- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐỌC TRUYỆN KIỀU – MỘT CUỐN KINH VỀ TÌNH THƯƠNG DƯỚI GÓC NHÌN KÝ HIỆU HỌC

Wednesday, December 8, 202110:17 PM(View: 38330)


nguyen du - truyen kieu

Mai An Nguyễn Anh Tuấn    

 

ĐỌC TRUYỆN KIỀU –  MỘT CUỐN KINH VỀ TÌNH THƯƠNG   

  DƯỚI GÓC NHÌN KÝ HIỆU HỌC 
 


Tóm tắt:
  Bài viết vận dụng lý thuyết ký hiệu học mong làm sáng tỏ thêm một vấn đề lâu nay đã được bàn luận nhiều: Tình thương và Chủ nghĩa cảm thương trong Truyện Kiều… Tình Thương đã trở thành ký hiệu cơ bản, đi vào các hệ thống biểu tượng và  hệ thống nhân vật tác phẩm… Với công cụ ký hiệu nghệ thuật cơ bản này, khảo sát một số nhân vật như: Kiều, Thúc Sinh, Kim Trọng, Hoạn Thư, v.v, cùng hệ thống ngôn ngữ đồng loại/ đồng dạng trong tác phẩm, góp phần lý giải sức sống mãnh liệt của Truyện Kiều suốt hơn hai trăm năm qua.

Từ khóa: Nguyễn Du, Truyện Kiều, Ký hiệu nghệ thuật (art symbols), Hợp âm chủ (chord master), Tình thương (love), Cảm thương (compassion), Xót xa (laments), Đồng cảm (empathetic).

 

Chúng tôi xin được lấy tên thiên tiểu luận đặc sắc Một cuốn kinh về tình thương [12, tr.139] của nhà văn Lưu Trọng Lư làm nhân lõi cho nội dung bài viết này. Người viết vốn được mệnh danh là “nhà văn của tình thương” từ đầu những năm 30 của thế kỷ trước đã “chiêu tuyết” cho nhân vật từng bị phán xét là “đĩ đứng đầu” bằng những lời nồng nhiệt, đặc biệt nhận định Thúy Kiều là “kẻ có một mối từ tâm lớn” [13, tr.1690]. Và suốt từ khi Truyện Kiều ra đời đến nay, tình thương hay “mối từ tâm lớn” toát ra từ kiệt tác này cùng những giá trị nội dung tư tưởng nhiều mặt của nó đã/ đang được bàn luận sôi nổi, với nhiều lý thuyết cũ - mới chắc không bao giờ chấm dứt…

      Chúng tôi trong khi bàn luận về một số bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, đã đề cập tới phương pháp phê bình tâm lý của Charles Mauron với các khái niệm: “ám ảnh”, “mạng lưới”, nhất là “huyễn tưởng dai dẳng” - hay “huyền thoại cá nhân”, “là một ám ảnh luôn luôn ở phía sau tư duy của người sáng tạo” [19, tr.149]; và thấy rằng phương pháp này có gì đó rất gần gũi với Thi pháp học, và đặc biệt với Ký hiệu học. Nhà lý luận Cao Kim Lan xác định: “Đằng sau mỗi tác phẩm là hình bóng thực sự của một con người - tác giả hàm ẩn. Điều này lí giải tại sao tác giả lại lựa chọn chi tiết này, yếu tố kia vào tác phẩm chứ không phải là một kí hiệu hay biểu tượng khác” [8, tr.8]. Cách đây hơn hai chục năm, mới có một cuốn sách dịch đầu tiên về Ký hiệu học xuất hiện ở Việt Nam: Ký kiệu học nghệ thuật Sân khấu - Điện ảnh [11] - tài liệu mà chúng tôi đã sử dụng trong dịp Kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du [20]. Vài năm gần đây thì sách báo dịch về ký hiệu học văn hóa, ký hiệu học văn học mới liên tục ra đời ở Việt Nam, và mới đây nhất, cuốn sách thực hành lý thuyết ký hiệu học của Lã Nguyên đã mở ra một lĩnh vực đầy hứa hẹn cho việc nghiên cứu văn học nói chung và Truyện Kiều nói riêng [15]… Trong văn học, nhất là với những tác phẩm lớn như Truyện Kiều, sự diễn đạt - diễn ngôn của các hệ thống biểu nghĩa bằng nghệ thuật cần phải được “giải mã” bằng các hình tượng - ký hiệu, bởi nói như nhà ký hiệu học Nga Iu. Lotman, đó là thứ văn chương “nói bằng ngôn ngữ đặc biệt, nó là hệ thống thứ sinh được kiến tạo ở bên trên ngôn ngữ tự nhiên… làm thành một văn bản duy nhất như là “tổng thể các yếu tố của ấn tượng nghệ thuật” [15, tr.8]. Được sự gợi ý và khích lệ đáng kể từ công trình trên của ông Lã Nguyên, chúng tôi mạnh dạn học hỏi cách thức áp dụng lý thuyết Ký hiệu học như một thứ “la bàn” mới vào việc tìm hiểu kiệt tác Truyện Kiều - trong một phạm vi hạn chế…

      Đọc Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy cái “ám ảnh luôn luôn ở phía sau tư duy của người sáng tạo” và tạo nên cả một trường ngữ nghĩa liên tưởng cùng cảm xúc thẩm mỹ đặc biệt chính là Tình thương. Tình thương, xuất phát từ chữ Tình, do lòng nghĩ mà sinh ra: ân tình, cảm tình, chân tình, thâm tình, thật tình, thân tình, thương tình... - theo giải nghĩa của Từ điển Tiếng Việt. Còn chữ Tâm từ gốc Hán - Việt trong Truyện Kiều: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” [3] để nói về số mệnh, đối lập với sự thông minh khôn ngoan theo lẽ thường. Tâm này chính là thiện tâm (kusala citta), cái nhiệt tình làm việc tốt, hy sinh cái bản ngã bé nhỏ vì một mục đích lớn hơn, cao đẹp hơn những ý muốn phục vụ cho cái tôi bé nhỏ, đó chính là chữ tâm trong bốn pháp nền tảng của đạo Phật. Kinh Hoa Nghiêm chủ trương “Pháp giới duy tâm” - tất cả các pháp trong pháp giới đều do tâm biến tạo ra. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du chỉ một lần nói đến chữ Tâm mang chất siêu hình đó, hoặc đôi lần khai thác chữ Tâm dưới góc độ Từ bi của đạo Phật, còn nội hàm sâu xa của chữ Tâm, với Nguyễn Du, chính là cái “Tình”, biểu hiện phong phú nhiều vẻ qua chữ “Lòng”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Hậu sau khi phân tích khá kỹ về chữ “Lòng” trong tâm lý người Việt, và qua sự liệt kê những cụm từ liên quan đến “lòng, dạ, bụng”, đã rút ra: “mặc dù nó bao chứa tất cả thế giới nội tâm bên trong, nhưng nó vẫn nghiêng về cảm xúc, cảm nghĩ, tình cảm; nghiêng về mô tả những tâm trạng, trạng thái, tình cảm con người” [7, tr.412]. Ông Đào Duy Anh đã thống kê 140 câu thơ Kiều có liên quan tới chữ “Lòng” chủ yếu thể hiện cái tâm tình, ý nguyện, nỗi niềm của con người gắn bó với các cảnh huống của thiên nhiên và đời sống - Lòng son, Lòng tơ, Lòng quê, Tấc lòng, Lòng thơ, Lòng xuân, Lửa lòng [1], v.v. Chữ Thương - không phải trên bình diện triết học, hay nói đúng hơn, xuất phát từ chữ Tâm và bồi bổ da thịt cho chữ Tâm, được biểu hiện trong tâm lý đời thường, đã giúp tác giả khai thác, soi tỏ động cơ tâm lý, hành động các nhân vật với một mối đồng cảm cao độ - và đây cũng chính là một trong những sức mạnh nghệ thuật to lớn giúp Truyện Kiều vượt xa nguyên tác Kim Vân Kiều truyện để trở thành một “Thiên thu tuyệt diệu từ” (Đào Nguyên Phổ). Đó là cái Tâm mang nội dung hiện thực, và Nguyễn Du đã đưa cái Tâm của con người tự nhiên, phàm trần thâm nhập, thay thế cái Tâm đạo lý - xã hội của các bậc thánh nhân quân tử. Và trong mạch thi ca thời đại bấy giờ, Nguyễn Du cùng loại nhà nho tài tử “thị tài và đa tình” xuất hiện với “sự cảm nhận những gì là hạnh phúc của đời sống thế tục, hiện thực, mang đậm tính chất cảm tính, trực tiếp” [21, tr.134]. Miêu tả tài thơ, đàn của Kiều, Nguyễn Du bao giờ cũng nhấn mạnh tới sự bộc lộ cảm xúc và tác động về cảm xúc của nó, ông không coi trọng cái Tài mà thiếu Tình, mặc dù ông đã chỉ rõ Tài - Tình chính là nguồn gốc của bao nỗi bất hạnh. Chắc chắn là Nguyễn Du đồng cảm với nhà bác học Lê Quý Đôn, người đặt Tình đầu tiên rồi mới đến Cảnh, Sự trong ba điều cốt yếu về làm thơ [4, tr.124]. Mộng Liên Đường chủ nhân viết Tựa Truyện Kiều nói hộ Nguyễn Du và nhiều văn nhân tài tử thời đó: “bậc thánh mới quên được tình, bậc ngu không hiểu tới tình, tình chung chú vào đâu, chính là chung chú vào bọn chúng ta… hai chữ tài tình thật là một cái thông lụy của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy” [5, tr.395]. Có điều, cái tình của Đại thi hào họ Nguyễn đã hướng vào “Thập loại chúng sinh”, đặc biệt là những con người có tài sắc mà sa cơ lỡ vận; và cuộc đời Nguyễn Du có thể làm minh chứng sáng rõ nhất cho nhận định sau của các nhà nghiên cứu thời hiện đại: “Lòng yêu thương, ưu ái đối với con người và thân phận của nó từ trước đến nay vẫn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà văn, nhà nghệ sĩ trong cảm hứng sáng tạo nghệ thuật” [6, tr.61]. Có thể nói, Tình thương là thứ thuốc thử, là nguyên lý gốc, là chất liệu chính trong “bảng pha màu”, là ký hiệu nghệ thuật cơ bản để Nguyễn Du soi rọi vào các tâm trạng & số phận, là thanh nam châm thu hút các tín hiệu nghệ thuật khác đồng loại/ đồng dạng, là ngọn đuốc giúp nhà thơ thám hiểm vào các góc khuất tâm hồn và các cảnh huống của nhân gian.

     Tình là cái gốc của chủ nghĩa cảm thương, của ngôn ngữ cảm thương bàng bạc khắp “quyển bách khoa toàn thư của một ngàn tâm trạng” [14, tr.215], góp phần lý giải sức sống lâu bền của Truyện Kiều. Ký hiệu chủ là “Thương”, trong những tâm cảnh thế nào đó đã nhanh nhạy thu hút quanh nó những tín hiệu đồng dạng/ đồng tâm, để tạo thành một hệ thống ký hiệu mới mang sắc thái đặc thù của riêng tác phẩm này, mà theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, nó đã trở thành đỉnh cao của dòng văn học cảm thương trong văn học Việt Nam bắt đầu từ Chinh phụ ngâm khúc trở đi [17, tr.213]. Người đầu tiên đi sâu nghiên cứu hệ thống chất cảm thương, chủ nghĩa cảm thương trong Truyện Kiều với tư cách là “giọng điệu” của các môtip và hình tượng theo thi pháp học hiện đại là Trần Đình Sử, ông nhận định: “giọng điệu cơ bản của Truyện Kiều là giọng điệu cảm thương”, và Nguyễn Du đã “xây dựng một môi trường tình thương trong tác phẩm” - trong “môi trường” đó, “tiếng thương trong Truyện Kiều không phải chỉ có một chiều xót thương. Thương người xót thân là một tình cảm lớn có rất nhiều biểu hiện phong phú” - ví như than hờn, dỗi đời, mỉa mai chua chát, đùa cợt, tiếng chửi, xuýt xoa [17, tr.255]; và nhà nghiên cứu đã có một khái quát quan trọng: “Yếu tố cảm thương mới là cảm hứng chủ đạo bao trùm của tác giả và tác phẩm, nó làm cho tác phẩm gần gũi với loại hình sáng tác chủ nghĩa tình cảm trên thế giới, xuất hiện như một biến thể phương Đông” [17, tr.256]. Có thể nói, chính trong cái “môi trường tình thương” này, các tín hiệu nghệ thuật đồng dạng đã liên kết, quy tụ với nhau để tạo nên một trường cảm xúc mạnh, khiến các số phận, các cảnh ngộ nhân vật cụ thể cùng những câu thơ nhức nhối tình thương ghim vào lòng người đọc những ấn tượng nghệ thuật khó phai nhạt.

      Từ chữ “Thương” trong Truyện Kiều, ta có Thương thân - gồm tác giả thương nhân vật, nhân vật thương mình và thương những người khác. Tình Thương đã trở thành ký hiệu nghệ thuật cơ bản, đi vào các hệ thống biểu tượng, và đi vào hệ thống nhân vật tác phẩm trên mấy bình diện lớn: a) Thuộc về Tình thương; b) Thù địch với Tình thương; c) Trung gian. Có mối quan hệ khăng khít, đan chéo giữa Tình - Thân - Tâm, Tình - Mệnh, Tình - Tài, Tình - Lòng từ bi, Tình - Hạnh (gồm Tình - Nghĩa, Tình - Hiếu, Tình - Lòng trung hậu, Tình - Lòng chung thủy, Tình - Lòng vị tha…), Tình - Lòng căm giận, v.v. Từ những khái niệm đơn hình thành nên những cụm từ giống phương ngôn, thành ngữ nhằm diễn đạt nội dung Tình thương nhiều màu sắc, nhiều khía cạnh, trong nhiều tình huống giao tiếp và nhiều cách thức biểu lộ thái độ tác giả: “Đã nên có nghĩa có nhân”, “Tẻ vui bởi tại lòng này”, “Thương thay cũng một kiếp người”, “Đau đớn thay phận đàn bà”, v.v.

      Các nhân vật trong Truyện Kiều có thể nói đã được Nguyễn Du triển khai miêu tả - khác rất xa với cốt truyện ông dựa vào, chủ yếu là sự dẫn dắt nhân vật đi qua cái ma trận “Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương”, trước những sự việc và con người “Làm cho bể ái khi đầy khi vơi”; và nhân vật được đánh giá qua thứ “thuốc thử”, “chiếc cân” là Tình thương mà tác giả là vị quan tòa nghiêm khắc nhưng lúc nào cũng “Lòng đâu sẵn mối thương tâm” để nhỏ nước mắt đồng cảm hoặc phẫn nộ. Nhà nghiên cứu Đặng Thanh Lê có một nhận xét tinh tế: “Nhân vật của Nguyễn Du là con người được thức tỉnh, dù chỉ để khổ đau” [8, tr.65]. Điều đáng nói là: trong nỗi khổ đau trong mọi cung bậc, mọi sắc thái của Kiều và các nhân vật khác đều có Tình thương làm gốc, làm cơ sở, làm trụ đỡ cho đời sống tinh thần, và “sự thức tỉnh” đó bắt nguồn từ tình thương bị bị chia lìa, bị cướp giật, chà đạp.

       Xin được dừng lại một đoạn được giảng dạy trong trường phổ thông: “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân…” (câu 1033 -> 1056). Trong đoạn này, những hiện tượng và sắc thái của thiên nhiên đã vô tình hòa nhập vào hệ thống ký hiệu Thương - Nhớ - Chạnh lòng - Sầu thảm - Đớn đau - Xót xa - Buồn tủi, v.v, mà trong đó, Thương mình và Thương người cộng với sự đồng cảm sâu xa của tác giả là “hợp âm” chủ đạo. Ở Kiều, nỗi xót thương da diết và niềm day dứt khi không thực hiện được hiếu nghĩa với song thân, sự mường tượng đến nỗi khắc khoải nhớ thương của người tình cũ… đều xuất phát từ tấm lòng vị tha, giàu tình thương. Thương - đó chính là kết quả, sự tích tụ của buồn, xót đau, tưởng nhớ, mong chờ tuyệt vọng; tình thương ấy phải chan chứa đến độ nào mới dung được biết bao tâm trạng căng tràn tâm tư, tỏa ngập trong thiên nhiên, vũ trụ… Sự chua xót, bẽ bàng, nỗi cô đơn, chúng trở nên khác lạ và có thể òa nhập vào cảm xúc cùng sự đồng cảm sâu xa nhất của bao thế hệ người đọc Kiều - chính bởi vì tất cả những điều đó đều trĩu nặng tình thương; thiên nhiên ấy được trùm lấp, chở che bởi Tình thương bao la của Kiều. “Tấm thương” ngập tràn nỗi nhớ nhung quê hương mà “Lòng quê đi một bước đường một đau” thường gặp qua mỗi đoạn đường đời của Kiều…

      Trong rất nhiều “trường đoạn” khác, tình hình cũng tương tự, cảnh vật “Phong sương đượm vẻ thiên nhiên” bao giờ cũng được phủ bởi tình thương của nhân vật. Đại thi hào không chỉ có tâm hồn cảm nhận được một cách tinh tế và chính xác sự diễm lệ phong phú của thiên nhiên, đồng cảm với tâm tư con người, và mỗi hình ảnh miêu tả thiên nhiên không chỉ là những ẩn dụ về tâm trạng và số phận con người như một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra, mà còn phát hiện ra cả một thế giới tình thương ẩn sâu trong toàn bộ cảnh vật chứa đựng tâm trạng người.

      Thúc Sinh, dù con người ấy có điều này điều kia khiến người đời chê trách, nhưng theo chúng tôi, đó chính là nhân vật mà Nguyễn đã thể hiện tình thương của anh ta đối với Kiều một cách chân thực, gần gũi đặc biệt hơn cả so với những nhân vật đàn ông chính diện khác, như Kim Trọng, Từ Hải. “Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa” sau bao trắc trở, lại có hạnh phúc thật êm đềm, không nhân vật nào được Nguyễn Du miêu tả về cuộc chia ly giữa họ mà ngoại cảnh - tâm cảnh lại chất chứa xúc cảm yêu thương đến thế: “Thương nhau xin nhớ lời nhau… Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” (câu 1515 ->1526). Những thời gian, không gian và đồ vật được tâm lý hóa, mang ký hiệu của sự nhớ nhung, trân trọng, đã tạo nên cái nền cảm xúc cho tác giả, mà cái nền cảm xúc đó lại có gốc của Tình thương - tình thương từ tác giả tỏa đến nhân vật, san sẻ cho nhân vật, để nhân vật cũng mang trữ lượng tình thương không kém tác giả… Những từ ngữ Hán - Việt trang trọng hòa quyện với cách cảm nghĩ dân gian tạo nên “một thiên phú biệt ly” (Vũ Trinh), một hệ thống ký hiệu nghệ thuật diễn tả thấm thía sự chia cách lưu luyến của một đôi lứa từng có cuộc sống hạnh phúc yên ấm có tình thương và sự che chở, đùm bọc… Trong đoạn Hoạn Thư bắt được quả tang Thúc gặp Kiều ở Quan Âm Các - tấn kịch còn kinh khủng hơn cả lúc họ gặp lại nhau trong cảnh “Con ở chúa nhà đôi nơi” tại dinh Hoạn Thư, chúng ta càng thấy rõ hơn điều này: tình thương giữa chốn “địa ngục ở miền nhân gian” quả là điều quý giá nhất trong bản lĩnh tâm hồn - nghệ thuật của đại thi hào. Ở “trường đoạn phim” (sequence) này - chúng tôi tạm dùng khái niệm của điện ảnh, bởi tính kịch cao và chất xi-nê rất rõ của nó - sự xung đột tâm lý được miêu tả với một “phương pháp tâm lý tàn nhẫn”, theo cách nói của ông Phan Ngọc [14, tr.172], và chính tình thương đã giúp cho nhân vật thoát khỏi “đoạn đầu đài” của sự đày đọa, lăng nhục khủng khiếp! Dù Hoạn Thư khi “xem người viết kinh” đã khen Kiều: “Bút pháp đa tình” (lần trước thì “ngẩn ngơ chút tình”, “Rằng tài nên trọng mà tình nên thương”) thể hiện tình thương của kẻ bề trên có học hành, nhưng cũng còn hơn những kẻ “buôn thịt bán người” mà Kiều đã gặp và sẽ gặp trong bao nỗi đoạn trường của mình! Tình thương đó của họ Hoạn xuất phát từ sự “lân tài” -  từ thương tài, đến thương tình đối với một con người hiện thua kém mình về mọi thứ, nên lý giải được phần nào vì sao bà ta nín nhịn, kìm hãm, tự chủ được trước cảnh “Nỗi ông vật vã nỗi nàng thở than” được chứng kiến trước đó suốt nửa canh giờ! Và điều này cũng là cơ sở tâm lý cho việc Kiều tha bổng Hoạn Thư sau này. (Còn trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Hoạn Thư đã bị Kiều sai đánh nát thịt, phục thuốc thang nửa tháng mới khỏi). Dĩ nhiên, Nguyễn Du cũng cho người đọc thấy rõ sự khác biệt trong Tình thương - như hai phẩm cách tâm hồn của hai nhân vật nữ này: Kiều thì thông minh, tài hoa, nhân hậu (“Tiếc công cha mẹ thiệt đời thông minh”, “Anh hoa phát tiết ra ngoài”); còn Hoạn thì “sâu sắc nước đời”, “khôn ngoan đến mực” của tầng lớp quý tộc, nhưng lúc cần cũng biết gợi vào Tình thương cùng tấm lòng trung hậu ở Kiều: “dứt tình chẳng theo”, “Cũng nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.

     Nhưng điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở “trường đoạn” này là tình thương của chàng Thúc. Dù chí khí tầm thường, tính cách yếu đuối, ủy mị, bản lĩnh thua xa vợ cả, dù lúc Kiều cần đến chỗ níu kéo cuối cùng là ông chồng hờ, Thúc chỉ biết: “Sụt sùi giở nỗi đoạn trường/ Giọt châu lã chã đẫm tràng áo xanh”, thì cũng cần công bằng với Thúc hơn: trước một người vợ ghê gớm đầy “khuôn uy” và xảo quyệt như Hoạn, điều Thúc có thể bộc lộ với người mình yêu hết lòng chỉ là nước mắt… Cần nhớ lại, chính tình thương của Kiều đối với Thúc đã cứu được bản thân (“Khóc rằng: oan khốc vì ta”… Câu 1433 ->1436), và nhờ đó, Thúc trở nên cao thượng, tha nhân (“Sụt sùi chàng mới thưa ngay”… Câu 1439-1444), khiến quan xử cũng phải xử theo Tình: “Ngoài thì là lý song trong là tình”; còn Thúc ông cũng phải cảm động, “dẹp lời phong ba” bởi “Thương vì hạnh trọng vì tài”… Xưa nay, các công trình nghiên cứu lớn nhỏ đã viết về nhân vật Thúc Sinh rất nhiều, song theo tôi đều ít (hay chưa) chú ý tới khía cạnh cạnh tâm hồn, nhân cách này của anh ta: tình thương. Lúc gặp lại Kiều, trong tâm trạng “phách lạc hồn xiêu”, câu đầu tiên Thúc kêu lên là: “Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?”… Dù ích kỷ, nhưng lúc nào Thúc cũng nghĩ cho Kiều trước khi nghĩ cho mình, và xót xa lo lắng thực sự cho Kiều trước nghịch cảnh oái oăm mà họ cùng rơi vào. Câu nói chia tay của Thúc với Kiều: “Liệu mà cao chạy xa bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi”, nhiều nhà nghiên cứu cùng dư luận chung là chê bai Thúc, nhưng chúng tôi lại cho rằng đó thực ra chỉ là cách mà Thúc cố tình phũ phàng để Kiều đỡ đau lòng, anh ta phải cắn răng lại để nói câu ấy trong nước mắt… Nước mắt của Thúc như vậy không những trở thành ký kiệu nghệ thuật nhằm ám chỉ tính cách và những cảnh ngộ Thúc rơi vào mà còn có thể trở thành biểu tượng của một loại người yếu đuối với tình thương bất lực. Bất lực thì chỉ đáng thương chứ không đáng giận đáng trách. Họ đã có mối nghĩa tình “vàng đá” (“Trước còn trăng gió sau ra đá vàng”), chính là cơ sở tâm lý để sau này vì sao Kiều đã trân trọng Thúc đến thế: “Nghĩa trọng nghìn non”, “Người cũ”, “Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là…” - những từ ngữ đã “dệt” nên cả một biểu tượng của Tình thương và Ân nghĩa! Với tình thương và ân nghĩa họ đã có và vẫn dành cho nhau như thế, nên khi ông Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục cho rằng: “cái giá trị của chàng Thúc Sinh không đáng một đồng tiền” [10, tr.98] thì có lẽ Nguyễn Du cũng phải cau mày?     

      Trên cái gốc của tình thương, những đồ vật vô tri cũng mang tâm hồn người, những điển tích xa lạ cũng trở nên gần gũi rung động lạ thường, khiến người đọc nhiều khi bỏ qua cái gốc của điển tích mà thâm nhập vào đáy lòng người. Còn tình thương khi bị đẩy tới đỉnh điểm bi kịch đã ném thời gian hiện tại vụt trở thành dĩ vãng xa vời: “Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”, “Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa”. Tình thương ập vào giấc mộng của tương lai, rồi xót xa nhập vào tâm hồn em gái, và tự biến mình thành linh hồn đau khổ bất tử: “Mai sau dù có bao giờ/ Đốt lò hương ấy, so tơ phím này/ Trông ra ngọn cỏ lá cây/ Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”. Tình thương với người yêu hóa thành lời nguyện ước ba sinh, phút chốc tự coi mình mang thân phận Trương Chi với oan hồn hiện trên chén ngọc mà chỉ nước mắt đồng cảm của người tình chung thủy Mỵ Nương mới khiến oan hồn chàng trai bất hạnh tan nổi, và chỉ lệ máu của người chồng mới làm trái tim của người vợ trong một thiên tình sử có thể tan ra: “Dạ đài cách mặt khuất lời/ Rẩy xin chén nước cho người thác oan…”.

       Tình thương rất gần với sự đồng cảm, sự trân trọng trong quan hệ luyến ái, bởi thế, khi Mã Giám Sinh chiếm đoạt thân xác nàng - hành động của một kẻ lưu manh, tác phẩm bật lên tín hiệu rõ ràng và gay gắt về bản chất của kẻ thù địch với tình thương.

      Tình thương đối với những kẻ chỉ nghĩ tới “cây tiền” là một thứ xa xỉ phẩm, song cũng nhiều khi lại là phương tiện hữu hiệu để làm cái bẫy mà những người giàu tình thương chân thật như Kiều chắc chắn mắc phải: mụ chủ chứa Tú Bà để thuyết phục Kiều đã phải “dịu lời khuyên giải” bằng thứ ngôn ngữ của Tình thương, ném ra những tín hiệu của sự quan tâm, lo lắng cho tương lai và hạnh phúc của con mồi và còn lấy “bóng mặt trời rạng soi” làm chứng cho những lời hứa hẹn ngọt ngào đó (câu 1005->1030). Sở Khanh cũng vậy, để “nuốt trôi” số tiền thuê mướn làm điều ác đức của Tú Bà, đã khoác lên mình cái vỏ của bậc thư sinh yêu thích thơ ca và cái đẹp, rồi của bậc “yêng hùng” khảng khái với những lời lẽ mang tín hiệu của một kẻ giàu lòng bác ái mang sứ mệnh “Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi”! “Tổ bợm già” Bạc Bà, Bạc Hạnh cũng chẳng có “phép màu” nào tốt hơn để lừa Kiều bằng những tín hiệu của tình thương mà chúng khôn khéo phát ra đúng chỗ đúng lúc: Bạc Bà làm vẻ ái ngại lo lắng cho cảnh ngộ nguy hiểm của Kiều khiến “còn ai dám chứa vào nhà nữa đây”, từ đó mụ mới có thể thành công việc gả Kiều cho tên buôn người “cháu” mụ; còn Bạc Hạnh thì cũng phải “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công” mà phần lớn trong đó chắc chắn là những lời hứa hẹn yêu dấu, trân trọng, chung thủy - những tín hiệu đồng dạng của tình thương!

      Thấy cô gái ăn mặc nâu sồng trong cảnh cơ nhỡ, “Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương”, và khi biết được sự thật về đồ trộm nhà họ Hoạn, bà đã “nửa thương nửa sợ bồi hồi”; việc bà không muốn giữ Kiều ở lại Chiêu Ẩn am cũng xuất phát từ sự lo lắng nếu “những sự bất kỳ” có thể xảy ra: “Để nàng cho đến thế thì cũng thương”. Tình thương còn biểu hiện bằng nghĩa: “Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau”, nên mới “thả bè lau rước người”… Khi nghe sư Tam Hợp đạo cô nói về Kiều, người con gái đã dám sống giữa những chốn đoạn trường mà “Lại mang lấy một chữ Tình/ Khư khư mình buộc lấy mình ở trong”, điều duy nhất mà sư Giác Duyên thốt lên là nỗi xót thương, như một tiếng khóc nghẹn ngào: “Một đời nàng nhé thương ôi còn gì”. Trong buổi báo ân báo oán, Kiều đã trả ân nghĩa cho người đã cưu mang thương xót cho mình khi “lỡ bước sẩy vời” bằng những hành động và lời nói được diễn tả qua những câu thơ xúc động vào loại bậc nhất trong Truyện Kiều (câu 2341->2350); riêng câu “Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương” có thể coi là một sự khái quát độc đáo và trực cảm bằng ngôn ngữ thi ca về giá trị của tình thương trong cõi đời “sinh ký” này!

      Khi Kiều ở lầu xanh lần hai, tình thương của Từ Hải - trong cảm nhận của Kiều tại thời điểm ấy, ở thân phận ấy, là “lượng cả bao dung”, là “rộng thương cỏ nội hoa hèn”… Nhưng với Từ Hải, tình thương của ông lại xuất phát từ sự tri kỷ (“Cười rằng Tri kỷ trước sau mấy người”). Khi Từ Hải ra đi, tình thương của Kiều lặn trong nỗi nhớ nhung thăm thẳm: “Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm”… Đó là những tín hiệu nghệ thuật hàm chứa chính xác nhất quan hệ tình cảm đặc biệt giữa người anh hùng và mỹ nữ sa cơ trong tác phẩm. Và có sự tri kỷ đó, tình thương của Từ Hải mới không trở thành sự ban ơn, và sau cuộc báo ân báo oán hoàn mỹ, tình cảm “Xót nàng còn chút song thân” của Từ Hải càng thấm vào lòng người đọc, bởi con người “ngất trời sát khí”, “đùng đùng sấm vang” đó cũng là con người có một tình thương rất “người”, với tâm lý của đời thường: “Sao cho muôn dặm một nhà/ Cho người thấy mặt là ta cam lòng”. Cũng bởi tình thương chân thật và đời thường đó mà Từ Hải khi nghe nàng “nói mặn mà” đã dẫn đến cái chết thảm khốc và sự đổ vỡ cả một sự nghiệp đang lừng lẫy “giữa trần ai”!

      Một kẻ “mặt sắt” như quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến cũng phải “ngây vì tình”, phải “nhăn mày rơi châu” trước tiếng đàn “nhỏ máu năm đầu ngón tay” của Kiều! Đừng vội bảo tình thương của ông ta trong Truyện Kiều là giả dối! Ở Kim Vân Kiều truyện, Đốc phủ Hồ Tôn Hiến chỉ rầu rầu nét mặt khi Kiều khóc nức nở xin một nấm đất để đắp điếm hài cốt Từ Hải, còn sau đó lúc dở say thì yêu cầu Kiều đàn cho tướng sĩ cùng nghe, Kiều đàn xong thì tỉnh queo hỏi đó là khúc gì mà sầu thảm thế? Câu trả lời của Kiều về mối tình đau xót ngày xưa phổ vào khúc “Bạc mệnh oán” chỉ dẫn đến việc hắn khuyên Kiều đừng tiếc tên giặc vong mạng ấy mà tìm đến kẻ tri âm là hắn, và cùng hắn bách niên giai lão [16, tr.330]. Cái tình thương của Hồ Tôn Hiến trong Truyện Kiều là có thực, dù thô lỗ và mang tính ban ơn của một bạo chúa, nhưng rõ ràng là có cơ sở tâm lý, nảy sinh từ tiếng khóc giải oan thảm khốc, tiếng đàn rỏ máu, nỗi đau đớn tột cùng của một người đàn bà có khả năng cảm hóa được phần nào cả những tâm hồn sắt đá nhất - chúng nhập vào hệ thống ký hiệu giống bản hòa âm có “hợp âm chủ” là Tình thương và tạo nên “đa âm, nghịch âm” kiểu polyphony của nhạc sĩ thiên tài Đức J.S. Bach - điều này càng chứng tỏ sức mạnh to lớn của tình thương trong cảm quan hiện thực hòa với cảm hứng nghệ thuật của Đại thi hào.

     Theo bề nổi của mạch truyện, Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn là bởi khi nghe tiếng sóng triều đùng đùng liền “Nhớ lời thần mộng rõ ràng/ Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây.” Nhưng thực chất cội nguồn của hành động này chính là việc Hồ Tôn Hiến sau khi làm nhục Kiều, để gỡ thể diện cho mình đã gán Kiều cho tên thổ quan, và trước “trời cao sông rộng” nàng đã bộc bạch nội tâm: “Rằng Từ công hậu đãi ta/ Chút vì việc nước mà ra phụ lòng/ Giết chồng mà lại lấy chồng/ Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời?” Ở Kim Vân Kiều truyện, đoạn này viết: “Nàng hô lớn lên rằng: Từ Minh Sơn hậu đãi ta, chỉ vì việc nước hóa nên ngộ sát” [16, tr.306]. Nhưng với Nguyễn Du, cái gọi là “việc nước” đó chỉ là “chút” thôi, nó chẳng có nghĩa lý gì so với chuyện khủng khiếp là đã “phụ lòng”! Trong chữ “phụ lòng” chứa đựng số phận của hai con người, hai kẻ “tâm phúc tương tri” từng yêu thương tri kỷ nhau hết lòng hết dạ, chỉ vì gặp phải sự lọc lừa đểu cáng mà phải tan vỡ đau đớn. Vì “phụ lòng” mà tự vẫn thì cái chết đó mới có sức nặng của sự đau đớn hối hận cùng cực, chứ chỉ là việc “ngộ sát” thì Nguyễn Du chắc sẽ khó thốt lên lời thương như sau trước cảnh “đắm ngọc chìm hương”:

Thương thay cũng một thân người/ Khéo thay mang lấy sắc tài làm chi!

      “Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương”. Với Kim Trọng, tình thương của Nguyễn Du gửi gắm trực tiếp vào nhân vật này và thông qua nỗi nhớ thương của Kiều trong bao cảnh ngộ đã tạo nên những câu thơ đầy rung động. Tình thương với Kim Trọng, nỗi xót thương cho mối tình vừa chớm nở đã tan vỡ khiến Kiều thốt lên như tát vào cái luân lý đạo đức Nho giáo đương thời: “Biết thân đến nước lạc loài/ Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”. Và sự cảm thông sâu xa xuất phát từ tình thương rộng lớn của Nguyễn Du trước tấn bi kịch của đôi tình nhân cũ đã lý giải một cách thuyết phục những điều khó nói lúc Đoàn viên của những kẻ chót “mắc điều tình ái” nhưng lại “đã nên có nghĩa có nhân”, khiến cho nhà nho Phạm Quý Thích phải ca ngợi Kiều: “Băng tâm tự khả đối Kim lang” - nhìn thẳng vào người yêu không chút hổ thẹn, và để sau này nữ giáo sư văn học họ Đặng khẳng định: “Kiều là hình ảnh tượng trưng cho “Tấm lòng như tuyết như băng” của người phụ nữ Việt Nam xưa kia” [10, tr.150].

      Mọi người vẫn nói rằng Thúy Vân tròn trịa, vô tư, ít tình… Nhưng theo chúng tôi, nàng Vân chỉ không đa sầu đa cảm như chị mình thôi. Nếu đặt trong hệ thống biểu nghĩa đồng dạng của “trường tình thương” mà chúng tôi đã đề cập ở trên, thì họ “Một người một vẻ mười phân vẹn mười” trong thế giới tình cảm đó. Nếu ít tình, Vân đã không thể thay chị nói với cha mẹ lúc “tan đàn xẻ nghé” với nỗi đau của chính Kiều thế này: “Lời con dặn lại một hai/ Dẫu mòn bia đá không sai tấc vàng”, và sau đó suốt 15 năm ròng tận tụy thực hiện lời trao duyên của chị dù không có tình yêu, lại thông cảm hết lòng với nỗi đau và khát vọng tìm Kiều của Kim Trọng. Lời Vân “giãi bày một hai” lúc đoàn viên gia đình mong Kiều - Kim tái hợp (câu 3063 ->3076) hoàn toàn không có chút gì khiên cưỡng, ép buộc, xã giao, mà xuất phát từ tấm lòng thơm thảo của một cô em gái hiểu hơn ai hết nỗi đau của chị và sức nặng “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình” của hai người…

      Thương đời thương người bao nhiêu, Kiều lại thương mình bấy nhiêu: “Giật mình mình lại thương mình xót xa.” Chính sự thương mình đó, “một mình mình biết một mình mình hay” cũng là một thế giới sâu kín cho Kiều ẩn náu, “dùi mài một thân” giữa bao nhơ nhớp của đời để gìn giữ trọn vẹn phẩm cách và lương tâm… Thương mình, trong hầu hết trường hợp đã gia nhập tích cực vào “hợp âm chủ” tình thương, và khi “điểm nhìn” chuyển sang tác giả, “Tiếng thương” biến thành tiếng thét đòi quyền sống quyền làm người: “Chém cha cái số hoa đào/ Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi”.

***

      Với Truyện Kiều, Đại thi hào Nguyễn Du đã tạo nên một “ma trận” của tình thương mà theo chúng tôi trong văn học Đông - Tây kim - cổ hiếm có. Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn khái quát: “Nguyễn Du vĩ đại vì cái tình đời, tình người sâu thẳm trong ông” [18, tr.256]; và nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chú, “Thiên tài của Nguyễn Du trước hết là tình thương con người” [2, tr.25]. Còn “Cái tình vằng vặc như mảnh trăng giữa trời” đó của Truyện Kiều qua cảm nhận của nhà văn đa tình Lưu Trọng Lư [13, tr.139], xưa nay đã được hàng vạn trang sách báo bàn tới mà vẫn chưa cùng, và sắp tới cần phải khai thác thật rộng thật sâu nữa trên góc độ của lý thuyết ký hiệu học và liên - văn hóa (acculturation)… Với kiến thức hạn hẹp, chúng tôi đã dám liều mạng “xới” lên một vấn đề “quen mà lạ” (chữ của Nguyễn Đình Chú), chắc chắn có nhiều khiếm khuyết, mong được các bậc thầy chỉ giáo.

Hà Nội, tháng 02-2021
MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN

Tài liệu tham khảo:

[1] Đào Duy Anh (2007), Từ điển Truyện Kiều, Tái bản. Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

[2] Nguyễn Đình Chú (2015), “Nguyễn Du - Thiên tài. Vấn đề đã quen mà còn lạ”, Cõi người ta (Tập 1) Nxb Hồng Đức, Hà Nội.

[3] Nguyễn Du (2015), Truyện Kiều, Nxb Trẻ & Hội Kiều học Việt Nam, Hà Nội. (Các trích dẫn Truyện Kiều trong bài đều theo sách này)

[4] Lê Quý Đôn (1995), Vân đài loại ngữ (Tạ Quang Phát dịch), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

[5] Mộng Liên Đường (2007) “Bài Tựa Truyện Kiều” (Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim dịch), Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều (Lê Xuân Lít tuyển chọn, giới thiệu), Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

[6] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên) (1992), Từ điển thuật ngữ văn học. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[7] Nguyễn Hùng Hậu (2004), Triết lý trong văn hóa phương Đông, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

[8] Cao Kim Lan (2015), “Biểu tượng từ ký hiệu học đến tu từ học tiểu thuyết”. Nguồn: http://vannghiep.vn/bieu-tuong-tu-ki-hieu-hoc-den-tu-tu-hoc-tieu-thuyet (Truy cập: 5-9-2019).

[9] Đặng Thanh Lê (1999), Giảng văn Truyện Kiều. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[10] Đặng Thanh Lê (1979), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm. Nxb KHXH, Hà Nội.

[11] E. Fischer-Lichte & Iu. Lotman (1997), Ký hiệu học nghệ thuật Sân khấu - Điện ảnh (Bùi Khởi Giang & Bạch Bích dịch), Viện Nghệ thuật và lưu trữ Điện ảnh Việt Nam XB, Hà Nội.

[12] Lưu Trọng Lư (2013), “Một cuốn kinh về tình thương”, Tản Đà, Lưu Trọng Lư - Truyện Kiều trong văn hóa Việt Nam (Nguyễn Hương Mai sưu tầm, tuyển chọn), Nxb Thanh Niên, Hà Nội.

[13] Lưu Trọng Lư (2007), “Mấy lời chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều”, Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều (Lê Xuân Lít tuyển chọn, giới thiệu). Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[14] Phan Ngọc (2001), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Tái bản. Nxb Thanh niên, Hà Nội.

[15] Lã Nguyên (2018), Phê bình ký hiệu học. Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ. Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

 [16] Phạm Đan Quế (2003), Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện - So sánh, đối chiếu, chú giải. Nxb Thanh niên, Hà Nội.

[17] Trần Đình Sử (2002), Thi pháp Truyện Kiều. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[18] Trần Nho Thìn (2008), Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[19] Liễu Trương (2011), Phân tâm học và Phê bình văn học. Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

[20] Mai An Nguyễn Anh Tuấn (2015), “Truyện Kiều: Từ văn học tới điện ảnh - một phương thức diễn dịch nghệ thuật”. Nghiên cứu văn học, số 8.

[21] Trần Ngọc Vương (1999), Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam. Nxb ĐHQG Hà Nội.

 ( Trong sách NGUYỄN DU- HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT Sắp in)

 

Send comment
Your Name
Your email address
Thursday, January 20, 201112:00 AM(View: 147821)
đêm phố cổ tạ ơn một nàng thơ cuối cùng vẫn còn biết giật mình trước mắt đêm chai lì như mắt loài chuột cống
Wednesday, January 19, 201112:00 AM(View: 119192)
“Theo Trần Trọng Kim nhận rằng thơ là của Lý Thường Kiệt. Nhưng nói chắc là Thường Kiệt làm được thơ thì không có gì làm bằng cứ”[15]. Sau này, Bùi Văn Nguyên phân tích các cứ liệu và đoán định rằng: “Như vậy tác giả bài thơ “thần” này là khuyết danh”[16]. Bùi Duy Tân tiếp tục hướng này và chủ trương rằng “bài thơ này nên để khuyết danh tác giả”[17]...
Wednesday, January 19, 201112:00 AM(View: 100298)
Hắn tỉnh lại đột ngột. Bốn năm người thanh niên đang kéo hắn ra từ dưới lườn xe. Hắn nếm được vị mặn và máu, một đầu gối bị đau, và khi bị nhấc bổng, hắn phát rên, không chịu nổi sự đụng chạm trên cánh tay mặt. Những tiếng nói như không thuộc về những khuôn mặt treo ở trên hắn đang bông đùa vỗ về và bảo hắn yên tâm.
Wednesday, January 19, 201112:00 AM(View: 104833)
Khi tòa báo đề nghị tôi tham gia viết về các nhà văn mà giá trị được cường điệu cao hơn giá trị thật của chính họ, tôi đã nghĩ sẽ từ chối. Tại sao phải tự mình tạo thêm kẻ thù một cách miễn phí? Rồi Robbe-Grillet xuất hiện trong đầu.
Wednesday, January 19, 201112:00 AM(View: 120207)
Sư thày trụ trì ngôi chùa làng là người có học. Chẳng bao lâu hắn đã có thể trò chuyện như một người bạn tâm giao. Giáo lí nhà phật trong nhiều năm đã trở nên mờ nhạt với tuyệt đại đa số những con người tất bật với cuộc sống hôm nay. Cái hiểu biết về đền chùa miếu mạo của hắn cũng chỉ dừng ở mức không nhầm lẫn giữa nơi này với nơi khác. Bởi thế được trò chuyện với sư thày mỗi tháng vài lần là điều làm hắn vô cùng thích thú.
Wednesday, January 19, 201112:00 AM(View: 143677)
Một cái chức nhỏ nhẹ Một cái chức lăn như cỏ lông chông Mơ đeo vào tay xòe ra giữa nắng Mơ đeo vào gót chân mỗi bước mỗi khua vang rổn rảng
Wednesday, January 19, 201112:00 AM(View: 128075)
Hoa ôm cứng lấy tôi. Hoa bảo: Hãy yêu Hoa đi. Nắng buổi chiều chiếu rọi xuyên qua bản vẽ làm rách nát từng đường trên cơ thể Hoa. Tôi nằm dát người trên chiếu, nghe tiếng súng nổ và hiểu Đà-nẵng đang cơn hấp hối.
Wednesday, January 19, 201112:00 AM(View: 142590)
một con thuyền dính bùa ngải của sông ý nghĩ găm đầy tháng năm mắc cạn em cố quên làm gì! khi ngay cả cánh tay anh cũng ảo
Wednesday, January 19, 201112:00 AM(View: 112868)
Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Ngô Thế Vinh còn là một sinh viên y khoa, đảm nhiệm chức vụ chủ bút cho tạp chí Tình Thương, tờ báo của những người sinh viên áo trắng. Trong thời gian này tôi là một sĩ quan rất trẻ của QLVNCH. Cả Ngô Thế Vinh và tôi bị cuốn vào một biến động làm rung chuyển rừng núi Tây Nguyên: vụ nổi loạn đòi tự trị của những sắc tộc thiểu số, mà báo chí thời đó gọi là FULRO.
Wednesday, January 19, 201112:00 AM(View: 119452)
...Chết tuy biết vì sao mình chết, do đâu mình chết mà không làm gì được. Chết một lần dưới làn đạn Tây dương. Chết thêm một lần về tinh thần bởi lòng trung bị khủng hoảng, bị phản bội, ấy là thời đại của những con người như Hoàng Diệu, ấy là những anh hùng cứu nước như Hoàng Diệu...
Friday, August 7, 2026(View: 3823)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Saturday, August 16, 2025(View: 13280)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, December 18, 2024(View: 19647)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Wednesday, December 18, 2024(View: 18620)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Sunday, October 18, 20266:14 PM(View: 1615)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Sunday, October 18, 20266:04 PM(View: 1769)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Friday, October 9, 20266:39 PM(View: 2287)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
Friday, October 9, 20266:09 PM(View: 2406)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(View: 1448)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(View: 2206)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(View: 1945)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(View: 1988)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Sunday, October 18, 20264:43 PM(View: 1363)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
Friday, October 9, 20265:49 PM(View: 2397)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Friday, October 2, 202612:54 AM(View: 2605)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Wednesday, September 23, 202610:53 PM(View: 2365)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Tuesday, October 27, 2026(View: 234)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Wednesday, October 21, 2026(View: 796)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Monday, October 19, 2026(View: 989)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Monday, October 19, 2026(View: 1101)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
Friday, June 5, 2026(View: 6400)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, June 6, 2025(View: 15879)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Friday, December 22, 2023(View: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Wednesday, April 27, 2022(View: 38854)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(View: 1472)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(View: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(View: 6893)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(View: 10667)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(View: 9869)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(View: 9998)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(View: 10794)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Monday, September 14, 20262:19 AM(View: 3438)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
Friday, October 31, 202510:09 PM(View: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Saturday, October 25, 20251:53 AM(View: 10351)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi