừng đeo súng ngắn Mở khóa an toàn ta lên đạn Bắn chỉ thiên vào cuộc chiến tranh
Cuộc chiến tranh mưa máu gió tanh Ngưng chiến da beo - phân ranh giới Người anh em quá đà xông tới Bỏ phiếu bằng chân máu nhuộm đường
Đi đêm với Tàu - thằng Mỹ buông Bứt tử bạn mình từng thề thốt Tất cả tan hàng xe...pháo...tốt Loạn cào cào ba mươi tháng Tư
*****
Phủ đầu Rồng trí thức sĩ phu Sao trắng Mai vàng và lính lác Nghe anh Núi lên đài ca hát Nối ( vòng tay )... một bản nhạc buồn
Đã chịu thua sao được nói hơn Không tuẩn tiếc - đeo càng - vượt biển Thì nín nhục im hơi lặng tiếng Lên rừng nhổ cỏ mới cho tha
Phân đoạn cuộc đời mấy ngã ba Có ngã cụt đi hoài không tới Kẻ tin bước - hụt chân chới với Ta ngờ - lạc vận cả đời thơ
Nhờ ơn trên sống được tới giờ Trời một cỏi lấy khôn làm dại Đem tình người với nhau đối đãi Ở tới già đầu những dấu yêu .
Sàigòn không ngày tháng .
XƯA RỒI DIỄM tặng hồthịxuândiễm nguyễn hữu thụy
Có một điểm mù trong trí nhớ Nằm yên trốn kỷ mấy mươi năm Và cuộc tình xưa còn ở đó Trong quỷ thời gian chết lặng thầm
Ngưòi đã vượt qua khung trời lạ Cá đã tung lờ biệt chốn quê Tự do - cuối cùng là tất cả Đổi hết thanh xuân - thoát bóng đè
Đã xưa rồi Diễm - xưa rồi thực Ta hổ thẹn mình chẳng trượng phu Ghế đá công viên nằm thao thức Nhà cửa hai ta xa mịt mù
Nhà của hai ta đều chiến bại Đứng đầu danh sách...gặp nhau đây Tội Cha(?)di họa đời con cái ! Ngộp nước đồng chua phải rã bầy
Yêu nhau chịu phận cùng oan nghiệt Rồi ra không đủ sức gánh gồng Lẳng lặng chia xa là chấm hết Mỗi phận đời riêng mỗi nhánh sông
Người đã tếch sang trời Mỹ đế Thực tế buồn ơi với mộng mơ Cứu cánh biện minh...mà quá tệ Facebook thấy rồi lại ngó lơ (!)
Xóa sổ đời nhau vùi ký ức Tâm tưởng chỉ còn nhớ cái tên Không thể ghép vần Song Hỷ được Mỗi lòng giấu kín nỗi niềm riêng
Đã xưa rồi Diễm xưa rồi Diễm Vọng khúc ca buồn Trịnh... Diễm Xưa Kết thúc nhạc phim Chân Trời Tím
Đã biết đôi đưòng nắng khác mưa .
Sài gòn 1987 - 2019 .
TỎ LỜI CÙNG NHỮNG DÒNG SÔNG
nguyễn hữu thụy
Đất nước bao đời ở với dòng sông Từ ngày khai thiên đến thời kỳ lập quốc Những dòng chảy mang đầy tiềm lực Có linh hồn và hơi thở thiêng liêng
Những dòng sông như dòng máu tổ tiên Thân lúa nước oằn mình trong giông bảo Từ Việt bắc đến đồng bằng Trung bộ Từ Cao nguyên tới đất mủi Cà mau
Những dòng sông đã nối tiếp nhau Căng no gió thuyền buồm xuôi ra biển Đã bồi lở nổi chìm bao trận chiến Giữ cho còn tên gọi một quê hương
Từ sông Hồng đến dòng cuối Cửu Long Thắt ruột Thu Bồn ta trôi bỏ xứ Nay uống nước Đồng Nai thấm câu Tục ngữ Uống nưóc nhớ nguồn - trong nỗi xót xa
Chận đầu Mêkông - ứ máu phù sa Nam bộ phơi đồng chín cửa rồng bức tử Mùa giáp hạt dân Vu Gia - quê ta - chạy lũ Sông ơi sông tai biến tự bao giờ
Thương con đò tĩnh lặng bức tranh thơ Cạn lỗ chân trâu khát ao hồ đuối nước Vườn muối mặn đã từ từ xâm thực Những nghịch thường cứ đổ tội thiên tai
Lời tỏ cùng sông thương nhớ dặm dài Nứt nẻ những bàn chân cầu Trời khẩn Phật Thân cóng lạnh trôi dài trên mặt đất Đến tận cùng khổ nạn vận sông quê .
S.gòn mùa nắng hạn 2020
LỤC BÁT SÀI GÒN
nguyễn hữu thụy
Không đâu như đất Sài gòn Một thời nổi tiếng là hòn Viễn Đông Trui qua lửa đỏ bụi hồng Phai tên lạc tuổi từ trong lỗi lầm
Ngọc nay như cục máu bầm Trên thân thể Mẹ những trầm tích đau Lún dần dưới đáy biển dâu Nghe xưa cổ tích - biết đâu bây giờ !
Nhịp đời đứt gảy câu thơ Nhện giăng giăng những đường tơ võng buồn Những ai tan nát Sài gòn Lượm lên nỗi nhớ vẫn còn nghe thơm
Mồ hôi ướt vã linh hồn Tiểu đêm trở giấc chập chờn đái mơ Tang Thương Ngẫu Lục đội mồ * Chuyện xưa tích cũ ứng vào bấy nay
Sài gòn khéo vổ trắng tay Biên niên sử lệch đường ngay nẻo về Liêu xiêu người ngợm bóng đè Rớt ta đứng lại bên lề thời gian
Cổi gìa một dấu chấm than ! Thiêng liêng giọt lệ thấm tan cõi lòng Thủy chung trời đất ở cùng Tình người yêu mến tương đồng nếp xưa .
S.gòn 2020
* Một tác phẩm của Phạm đình Hổ và Nguyễn Án - nội dung ghi chép tình cờ trong cuộc bể dâu - thời Lê mạt và Nguyễn sơ - cuối tk18 và đầu tk 19 tại vn .
BÂY GIỜ TÔI NHỚ ...
nguyễn hữu thụy
Hình như tôi nhớ là tôi đã Mất tuổi thanh xuân lỡ cuộc tình Bây giờ tôi nhớ thì tôi đã Thấy Nguyệt rằm xưa sáng hiển linh
Tôi của ngày xưa vai áo bạc Phận đời vận nước cứ lênh bênh Sống với đớn hèn thương rách nát Ngày tàn chiến bại phải không em
Tôi của ngày xưa đi biệt xứ Có nhà còn Mẹ cũng đành xa Đất hứa không dung người lữ thứ Lòng lành Chúa nhận phất tay qua
Tôi của ngày xưa thơ xác tín Nỗi buồn chính nghĩa sáng như gương Đi với tương lai ngày vô định Yêu với tình yêu lạc mất đường
Chẳng trách gì ai tình tận số Chân phương còn lại chữ Tâm này Phơi trắng thời gian màu tím - đỏ Hai sắc buồn như hoa - như mây
Nguyệt Ửng Rằm Trăng đêm cổ tích Chiếu xuống trần gian độc nỗi niềm Thấy cả hồn tôi trong tỉnh mịch Ấm lại hơi sương dịu lá mềm
Cứ tưởng xa biệt tăm mất dạng Tôi với trăng khuya khuyết tuổi già Đã thấy bên kia bờ Nguyệt rạng Đêm hằng minh rọi bóng Sala .
Ta vẫn hồ nghi trong thơ có thép Chẳng thép nào xúi dại phải làm thơ Hình tượng bây giờ mấy đứa bưng bô Chưa kịp xung phong đã chết bờ chết bụi
Ta thương Em thơ mềm như lụa mới Đôi khi buồn nước mắt cũng tan theo Không cờ bay trống gióng mị lời yêu Xin sống mãi với tâm hồn thi sĩ
Ta thương Nước dặm dài bao thế kỷ Chở ca dao nhịp võng Mẹ ru hời Nghe tiếng thoi đưa bóng hạc bỏ xa trời Thơ yêu nước nồng nàn nuôi ta lớn
Không lẫn vào đâu dù vàng thau lẫn lộn Nghìn độ trui trên biển lửa hung tàn Khép mắt xanh : bụi cốt tro than Thơ đã định hình bay theo hồn phách
Những thần tượng giã danh nay chết sạch Bóng thi hào cũng đổi họ thay tên Còn chính là thơ sống sót với dân đen Với những hồng nhan ta từng yêu lận đận .
Tôi là kẻ lọc lừa. Từ bé, tôi đã lừa những đứa trẻ khác để lấy đồ chơi của chúng. Đến tuổi đi học, tôi lừa thầy, phản bạn. Tôi gạt gẫm cả cha mẹ, anh em. Đi đâu tôi cũng được ưu đãi vì cái bề ngoài hào nhoáng của mình.
Nhìn những mảnh gương vỡ và cái khung mạ vàng nằm dưới đáy thùng rác trong góc phòng tắm, Thúy không cảm thấy một mảy may tiếc nuối. Cái gương nhỏ này là món quà đầu tiên Dave tặng khi mới quen.
Sáng hôm nay ông Năm nhấp nhỏm ngồi đứng không yên. Hết ngồi xuống lại đứng lên. Ông bước chầm chậm lại gần cửa kiếng lớn phía sau nhà, nghiêng mình nhìn xéo qua cái hàn thử biểu để ngoài trời. Ông nhướng mắt rán nhìn cái màu đỏ của thuỷ ngân, coi nó lên xuống tới mức nào. Có thấy gì đâu, cái lằn đỏ nhỏ xíu, lờ mờ.
Hai mươi nhăm năm. Một phần tư thế kỷ. Khi nhìn lại chặng đường vừa qua của văn học Việt Nam, người ta nhận thấy do một tình cờ, một định mệnh hay một thần giao cách cảm ...
Gió vi vu làm nền cho lời ca thánh: ...”Nhờ công ơn lân tuất của Chúa ta, Đấng đã từ cao cho 'Mặt trời mọc' đến thăm viếng. Và soi sáng cho những ai còn ngồi trong u tối và trong bóng chết, để dắt chúng ta trên con đường an lạc.
Hai mươi nhăm năm. Một phần tư thế kỷ. Khi nhìn lại chặng đường vừa qua của văn học Việt Nam, người ta nhận thấy do một tình cờ, một định mệnh hay một thần giao cách cảm ...
Sáng hôm nay ông Năm nhấp nhỏm ngồi đứng không yên. Hết ngồi xuống lại đứng lên. Ông bước chầm chậm lại gần cửa kiếng lớn phía sau nhà, nghiêng mình nhìn xéo qua cái hàn thử biểu để ngoài trời. Ông nhướng mắt rán nhìn cái màu đỏ của thuỷ ngân, coi nó lên xuống tới mức nào. Có thấy gì đâu, cái lằn đỏ nhỏ xíu, lờ mờ.
Thạnh móc trong túi ra một miếng vải được buộc túm chặt bằng lạt tre, cẩn thận gỡ sợi lạt. Một dúm muối hột đen bẩn hiện ra. Thạnh trân trọng, nâng niu múc, vừa chẵn được hai thìa, đổ vào bát của Tường.
Dực đã đi rất đỗi nhẹ nhàng. Dực đang chỉ chạm khẽ mũi giầy vào bậc thang gỗ. Cảm giác Dực đang bay. Bậc cầu thang nâu bóng mầu thời gian, nâu bóng rêu phong những kiếp người hình trôn ốc. Có người đang nhìn Dực, nhiều người đang nhìn Dực. Họ kinh ngạc trân trối ngóc đầu lên những bậc cầu thang gỗ.
Chồng tôi hành nghề kỳ quặc: Kiểm tra trí nhớ của con người. Lấy anh tôi mới khám phá, anh thường xuyên theo dõi những giấc mơ của mình. "Em có thai phải không?" Sau tháng đầu tiên Công đã dọ hỏi. Tôi lắc đầu tươi tỉnh. Giấc mơ đêm khuya còn sáng hồng bụ bẫm bắp chân hài nhi. Tôi biết chắc tôi chưa có mang, nhưng làm sao Công biết tôi đã nằm mơ thấy đứa trẻ? Sáu tháng hạnh phúc trôi qua như gió hắt mặt hồ.
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./
Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên /
Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Bữa nay tôi khóc tôi la /
Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình /
Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình /
Thì Trời cũng đã trở thành già nua” /
Tưởng như lời nói bông đùa /
Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung /
Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng /
Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi
Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao
Bữa nay là bữa hôm nào
Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi
Hôm nào cũng có mây trôi
Không trôi chân đất thì trôi chân trời
Lập đi lập lại ba hồi
Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du…
Thân như mây… nổi giữa sương mù…
Dấu xưa cát phủ dần năm tháng
Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu
Gửi mộng theo trăng qua bể vắng
Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác.
Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra:
- Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều.
- Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi.
Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em.
– Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình.
Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh.
Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng.
Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn.
Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh.
Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi.
Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội.
Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới.
Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh?
-Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi.
Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975.
Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức:
(1) phê phán gay gắt phía đối lập,
(2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc
(3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải.
Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ.
TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy.
Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông?
Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật.
Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
<div class="nw_box_list_brief nw_boxing_padding"><div class="pl_list pl_list_col_1" role="list"><div class="pl_row pl_row_1 pl_row_first"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4534" class="pl_content pl_content_first" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="ÂM BẢN VÀ DƯƠNG BẢN (phần 1)" class="pl_atitle" href="/p134a4534/am-ban-va-duong-ban-phan-1-">ÂM BẢN VÀ DƯƠNG BẢN (phần 1)</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 6111)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="ÂM BẢN VÀ DƯƠNG BẢN (phần 1)" class="nw_image" itemprop="url" href="/p134a4534/am-ban-va-duong-ban-phan-1-" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/Bt3AsNnT3ggBAnYX/w150/am-ban-va-duong-ban.png" title="am-ban-va-duong-ban" alt="am-ban-va-duong-ban" width="120" height="180" data-info="1024,1536"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/Bt3AsNnT3ggBAnYX/w150/am-ban-va-duong-ban.png" title="am-ban-va-duong-ban" alt="am-ban-va-duong-ban" width="120" height="180" data-info="1024,1536"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/Bt3AsNnT3ggBAnYX/w150/am-ban-va-duong-ban.png"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="180"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN" href="/author/post/1626/1/mai-an-nguyen-anh-tuan">MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ…
Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="ÂM BẢN VÀ DƯƠNG BẢN (phần 1)" href="/p134a4534/am-ban-va-duong-ban-phan-1-"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2026-06-26"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div><div class="pl_row pl_row_2 pl_row_last"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="3114" class="pl_content" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="Đẻ sách (trích tiểu thuyết) - Kỳ 1" class="pl_atitle" href="/p134a3114/de-sach-trich-tieu-thuyet-ky-1">Đẻ sách (trích tiểu thuyết) - Kỳ 1</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 45314)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="Đẻ sách (trích tiểu thuyết) - Kỳ 1" class="nw_image" itemprop="url" href="/p134a3114/de-sach-trich-tieu-thuyet-ky-1" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/_UtFkRwV1ggBAEVj/w150/de-sach.jpg" title="de-sach" alt="de-sach" width="120" height="176" data-info="308,451"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/_UtFkRwV1ggBAEVj/w150/de-sach.jpg" title="de-sach" alt="de-sach" width="120" height="176" data-info="308,451"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/_UtFkRwV1ggBAEVj/w150/de-sach.jpg"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="176"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="ĐỖ QUYÊN" href="/author/post/1615/1/do-quyen">ĐỖ QUYÊN</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Rất khó kiểm chứng câu thơ đầu “Bàn tay ta làm nên tất cả”, nếu không có câu kế “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Chúng ta nên đọc lời ai điếu cho hai chữ “tất cả”. Đáng lẽ câu thơ đầu, với hai chữ này đã trở thành lời thách đố mênh mang bất định cho nhân loại sau hậu, nếu không có câu thơ sau. Tiếc! Đây là hai câu thơ không nên vợ nên chồng nhất trong các cặp đôi thơ hay.</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="Đẻ sách (trích tiểu thuyết) - Kỳ 1" href="/p134a3114/de-sach-trich-tieu-thuyet-ky-1"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2018-09-07"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div></div></div>
<div class="nw_box_list_brief nw_boxing_padding"><div class="pl_list pl_list_col_1" role="list"><div class="pl_row pl_row_1 pl_row_first"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4587" class="pl_content pl_content_first" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="Đọc TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm - CUỘC LỮ ĐI TÌM BẢN THỂ CON NGƯỜI" class="pl_atitle" href="/p137a4587/doc-ta-la-cua-nguyen-huu-liem-cuoc-lu-di-tim-ban-the-con-nguoi">Đọc TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm - CUỘC LỮ ĐI TÌM BẢN THỂ CON NGƯỜI</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 1053)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="Đọc TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm - CUỘC LỮ ĐI TÌM BẢN THỂ CON NGƯỜI" class="nw_image" itemprop="url" href="/p137a4587/doc-ta-la-cua-nguyen-huu-liem-cuoc-lu-di-tim-ban-the-con-nguoi" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/7EYRq-Us3wgBADE4/w150/bia-sach-ta-la-nhl.jpg" title="bia-sach-ta-la-nhl" alt="bia-sach-ta-la-nhl" width="120" height="181" data-info="388,586"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/7EYRq-Us3wgBADE4/w150/bia-sach-ta-la-nhl.jpg" title="bia-sach-ta-la-nhl" alt="bia-sach-ta-la-nhl" width="120" height="181" data-info="388,586"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/7EYRq-Us3wgBADE4/w150/bia-sach-ta-la-nhl.jpg"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="181"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="Lê Thọ Bình (Hà Nội)" href="/author/post/1826/1/le-tho-binh-ha-noi-">Lê Thọ Bình (Hà Nội)</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="Đọc TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm - CUỘC LỮ ĐI TÌM BẢN THỂ CON NGƯỜI" href="/p137a4587/doc-ta-la-cua-nguyen-huu-liem-cuoc-lu-di-tim-ban-the-con-nguoi"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2026-10-19"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div><div class="pl_row pl_row_2 pl_row_last"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4581" class="pl_content" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="TA LÀ — KHI CÁI TÔI ĐỨNG DẬY TRƯỚC QUYỀN LỰC" class="pl_atitle" href="/p137a4581/ta-la-khi-cai-toi-dung-day-truoc-quyen-luc">TA LÀ — KHI CÁI TÔI ĐỨNG DẬY TRƯỚC QUYỀN LỰC</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 1412)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="TA LÀ — KHI CÁI TÔI ĐỨNG DẬY TRƯỚC QUYỀN LỰC" class="nw_image" itemprop="url" href="/p137a4581/ta-la-khi-cai-toi-dung-day-truoc-quyen-luc" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/7EYRq-Us3wgBADE4/w150/bia-sach-ta-la-nhl.jpg" title="bia-sach-ta-la-nhl" alt="bia-sach-ta-la-nhl" width="120" height="181" data-info="388,586"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/7EYRq-Us3wgBADE4/w150/bia-sach-ta-la-nhl.jpg" title="bia-sach-ta-la-nhl" alt="bia-sach-ta-la-nhl" width="120" height="181" data-info="388,586"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/7EYRq-Us3wgBADE4/w150/bia-sach-ta-la-nhl.jpg"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="181"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="Minh Hạo" href="/author/post/1803/1/minh-hao">Minh Hạo</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ.
TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy.
Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông?
Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="TA LÀ — KHI CÁI TÔI ĐỨNG DẬY TRƯỚC QUYỀN LỰC" href="/p137a4581/ta-la-khi-cai-toi-dung-day-truoc-quyen-luc"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2026-10-18"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div></div></div>
<div class="nw_box_list_brief nw_boxing_padding"><div class="pl_list pl_list_col_1" role="list"><div class="pl_row pl_row_1 pl_row_first"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4506" class="pl_content pl_content_first" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="MỘT BÀI THƠ DỊCH, 114 NĂM SAU KHI BÀI THƠ GỐC RA ĐỜI." class="pl_atitle" href="/p135a4506/mot-bai-tho-dich-114-nam-sau-khi-bai-tho-goc-ra-doi-">MỘT BÀI THƠ DỊCH, 114 NĂM SAU KHI BÀI THƠ GỐC RA ĐỜI.</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 11753)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="MỘT BÀI THƠ DỊCH, 114 NĂM SAU KHI BÀI THƠ GỐC RA ĐỜI." class="nw_image" itemprop="url" href="/p135a4506/mot-bai-tho-dich-114-nam-sau-khi-bai-tho-goc-ra-doi-" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/vOK3LmeC3ggBALFF/w150/tam-vong-2.jpg" title="tam-vong-2" alt="tam-vong-2" width="120" height="90" data-info="1077,808"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/vOK3LmeC3ggBALFF/w150/tam-vong-2.jpg" title="tam-vong-2" alt="tam-vong-2" width="120" height="90" data-info="1077,808"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/vOK3LmeC3ggBALFF/w150/tam-vong-2.jpg"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="90"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="Guillaume Apollinaire" href="/author/post/1820/1/guillaume-apollinaire">Guillaume Apollinaire</a></li><li class="sep">, </li><li class="item" itemprop="author"><a title="Trần C. Trí chuyển ngữ" href="/author/post/1675/1/tran-c-tri-chuyen-ngu">Trần C. Trí chuyển ngữ</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời.
LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912
DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="MỘT BÀI THƠ DỊCH, 114 NĂM SAU KHI BÀI THƠ GỐC RA ĐỜI." href="/p135a4506/mot-bai-tho-dich-114-nam-sau-khi-bai-tho-goc-ra-doi-"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2026-03-15"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div><div class="pl_row pl_row_2 pl_row_last"><div class="pl_row_c"><div class="pl_col pl_col_1" style="width:100%" role="listitem"><div role="figure" itemscope itemtype="http://schema.org/Article" data-id="4505" class="pl_content" itemref="meta_publisher mt_entitypage"><div class="pl_title"><h2 itemprop="name headline"><a itemprop="url" target="_self" title="MALL OF AMERICA" class="pl_atitle" href="/p135a4505/mall-of-america">MALL OF AMERICA</a></h2></div><span class="pl_view">(Xem: 11972)</span><div class="pl_thumbnail"><div class="pl_thumbnail_border"><a target="_self" title="MALL OF AMERICA" class="nw_image" itemprop="url" href="/p135a4505/mall-of-america" style="width:120px;"><img class="imglazy" src="/images/site/blank.png" data-original="/images/file/CxJFTWCC3ggBAKAE/w150/mall-of-america.jpg" title="mall-of-america" alt="mall-of-america" width="120" height="57" data-info="577,275"><noscript><img itemprop="thumbnailUrl" src="/images/file/CxJFTWCC3ggBAKAE/w150/mall-of-america.jpg" title="mall-of-america" alt="mall-of-america" width="120" height="57" data-info="577,275"></noscript><div itemprop="image" itemscope itemtype="https://schema.org/ImageObject"><meta itemprop="url" content="/images/file/CxJFTWCC3ggBAKAE/w150/mall-of-america.jpg"><meta itemprop="width" content="120"><meta itemprop="height" content="57"></div></a></div></div><ul class="pl_author"><li class="item" itemprop="author"><a title="SUZANNE WANG" href="/author/post/1819/1/suzanne-wang">SUZANNE WANG</a></li><li class="sep">, </li><li class="item" itemprop="author"><a title="Phan Tấn Uẩn chuyển ngữ" href="/author/post/1818/1/phan-tan-uan-chuyen-ngu">Phan Tấn Uẩn chuyển ngữ</a></li></ul><div class="pl_brief" itemprop="description">. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024.
Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.</div><div class="pl_readmore"><a itemprop="url" target="_self" title="MALL OF AMERICA" href="/p135a4505/mall-of-america"><span class="icon"></span>Đọc thêm</a></div><time itemprop="datePublished dateModified" datetime="2026-03-14"></time><div class="clear"></div></div></div></div><div class="clear"></div></div></div></div>
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật.
Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa.
Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ /
Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô /
Người thua trận chót đền trăm tuổi /
Ta gánh thù sâu chốn hải hồ /
Những tưởng mười năm đời sáng lại /
Ta về bươi kiếm miểng xương khô /
Vét hết oan khiên người lỡ vận /
Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam.
Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga:
Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn /
Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam /
Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.