- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Hà-Nội Nửa Đêm

02 Tháng Tư 202212:34 SA(Xem: 36842)

Hà-Nội Nửa Đêm

                                                                       Nguyễn Công Khanh

 

HaNoi1

Tháp Rùa và nhà Thủy Tạ phía xa

 

Chưa có một bài thơ nào cho tôi thấy cả tuổi thơ Hà Nội của tôi như bài thơ “Chia Tay Hà Nội” của Trần Mộng Tú:



Em gửi cho anh
chiếc lá bàng cuối thu Hà
Nội
hồi chuông giáo đường
buổi sớm tinh mơ
góc phố Nhà Chung có bầy sẻ nhỏ
một con rất gầy
đứng hót ngu ngơ

Em gửi cho anh
tơ tầm mới dệt
giăng từ Hàng Đào đến phố Hàng Bông
khúc lụa trắng ngả sang
mầu nguyệt bạch
sợi dệt ngang như mây vắt
trăng rằm

Em gửi cho anh
ly cà phê buổi tối
mùi ngô non
nướng dưới cột đèn
mảnh than nhỏ sưởi mùa thu
sắp hết
hơ gót chân ai
hồng giữa phố đêm

Em gửi cho anh
chiếc kiềng bạc trạm
đang khoe mình
làm mới phố Hàng Gai
ảnh mẹ chụp mấy mươi năm về trước
cổ có đeo
một chiếc giống thế này

Em gửi cho anh
đất trời Hà
Nội
để anh nhớ về thành phố
tuổi thơ
nơi hạnh phúc là một viên kẹo bột
được bạn chia cho trong một lúc
không ngờ

Em chỉ giữ cho em
những con ngõ hẹp
những bàn chân vội vã
dẫm lên nhau
những cánh cửa bàn tay ai quên mở
rặng sấu già nua
vẫn lặng lẽ cúi đầu.

Em gửi cho anh cả
trái tim Hà
Nội
Xin anh cất vào chỗ dấu
trái tim em


Hà Nội, cuối Thu 2000

 

Tôi chép cả bài thơ ra đây để đọc lại cho quên nỗi nhớ của một thời xa, ở một thành phố xa xưa.

                                                           *

Tôi sinh ra ở Hà Nội, và xa Hà Nội năm tôi 18 như một bài ca người ta thường hát. Tôi cũng có người em mười sáu trăng tròn. Khi cả hai cùng di cư vào Nam năm 54, gặp nhau lại. Mối tình học trò đó, như bong bóng mùa mưa tan lúc nào không hay. Bốn mươi năm sau, tôi trở lại Hà Nội vào mùa Thu, năm mới mở cửa, đường phố, nhà cửa gần như không thay đổi, nhưng cũ đi nhiều

Tôi ở một khách sạn trong phố cổ. Đêm đầu tiên, thao thức không ngủ được. Nửa đêm, trời trở gió, nghe tiếng lá rơi xào xạc bên ngoài, tôi trở dậy ra mở cửa sổ nhìn xuống đường thấy:

“Ở phía sau một gốc bàng, một cái bóng chạy ra. Tôi nhìn kỹ mới biết đó là một đứa bé, vào trạc mười tuổi, đầu nó chít một cái khăn đỏ phủ kín hai bên má; áo nó rách để hở cả hai vai. Một ít lá rụng ở cuối phố. Đứa bé chạy vội lại. Một con bé ở sau gốc bàng khác cũng chạy ra, rồi hai chị em – tôi đoán là hai chị em – chạy lăng quăng đuổi những lá bàng gió thổi lăn trên đường.

Một cơn gió mạnh nổi lên. Lá rụng ào ào, một lát đã đầy đường.

-          Mau lên chị ơi… Nhặt cả hai tay chị ạ.

-          Tao bảo mày đem chổi đi mày lại bỏ quên, thằng nỡm. Tao biết trước là đêm nay có gió to. Mày chẳng nghe tao bao giờ … thằng nỡm.

Tôi mim cười vì sao chị lại không mang chổi đi. Tôi mỉm cười vì thấy con bé mắng một cách thông thạo lắm: lúc mắng nó lại tỏ ra vẻ người lớn đã biết mắng em, dạy em rồi. Đứa bé không để ý đến lời chị nó, nó vừa nhặt vừa reo:

-          Gió lên… lạy giời gió nữa lên.

Chúng vẫn nhặt không ngừng tay, lá vẫn rụng không ngớt; nhiều khi vì mầu áo lẫn với mầu đường, tôi không nom rõ người, chỉ thấy cái bóng đen lăng quăng. Chúng chạy vụt ra xa rồi lại quay vòng trở lại, có khi đang chạy về một phía bỗng nhiên đứng dừng: một đám lá rơi lỏa toả trên người chúng khiến chúng ngập ngừng bối rối không biết quay nhặt phía nào.

-          Lạnh quá

-          Chạy mau lên cho ấm… thằng nỡm.

Thấy chị mắng em luôn mồm là thằng nỡm tôi mỉm cười đoán có lẽ tên đứa bé tên là Nỡm chăng. Tôi tự nhiên cũng thấy vui với chúng mặc dầu trời rét. tôi cũng như chúng mong mỏi gió thổi thật mạnh. Mỗi lần cơn gió tới làm rụng lá, là một lần tôi hồi hộp và sung sướng một cách thành thực.

Nhưng gió chỉ được có một lúc rồi tạnh hẳn. Thỉnh thoảng còn thưa thớt một hai chiếc lá rơi. Lá trên đường chúng đã nhặt hết.

- Em được tám bó

- Tao được năm bó. Tại mày tranh lấy hết của tao, thằng ranh con.

Tôi lại mỉm cười vui vẻ vì thằng nỡm đã đổi ra thằng ranh con.

Rồi chúng lại trở về chỗ cũ, mỗi đứa một gốc bàng cho “khuất gió”, khuất những cơn gió làm chúng rét run mà chúng vẫn mong nổi lên.

Tôi quay trở vào, bật đèn rồi lại ngồi vào bàn giấy. Ở ngoài, thỉnh thoảng lại có tiếng đứa bé:

-          Gió lên… lạy giời gió lên.”

Tôi nhớ tới Nhất Linh, chắc nhà bác hồi trước cũng ở trong khu phố này.

*

Ngẫu nhiên, khách sạn tôi trọ lần đó lại cùng chung với anh Dũng, chị Loan và bà Hai, mẹ của chị, tất cả từ tỉnh lên. Tôi gặp và chào hai mẹ con chị ở hành lang, bà kêu mệt, nhức đầu cần về phòng nằm nghỉ. Ra khỏi phòng, tôi thấy chị đi thẳng ra phòng tiếp tân, ngồi ở đó xem phố xá Hà Nội.

“Nửa giờ sau Dũng cũng ra cửa, Loan hỏi:

-          Anh sắp đi đâu bây giờ?

Dũng đáp:

-          Tôi lại đằng người anh em bạn, lâu ngày không gặp.

Loan bỗng thốt nhớ ra điều gì hỏi Dũng:

-          Phố Hàng Bông thợ ruộm có gần đây không nhỉ?

Dũng đáp liều:

-          Gần đây, cô hỏi làm gì?

-          Em có người chị em bạn, chị Lương ở đấy, em muốn lại chơi… nhưng lại sợ lạc đường.

Dũng nói:

-          Tôi cũng đi qua phố ấy. Để tôi đưa cô lại. Khi về, cô về một mình.

Loan nhìn vào trong nhà, ngần ngừ, Dũng nói:

-          Chắc bác ngủ rồi.

Loan rón rén bước ra phố. Nàng thấy quả tim đập mạnh và sợ hãi toan trở về. Nàng tự hỏi:

-          Có nên không?

Dũng nói:

-          Cô đi mau lên chứ.

Không nghĩ ngợi, Loan bước liều tiến lên đi cạnh Dũng. Thấy hàng phố đông người qua lại, dần dần nàng trở nên mạnh bạo…

Hai người yên lặng đi. Dũng thấy chân mình lúc đó bước một cách nhẹ nhàng và gót giầy nện mạnh bạo trên hè phố. Trong lòng vui sướng nên cứ tự nhiên chàng muốn bước một lúc nhanh hơn. Loan cũng cố bước mau nhưng không theo kịp:

-          Em không đi quen, đã thấy mỏi cả chân… Hay thôi, nếu xa thế thì chẳng cần lại đấy nữa.

Dũng đứng lại và dưới ánh đèn chàng thấy trán Loan lấm tấm mồ hôi:

-          Chắc cô vừa mệt vừa bức.

Chàng cố lấy giọng tự nhiên nói:

      - Hay ta vào hàng uống nước cho mát... rồi lại đi nữa.

Loan sẽ gật đầu mỉn cười. Nàng chỉ biết nghe theo Dũng không còn trí đâu để suy nghĩ về hành vi của mình. Trốn mẹ đi đôi với Dũng ở ngoài phố, rồi lại vào hàng ngồi uống nước với Dũng. Loan không biết được rằng thế là làm một việc tự nhiên hay liều lĩnh.

Hàng “cà phê” vắng khách. Chính Dũng cố ý chọn hàng đó, nơi mà trước kia khi còn học ở Hà Nội, chàng đã nhiều lần tới... Hàng cà phê sang trọng quá khiến Loan bẽn lẽn ngồi yên.
Dũng hỏi:

      - Cô uống gì?

     - Tùy anh.

Dũng gọi hai cốc kem và bánh ngọt.

     - Tù hãm hơn một năm trời. Bây giờ lại đến ngồi đây, không biết mình tỉnh hay mê.

Hai người nhìn nhau bâng khuâng. Dũng cúi mặt xuống khẽ đáp:

     - Có lẽ mê, nhưng là một giấc mơ đẹp.

Loan cố tìm một câu nói nhưng không biết nên nói câu gì. Nàng không thể cười nói tự nhiên đươc mà cứ ngồi yên lặng, nàng lại sợ Dũng tưởng lầm rằng nàng không vui lòng.

Dũng nói:

     - Bây giờ nghĩ đến nhà quê thật là xa lắc. Giá cứ thế này đi không về nữa thì hay đến đâu.

     - Sao lúc nào em cũng thấy anh nói đến đi...

Ngẫm nghĩ một lúc rồi Dũng nói:

     - Có lẽ xa nhau rồi mới gần được.

Bồi đem bánh và hai cốc kem lên. Dũng mời Loan ăn, rồi yên lặng nhìn Loan cầm thìa đưa lên môi. Loan cau mày, rùng mình chép miệng nói:

     - Ngon quá nhỉ... Sao anh không ăn đi?

     - Ngồi nhìn cô ăn ngon hơn là ăn.

Loan lại nói:

     - Lúc nãy ăn cơm cũng thế. Nhưng lúc nãy còn có lý vì em ăn cơm tây lần đầu đối với anh chắc là một thứ trò lạ mặt.

Nàng cười, hai má hơi nhuốm hồng và tinh nghịch nói tiếp:

     - Cô em bé của anh quê mùa và trẻ con lắm phải không anh?

Dũng không biết hai tiếng xưng”em bé” của Loan là do thân mật tự nhiên hay có ý âu yếm.

Chàng nói:

     - Lúc này tôi trông cô hơi là lạ, hình như trước mặt tôi có một người con gái mới gặp đã thân ngay, không phải là cô Loan mọi ngày nữa. Tôi mới gặp mà...

Dũng không nói hết câu vì thấy Loan nhìn chàng lộ vẻ suy nghĩ về câu nói có lẽ làm nàng ngạc nhiên. Chàng biết là mình quá lời và lấy làm ngượng vì cái ngầm ý muốn cám dỗ người con gái còn ngây thơ tin ở mình như tin một người anh. Dũng cầm miếng bánh ăn và cố lấy giọng tự nhiên xoay ra câu chuyện có vẻ khác:

     - Chẳng cứ gì tôi. Lúc nào tôi cũng thấy cô như nghĩ ngợi điều gì. Trong lúc miệng cô tươi cười thì hai con mắt cô suy nghĩ, có vẻ lo buồn. Có đúng thế không?

     - Chịu anh là tài. Nhưng anh đoán sai tất cả.

Loan chợt nghĩ đến việc nhân duyên của nàng và của Dũng. Nàng đã nhất quyết không lấy Thân, nhưng còn Dũng? Nàng không dám chắc, nàng không dám hi vọng nữa, vì nàng thấy thân phận mình đối với Khánh thấp kém quá... Vì cái tình thế rất mập mờ của Dũng và Loan lúc đó nên những lời nói ra thành rụt rè ý nhị quá, bóng gió xa xôi.

Một người đi qua bàn thấy Dũng, mỉm cười chào. Dũng đứng dậy bắt tay. Thấy bạn đưa mắt nhìn Loan, Dũng giới thiệu:

     - Cô Loan, em họ tôi.

 Biết là không thể ngồi lâu được nữa và để người bạn Dũng khỏi nghi ngờ mình có ý vội vàng lánh mặt, nên Loan đứng ngay dậy làm như mình đã định về từ trước.

Ra đến ngoài, hai người cứ yên lặng đi, không dám hỏi nhau đi đâu, vì nếu hỏi thì câu trả lời tất nhiên sẽ chỉ là đi về khách sạn, điều mà không ai muốn cả...

Ánh trăng đang mờ bỗng sáng hẳn lên. Gió đưa tà áo Loan khẽ chạm vào tay khiến Dũng sực nhớ mình đi sát gần bên Loan quá. Chàng nhớ đến hôm lễ thọ và cái mơ ước được đi chơi với Loan trong vườn cỏ thơm, gió đưa tà áo Loan phơ phất chạm vào tay êm như một cánh bướm... Dũng không dám quay mặt nhìn Loan; chàng chỉ thấy bên chàng có một bóng trắng hoạt động nhẹ và thơm, lúc sáng hẳn lên dưới ánh trăng, lúc mờ đi trong bóng cây lưa thưa. Dũng nghe rõ tiếng chân bước của Loan nhịp nhàng xen với tiếng chân chàng bước. Quả tim chàng đập thật mạnh...Chàng như trông thấy trước mặt bàn tay hơi run run của Loan, hôm nào, cời những quả đậu trong rá, chàng nhớ đến cái cảm tưởng ngây ngất được thấy đôi môi Loan mềm và thơm như hai cánh hoa hồng; bao nhiêu thèm muốn ngấm ngầm bấy lâu trong một phút rạo rực trổi dậy. Bốn bàn chân vẫn bước đều đều...Chàng nghĩ đến lúc đó ngừng lại thì Loan sẽ cũng theo chàng ngừng lại; chàng sẽ đưa cánh tay đỡ lấy Loan và miệng chàng sẽ nói câu mà chàng vẫn thầm nhủ với Loan đã bao lần trong giấc mơ:

     - Anh sẽ yêu em trọn đời.

Sự yên lặng của Dũng khiến Loan thốt nhiên giật mình lo sợ. Nàng nói:

     - Ta phải nghĩ đến về thôi. Mẹ em mà thức dậy thì chắc mẹ mong lắm đấy.

Về đến khách sạn, Loan hỏi người bồi:

     - Có ai hỏi chúng tôi không?

     - Bẩm, từ lúc cậu mợ đi đến giờ không có ai hỏi cả.

Dũng và Loan nghe gọi hai tiếng cậu mợ, đưa mắt nhìn nhau mỉn cười. Dũng nói:

     - Đừng gọi thế, chúng tôi là hai anh em.

Dũng đứng đợi ngoài cửa phòng, nghe ngóng. Một lát có tiếng bà Hai hỏi Loan:

     - Con chưa đi ngủ? Tao mệt quá, ngủ được một giấc ngon.

     - Thưa mẹ còn sớm. Con đứng ở cổng xem phố vui quá mẹ ạ.

Bà Hai hỏi:

     - Anh đâu?

Loan đáp:

    - Thưa mẹ, anh con dễ cũng đi ngủ rồi.

Loan mở cửa, thấy Dũng còn đứng đấy, nàng ra hiệu bảo Dũng về buồng ngủ. Dũng để mấy ngón tay lên miệng làm như đã đoán được ý của Loan không được cất tiếng nói; thực ra chàng muốn dùng cách kín đáo ấy để hôn vọng Loan, mong cho Loan hiểu.

                                                         *

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm nhìn vào tờ chương trình, thấy cần phải đi thăm bác Khái Hưng và Huy, người bạn học cũ. Tôi lại sực nhớ ra là có hẹn với ông Hoàng Cầm đi ăn sáng bún riêu ở ngõ Tạm Thương. Ông vốn là một thi sĩ trong nhóm Nhân Văn.

Tôi gọi Hoàng Cầm là anh vì là người thân thuộc và cùng vùng quê Kinh Bắc. Đến nơi, đã thấy anh ở đó. Hàng đông khách, anh kéo chiếc ghế đẩu cho tôi ngồi. Lâu lắm không được ăn bát bún riêu ngon đến thế. Bún tươi, cua đồng mới bắt, rau thơm đúng vị. Tôi ngồi nói chuyện với anh một lúc lâu, trước khi chia tay, anh dặn tôi nhớ đến thăm Phùng Quán và Bội Trâm. Anh cho biết cụ Đang cũng sẽ đến đó.

HaNoi2

Cùng Hoàng Cầm ăn bún riêu cua tại ngõ Tạm Thương


Tôi đi bộ qua vườn hoa Hàng Đậu và đi dọc theo phố Quan Thánh, đến một ngã tư, và nhận ra ngay ngôi nhà hai tầng ở góc đường, có vườn trước, tường và hàng rào song sắt phía trên bao quanh. Ngôi nhà này tôi đã đi qua bao nhiêu lần trong lúc nhỏ. Đó là trụ sở làm việc cuối cùng của bác Khái Hưng, tôi dò tìm đường vào, nhưng lối đó đã bị xây chắn bởi một căn hộ nhỏ có bầy bán một vài tạp hóa lặt vặt. Không thể vào được, tôi nghĩ thầm có lẽ mình vào nhầm cửa. Tôi nhìn bảng số nhà đã cũ số 80, mầu men xanh chữ trắng, xung quanh có những vết rỉ nâu trên tường trước mặt, còn lại từ mấy chục năm xưa. Tôi nghĩ mình không thể nhầm được vì tôi nhớ năm 46, tôi có ông chú làm cho nhà in ở đây, tôi thường đến lấy báo và truyện chú chuyển cho bố tôi. Phía đối diện bên kia đường là trụ sở của Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội của cụ Nguyễn Hải Thần. Tôi đi ngược lại, ra bên ngoài ngước nhìn lên phía cửa sổ trên gác, thấy bóng bác và một hai người bạn hình như đang bàn những chuyện gì gay go lắm. Tôi không muốn làm rộn bác nên bỏ đi, rồi gọi xe lên trường Bưởi gặp Huy.

Đến cửa trường Bưởi, thấy ông lão bộc của nhà Huy hớt ha hớt hải chạy lại hỏi đám học trò:

     “- Thưa các thầy, đây có phải là trường Bưởi không?

Một cậu đáp:

      - Không phải đâu, ông cụ ạ. Đây là trường Bảo Hộ.

Ông lão buồn rầu:

      - Thế trường Bưởi ở đâu, nhờ thầy làm ơn chỉ dùm.

Ba bốn cậu vỗ tay cười:

      - Mãi tận chợ Cam kia, cụ ạ.

      - Nhưng chợ Cam ở đâu kia thầy?

      - Chợ Cam ở gần chợ Quít ấy.

Một cậu ra dáng hiền lành trách bạn:

      - Các anh cứ đùa cụ ấy thế.

Rồi quay sang ông lão, ôn tồn bảo:

     - Phải đấy, cụ ạ. Chính đây là trường Bưởi. Vậy cụ hỏi ai gì?

Ông lão mừng rỡ:

     - Cám ơn thầy, thưa thầy làm ơn tìm hộ tôi cậu Huy.

Cô hàng nghe thấy tên Huy, ngửng lên nhìn rồi không kịp giữ gìn buột miệng kêu lên:

     - Kìa ông Hạnh!

Ông Hạnh cũng vừa nhận ra được cô hàng:

     - Giời ơi! Cô Mai!

Các cậu học sinh tò mò xúm quanh cô hàng với ông lão. Một cậu hỏi:

     - Thầy cô đấy à?

Nhưng Mai chỉ ứa nước mắt đứng lặng nhìn người lão bộc.

     - Sao cô lại đến nông nỗi này?

     - Thôi chốc về nhà hãy nói chuyện.

Rồi cô thản nhiên bán hàng tươi cười đáp những câu hỏi ngớ ngẩn của bạn hàng.

Sau một hồi trống anh em học sinh vội vàng kéo nhau vào trường”.

 

Tôi đến gần chào chị Mai và nói, tôi muốn đến gặp Huy.

 

“Mai thong thả đặt gánh hàng lên vai, quay lại bảo ông Hạnh:

     - Bây giờ ta về.

Ông lão ngớ ngẩn hỏi:

     - Về đâu cô?

     - Về nhà. Nhưng trước hết tôi muốn hỏi: Ông đến đây làm gì.

Ông Hạnh buồn rầu thuật lại cho Mai biết rằng hôm trước ông ta được thư của ông Tham Lộc gửi về nói Mai và Huy bỏ nhà đi đâu không biết, và hỏi thăm ông ta xem có về làng không. Ông nhờ người đọc thư rồi lo sợ đâm bổ đi tìm. Ông lão nói tiếp:

     - Nhưng còn cô thì vì duyên cớ gì lại ra nông nỗi này?

Mai cười:

     - Chả ra nông nỗi gì cả. Tôi đi bán hàng để kiếm ăn.

     - Thế ông Tham Lộc.

     - Thì mặc ông ấy! Ông nên nghĩ ngay đến em Huy còn hơn, vì em đang ốm nặng.

Ông Hạnh lo sợ nhớn nhác hỏi:

     - Ốm ra sao? Giời ơi rõ khổ tôi quá!

Mai buồn rầu đáp:

     - Em nó ho, đau ngực. Mà giờ không có chỗ ở, không có tiền ăn, chứ đừng nói đến tiền thuốc nữa. May còn có người tử tế giúp đỡ, không thì cũng chưa biết tính mệnh ra sao rồi.

Nguyên ngay chiều hôm bà Án đến nhà thì Mai và Huy quả quyết ra đi, dù Huy đã bắt đầu ốm nặng.

Nhưng đi đâu? Chị hỏi em. Em nhìn chị. Bạn của Huy cũng nhiều, khốn nỗi chả nhẽ đưa chị đến ở nhờ. Dù thế nào mặc lòng, cũng phải rời bỏ ngay cái nhà mà mẹ con người ta hình như đồng lòng đuổi mình ra khỏi cửa.

Huy chợt nghĩ đến Trọng, nay cũng không còn là lưu trú học sinh nữa và vì lý tài eo hẹp đã xin ra ở ngoài, trọ nhà bà Cán bán hàng quà cho học trò. Lúc cấp bách còn biết sao, thôi cũng đành liều.

Vừa tới nhà trọ, Huy lên cơn sốt nặng nằm liệt giường ngay. Chị em Trọng hết sức cùng Mai trông nom săn sóc nên ba hôm sau bệnh Huy hơi thuyên giảm.

Nhưng tiền không có một đồng, biết làm sao? Chẳng lẽ ăn bám chị em Trọng cũng đương gặp lúc quẫn bách. Nghĩ tìm vật quý đem cầm đi bán thì bao nhiêu đồ nữ trang Lộc sắm cho, trước khi đi Mai đã trút hết ra để trả lại rồi.

May sao, Bà Cán nghe lời Trọng thuật lại cho nghe chuyện đau đớn của chị em Mai nên đem lòng thương hại. Bà ta liền nghĩ cách gây dựng cho Mai, giao gánh hàng cho Mai đi bán. Bởi vậy, nàng tươi cười cám ơn nhận lời bà Cán ngay, rồi vận áo tứ thân, quần vải thâm, ngày ngày hai buổi gánh hàng quà đến cổng trường Bưởi ngồi bán.

Bà Cán thấy mới buổi đầu Mai đã thạo nghề, bán hàng lại chạy hơn mình thì đem lòng quý mến chia lãi cho. Mai từ chối, chỉ xin được ăn, ở nhờ ít bữa để chờ khi về làng cầm hay bán được nhà sẽ đem tiền lên hoàn lại”.

Tôi ở lại với Huy đến tối. Lúc chia tay, tự nhiên tôi rút ví, còn số tiền mặt tôi đưa cho chị giúp  Huy. Chị không nhận. Tôi đành dúi vào tay ông Hạnh, ông ngần ngừ, nhưng tôi cố nắm chặt lấy bàn tay ông và cuối cùng ông đã nhận. Tôi hẹn với Huy là sẽ quay trở lại.

Tôi lấy xe trở lại phố. Gần đến khách sạn, tôi thấy một hàng quà bên đường còn mở, ánh đèn le lói. Bụng đói, tôi nói xe ngưng lại, đi bộ tới quán hàng. Đó là một hàng bún ốc, bún ốc lạnh.

Vừa ngồi xuống tôi thóang thấy bóng bác Thạch Lam vừa đi khỏi. Người dong dỏng cao, quần áo thẳng nếp, đôi giầy đen bóng. Mấy người ngồi quanh tôi là mấy cô khách đêm, tôi cầm bát húp một chút giấm bỗng lạnh, thấy ngon đến rùng mình. Tôi nghĩ có bao giờ Thạch Lam  ngồi ăn như thế này, bác rất sợ ốc, chắc chỉ  dừng lại quan sát họ ăn và tưởng tượng tới cái cảm nghĩ của mình. Thạch Lam  đã viết những câu nhớ đời:                                                     

 “Nước ốc chua làm nhăn các nét mặt tàn phấn, miếng ớt cay làm soa suýt những cặp môi héo hắt, và khiến đôi khi rỏ những giọt lệ thật thà hơn cả những giọt lệ tình”.

                                                         *

Hôm sau, tôi dậy sớm theo tour Tam Cốc, Ninh Bình và nối thêm đi thăm bãi biển Sầm Sơn để gặp chị Hiền và xem mặt anh Vọi như thế nào, chuyện của một tiểu thư và anh ngư phủ mà dư luận ở Hà nội một thời xôn xao. Tôi đi dọc bãi biển tìm villa chỗ chị và gia đình thường ra nghỉ mát. Cuối hè nơi nào cửa cũng đóng, không người vắng lặng, chỉ còn rặng phi lao phía sau rì rào gió thổi. Sau đó, xe ghé vào một công viên gần đó và tôi có dịp trèo lên hòn Trống Mái chụp tấm hình làm kỷ niệm. 

 

HaNoi 3

Hòn Trống Mái, Sầm Sơn, Thanh Hóa

 

Đường về Hà nội kẹt xe, tôi xuống xe thì trời đã tối xẩm, tôi đi qua khu phố của nhà chị Thu chợt nhìn thấy một bóng người có vẻ khả nghi, tôi đứng lại nấp sau một cột đèn quan sát. Cái bóng đó rất quen, thì ra là anh Trương. Tôi nhìn anh đang lẩn lút lò mò đến cổng nhà chị Thu với cái dáng điệu không bình thường lúc đó, khiến tôi định thốt lên anh làm gì kỳ vậy.

“Gần đến nhà Thu, Trương nhìn lên thấy cửa sổ buồng Thu vẫn đóng, nhưng ở trong buồng có ánh đèn. Chàng đứng nấp ở sau một thân cây lớn. Đường phố lúc ấy vắng tanh; phía trên có mấy căn nhà mở cửa sáng, nhưng nhà họ ở lùi vào trong lại khuất sau những chòm cây dày lá nên Trương không sợ ai để ý đến mình. Trong nhà Thu, trừ buồng Thu ra, còn thì tắt hết đèn. Mỹ hẳn là đi xem chiếu bóng, bà Nghị và bà Bát chắc đi đâu vắng. Phía hàng rào xa chỗ ở của đầy tớ. Chàng sẽ đứng khuất sau bức tường và khóm cây kia và giắt bức thư vào cái vòng sắt trên khóm cây.

Cánh cửa sổ trên gác từ từ mở và Thu hiện ra trong khung ánh sáng. Trương tiến lại gần giơ cao bức thư vẫy làm hiệu cho Thu biết: chàng giắt bức thư vào cái vòng sắt rồi giơ tay chào Thu đi ra đầu phố đợi Thu xuống lấy bức thư.

Trương đứng đợi như thế lâu lắm, chàng lấy làm ngạc nhiên sao Thu không xuống nhận thư. Hay là Thu chưa nhìn thấy bức thư, tưởng là chàng vẫy tay không.

     - Hay là Thu vờ như không trông thấy. Không lẽ đến cầm lấy bức thư rồi về à?

Chàng đã tuyệt vọng vì khó lòng cánh cửa sổ lại mở lần thứ hai nữa. Trương đứng yên, hai tay nắm chặt vì tức. Thế là về không và từ nay không còn cách gì để đưa thư cho Thu nữa.

Trương nghĩ ra một kế hay. Chàng cúi xuống tìm thấy viên gạch nhỏ.

     - Không biết mình có đủ can đảm ném không? Thu bực mình lắm đấy, nếu thực Thu vờ không nhìn thấy bức thư. Không cho cô ả vờ nữa!

Trương giơ tay quả quyết ném, viên gạch chạm đúng cánh cửa, lần này Trương mở tờ thư ra thật to để cho Thu nhìn rõ. Trương thấy Thu gật đầu tỏ ý hiểu. Chàng quay đi ngay nhưng được một quãng, chàng trở lại đứng nấp đợi sau bức tường.

Có tiếng đế giầy rất nhẹ trên đá sỏi. Trương lấy làm lạ rằng trong khi chờ đợi chàng lại thấy được cái bàng hoàng êm thú như trước kia. Mấy cành lài chen giữa chấn song sắt và mấy bông hoa trắng bắt đầu rung động, một bàn tay thò ra định cầm lấy bức thư.

Trương tiến nhanh lên hai bước; chàng vội nắm lấy bàn tay Thu, đưa lên miệng và lật ngửa hôn vào trong lòng bàn tay. Một mùi hương xông lên ấm  như mùi của hoa ngâu đã chín vàng. Trương hôn dần lên cổ tay và kéo Thu về phía mình nhưng chàng thấy Thu cưỡng lại. Tiếng lá sột soạt và cả khóm lài rung động vì bị sức co kéo của hai người. Trương ngửng nhìn mặt Thu. Sao Thu lại sợ hãi đến thế kia; trong lúc sợ hãi Trương thấy nàng đẹp lên khác thường; ánh trăng, mấy bông hoa lài trắng, hai con mắt đen; hương lài lẫn hương phấn, nước hoa. Trong rạo rực thèm muốn; ngay lúc đó - mà chỉ ngay lúc đó thôi – chàng thấy trước là sẽ sung sướng đến cực điểm nếu được hôn vào đôi môi của Thu.

     - Em Thu...

Thu cố kéo tay ra. Nàng vừa thở vừa nói:

     - Anh bỏ em ra. Người nhà biết thì chết! Ô hay...

Trương hiểu là không nên nài ép thêm. Chàng cầm lá thư đặt vào tay Thu cố nén lấy giọng ngọt ngào nói:

    - Xin lỗi Thu.

Trương lùi lại sau bức tường. Nghĩ đến bức thư, Trương thất vọng tự bảo:

     - Chắc Thu không bao giờ đến.

Chàng băn khoăn mãi vì là lần đầu chàng xin mà bị cự tuyệt. Có một điều an ủi chàng đôi chút là Thu có lẽ cũng muốn để chàng hôn, nhưng vì sợ người nhà trông thấy nên phải cự tuyệt đấy thôi:

     “Anh bỏ em ra ngay. Người nhà biết thì chết! Ô hay...”

Trương thầm nhắc lại câu nói. Muốn tìm cớ gì thì cớ, nhưng cái giọng đặc biệt của Thu khi nói hai chữ “ô hay” đủ tỏ cho Trương biết rằng Thu cũng đã bắt đầu đổi khác. Thu và chàng hai người đều thấy mệt mỏi về cuộc tình yêu găng lâu quá”.

Tôi nhớ lại, sao bác Nhất Linh đối với Dũng và Loan, đối với Mùi và Siêu, bác biết mối tình của họ tha thiết thầm kín đến thế nào mà bác không cho họ chỉ cầm tay nhau thôi mà không được. Đến Ngọc và Thanh, bỏ nước đi làm cách mạng, trên đường về nước bị bắn gục bên dòng sông Thanh Thủy, ở biên giới Hoa Việt, lúc sinh tử bác mới cho họ ôm nhau. Nhưng tới Trương và Thu thì bác lại cho họ gần như buông thả, đã có lần bác cho họ ôm và hôn nhau. Còn Trương bác lại cho sống bạt mạng phóng túng vì chắc bác tưởng là Trương có bệnh sắp chết chẳng còn bao ngày nữa.   

                                                             *

Ngày tiếp theo, tôi nghe lời bác Khái Hưng dặn đi thăm anh Linh và chị Lan, hai người cháu ruột  mà lâu ngày bác không được tin. Hai người ở hai phía khác nhau, không cùng đường, chắc không thể thăm trong cùng một ngày. Tôi nhớ đến chị Lan, không hiểu vì chuyện gì mà chị bỏ nhà giả trai đi tu ở chùa Long Giáng. Anh Ngọc biết được, lúc đầu cứ đến quấy rầy hoài...Tôi nghĩ thôi cũng không nên đến thăm chị, để chị được tĩnh lặng trong cửa thiền.

Còn anh Linh, tôi phải lên thăm anh. Bố mẹ anh để lại cho anh một đồn điền rộng hai ngàn mẫu trồng cam ở vùng Bố Hạ. Anh phải bỏ Hà nội, một mình lên đó trông nom, cai quản. Nên cứ mỗi mùa hè tan trường hay có kỳ nghỉ lễ dài anh thường gọi tôi lên đó ở cho có bạn. Chúng tôi hay cưỡi ngựa rong đi xem các người thợ làm vườn trong trang trại hay đi sâu vào các bản thăm dân thiểu số. Tôi nhớ một lần chứng kiến cảnh anh tình cờ gặp chị Phụng và mẹ của chị ngồi trong xe ô tô hết săng phải ngưng lại gần đồn điền của anh. Anh vào trại lấy xăng và mời mẹ con Phụng xuống thăm vườn cam đang chín đỏ. Lúc chia tay, Phụng đã hứa, sẽ quay lại mỗi mùa cam. Từ đó cứ tới mùa là ngày nào anh cũng vội vã ra nơi cũ để đợi người xưa...

Lần này tôi đến thăm anh Linh, bác Khái Hưng có ý muốn tôi xem anh đã lấy vợ, có ý chung nhân nào chưa hay vẫn chờ đợi vẩn vơ. Xe của tôi gần đến đồn điền, từ xa tôi thấy bóng anh phi ngựa thấp thoáng sau các rặng cây...

“Linh cho ngựa phi nước kiệu lớn, qua rặng đồi cỏ tranh, hấp tấp, vội vàng như người đi đâu có việc gì cần kíp.

Tới chỗ sông Thương lượn khúc chảy ven đường Bố Hạ, quanh một quả đồi trồng cam, Linh kìm cương, nhẹ nhàng nhảy xuống đất, buộc ngựa vào một cây trẩu trụi gần hết lá. Đã một tuần nay từ khi cam bắt đầu rám đỏ, sáng sáng, dùng xong bữa điểm tâm sơ sài, Linh lên ngựa đi thăm  lấy lệ mấy nơi vừa phá hoang trồng chè, rồi phi thẳng tới đây ngồi đợi.

Chàng ngồi đợi người năm ấy. Sự mong mỏi làm rạo rực lòng chàng và như man mác cả linh hồn vạn vật.

Vì có lúc ngắm cảnh quanh mình, chàng thấy những khóm cây lặng nghiêng mình trên bờ cao, soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lá sắc và nhọn và hàng bông trắng đứng im tăm tắp và loáng thoáng lẫn trong không. Cả làn mây nhạt đương lững thững trôi trên ngọn đồi xa cũng ngập ngừng dừng lại. Hình như cùng chàng mong ngóng người xưa, cỏ cây, mây nước cũng trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Tiếng chim sơn ca hót trong cỏ rậm. Linh giật mình quay nhìn theo con đường đỏ, và cảm thấy tất cả nỗi thất vọng của một tấm lòng vơ vẩn đợi chờ...

Nhưng qua giậu nửa đan mắt cáo, màu vỏ cam mới rám hồng vẫn nhắc nhỏm gợi nhớ nhung. 

Cái kỷ niệm giây phút ấy đối với Linh đã thành vĩnh viễn, thiêng liêng.

Năm năm cứ đến tháng chạp khi cam ngoài vườn bắt đầu rám đỏ dưới luồng gió heo may, Linh lại cảm thấy thân thể và tâm hồn rung chuyển. Rồi trong vườn hiện ra hình ảnh một thiếu nữ tươi tốt, hồng hào thướt tha bên gốc cam, gốc quýt.

Linh chờ đợi mong ngóng.

Chàng chờ đợi mong ngóng cho tới hết mùa cam. Vì Phụng có hứa với chàng rằng mỗi năm cứ đến mùa cam nàng sẽ lại cùng mẹ một lần lên thăm ấp của Linh. Lời hứa ấy có lẽ Phụng đã thốt ra theo cách xã giao  trong câu chuyện thù ứng. Nhưng Linh tin là hứa thành thực. Chàng cũng không hiểu sao chàng lại tin như thế, nhưng chàng cũng không thể không tin được.

Đã hai năm chờ đợi...

Và trên bờ sông cao, khóm cây vẫn im lặng nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lau lá sắc và nhọn vẫn đứng thẳng hàng bông trắng loáng thoáng lẫn trong không. Và trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại...

Cùng chàng mong ngóng người năm ấy, vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về.

                                                     *

Ngày cuối cùng ở Hà Nội, tôi dậy từ sáng sớm đi một vòng quanh hồ Gươm. Đến chỗ Khai Trí Tiến Đức, gần với Tháp Rùa nhất tôi dừng lại nhớ đến năm 1946, tôi gia nhập Nhi Đồng Cứu Quốc và trong đội Yết Kiêu, tôi đã cùng họ bơi ra tháp để đánh đuổi nhóm hướng đạo giả làm cướp biển chiếm đóng tại đó. Tôi đi qua nhà Thủy Tạ nhìn vào, bây giờ thành một quán ăn, hồi những năm đầu 50 là thư viện của thành phố. Tôi thường đến đó ngồi đọc truyện và mơ màng nhìn ra xa, mặt hồ xanh biếc, phía đền Ngọc Sơn với cây cầu Thê Húc sơn đỏ và những rặng liễu lơ thơ rủ bên hồ.

Tôi sang đường đi dọc phố Hàng Đào xuống tới chợ Đồng Xuân. Tôi nhớ đến ở cái góc chợ kia, ngày trước là một cửa hàng cho thuê truyện. Tôi đã đọc gần như không còn một quyển tiểu thuyết nào ở đó.                                                                                                                                                                                                  

Trong cái thời niên thiếu ấy, tôi cũng như một số bạn đều mê đọc tiểu thuyết, đọc thơ của các văn thi sĩ tiền chiến. Trong các nhóm nhà văn đó thì nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã ảnh hưởng đến tôi  nhiều nhất. Văn của họ nhẹ nhàng, trong sáng, với những truyện tình lãng mạn lồng trong khung cảnh quê hương đơn sơ và lúc nào cũng man mác tình yêu. Truyện của họ, không lúc nào thiếu trong tủ sách gia đình của tôi. Nhiều nhân vật trong truyện đã in sâu vào ký ức tôi. Họ không những đã trở thành một phần đời sống của tôi mà đôi khi lại là những giấc mộng không thành nữa.

 

Tôi nghĩ phải ăn một món gì đặc biệt trước khi rời thành phố. Tôi tìm đến phở Bát Đàn, xếp hàng đứng đợi đến lượt mình. Lấy được bát phở xong, tôi bưng ra ngoài, khách quá đông ngồi tràn cả ra hè phố. Tôi đứng loay hoay tìm chỗ, bỗng có tiếng gọi tên tôi, tôi quay lại thì ra là bác Nguyễn Tuân. Bác vẫy tôi lại chỉ cho chiếc ghế đẩu còn trống cạnh bác. Lâu quá không gặp bác, tôi có dịp cùng bác nhắc lại những chuyện của một thời còn vang bóng. Tôi cũng nói xin phép bác là đã trích một đoạn văn về phở của bác mà tôi để vào đoạn kết trong bài “Những Bát Phở Việt Nam”. Bài này đã được đăng trên Thế Kỷ 21, và được nhạc sĩ du ca Ngô Mạnh Thu, người bạn của thời trung học Chu văn An ở Hà Nội đọc trên đài phát thanh tại California. Tôi thấy, dù cho bác sống trong một thời  chuyên chế, bao cấp, nghèo đói, bác đã thần thánh bát phở. Thảo nào bác đã không tránh khỏi bị kiểm thảo và phải từ chối các tác phẩm có tính cách tiểu tư sản của mình. Bác viết:     

‘‘Tôi thấy rằng trong muôn vàn thực tế phong phú của nhân dân Việt Nam, có một cái thực tế mà hằng ngày ít ai nỡ tách rời nó, tức là cái thực tế phở. Cái thực tế phở ấy lồng vào trong cái thực tế vĩ đại của dân tộc. Trong một giọt nước rơi lóng lánh có cả câu chuyện của vầng thái dương; trong miếng ăn, cũng thấy rộng được ra những điều cao cả yên vui trên đất nước bao la tươi đẹp. Tôi thấy tổ quốc ta có núi cao vòi vọi điệp điệp, có sông dài đằng đẵng, có biển bờ thăm thẳm, có những con người Việt Nam dũng cảm xây đắp lịch sử quang vinh, những công trình lao động thần thánh; nhưng bên cạnh những cái đó, tôi biết rằng Tổ quốc tôi còn có phở nữa.’’

Tôi đã được ăn những bát phở suốt dọc Việt Nam, những bát phở của những nơi trên thế giới, nhưng vẫn nhớ bát phở từ thuở ấu thờì của những gánh phở đầu phố ở Hanoi. Như Thạch Lam đã viết về những bát phở thơ ngây ngày nào: “chưa biết mùi đau khổ ấy, chưa nhiễm mùi phức tạp, không cần hành hăng, không cần chanh chua, không cần ớt cay.”

Ngồi một lúc, tôi xin phép bác phải về thu dọn hành lý để vào Saigon tối nay và sau đó trở về Mỹ. Thay vì đi bằng máy bay, tôi sẽ đáp chuyến tầu Bắc Nam mất khoảng 36 giờ để nối liền hai miền đất nước. Bác Tuân cũng cho tôi biết, tối nay bác cũng ra đón Bạch, người con lãng tử của bác đã đi khắp bốn biển năm châu sẽ ghé trở lại thăm quê hương. Nhưng tiếc rằng tôi lại phải ra đi.                                                                                                                                                 

Tối hôm đó, tôi ra ga Hàng Cỏ Hà Nội, sau khi tìm chỗ và xếp gọn hành lý xong, tôi ra khung cửa cố tìm bác Tuân. Một lúc lâu, tôi mới thấy bác, bác đứng dựa vào cột trên sân ga, miệng ngậm tẩu thuốc bình thản không để ý đến hành khách vội vã qua lại. Tôi nhớ là bác thường có thói quen ra sân ga đứng như thế, chẳng trông đợi ai cả mà chỉ muốn nhìn đoàn tầu qua, nghe tiếng còi báo hiệu khởi hành. Tôi chợt nhớ có một câu hỏi muốn hỏi bác. Tháng trước tôi có đọc một tác phẩm của bác in lại ở hải ngoại, có tựa đề là “Quê Hương”. Sau đó, tôi lại thấy một vài chỗ lại có tựa đề khác là “Thiếu Quê Hương” hay “Mất Quê Hương”. Tôi len ra cửa, xuống hỏi bác vì nếu chỉ có hai tiếng quê hương không thì nghe trơ trọi quá. Nhưng giữa đám đông quá ồ ào, bác lại lãng tai, tôi cố nói to mà bác cũng không nghe rõ. Cùng lúc đó có tiếng còi tàu và thấy xe từ từ chuyển bánh, tôi vội giơ tay chào bác và chạy theo để bước lên tầu. Tôi còn muốn nói thêm với bác một câu mà không kịp:  

- Tôi đã mất quê hương đến lần thứ hai!


Nguyễn Công Khanh
02/2022

 


* Những đoạn trong ngoặc kép, chữ nghiêng được trích trong các tác phẩm của:

- Trần Mộng Tú: Bài thơ “Chia Tay Hà-Nội”

 

- Nhất Linh: Đôi bạn và Bướm Trắng

- Khái Hưng: Nửa Chừng Xuân và Đợi Chờ

- Thạch Lam: Miếng Ngon Hà Nội

- Nguyễn Tuân: Bài viết về Phở

                                                            

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 57332)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 138391)
Tin từ quê hương cho biết tin vui cuối cùng nguyên văn, “các vị lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã hứa cấp... khoảng một ngàn mét vuông đất để xây dựng Khu lưu niệm” Trịnh Công Sơn. Tin cũng cho biết Nhà Nước, cũng như thân nhân Trịnh Công Sơn, không dính líu gì đến việc xây dựng và nội dung trưng bày khu lưu niệm này.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 157989)
Ngủ đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ, cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi (Tặng Kiên và sự điên rồ của đêm)
31 Tháng Mười 200712:00 SA(Xem: 108132)
... lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ là một thứ câu chuyện thêm thắt vào [anecdotes] chính sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa, Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lý do riêng để không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Diệm, từ chính trị, tôn giáo, tới ý thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa tràn ngập những lời “cung văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực... Bài viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3801)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13227)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19618)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18601)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1548)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1719)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2235)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2357)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1413)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2178)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1908)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1304)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2345)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2544)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2327)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 215)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 764)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 970)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1038)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6379)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15854)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32115)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38827)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1410)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13869)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6867)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10628)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9829)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9950)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10755)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11097)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10323)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi