- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HÀM RĂNG CỦA TOBY

14 Tháng Hai 20219:45 CH(Xem: 43061)


HÀM RĂNG CỦA TOBY

 

Guillermo Barquero

Trần C. Trí chuyển ngữ

 

LTS:

Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp-Lưu, dịch giả Trần C. Trí cư ngụ tại Little Saigon, Orange County, tiểu bang California và hiện đang dạy tiếng Việt & Ngôn Ngữ học tại  University Of California Irvine. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu truyện ngắn “Enterrar los dientos blancos” của tác giả Guillermo Barquero từ tiếng Tây Ban đo Trần C. Trí chuyển ngữ.

Tạp Chí Hợp-Lưu

 

 

Guillermo Barquero
Guillermo Barquero
sinh năm 1979 ở San Jose, Costa Rica. Ông là tác giả của các tuyển tập truyện ngắn “Metales pesados” (‘Những Tấm Kim Loại Nặng nề’ - 2009) và “Esqueleto de oruga” (‘Bộ Xương Của Loài Sâu’ – 2010), cùng hai cuốn tiểu thuyết “El diluvio universal” (‘Cơn Đại Hồng Thuỷ’ – 2010) và “Combustión humana espontánea” (‘Nhân Loại Bốc Cháy’ – 2015). Ông được giải thưởng Áncora dành cho truyện ngắn “Metales pesados” và truyện dài “El diluvio universal”. Truyện ngắn dưới đây, “Enterrar los dientos blancos” (Nghĩa đen: ‘Chôn Đi Hai Hàm Răng Trắng’), được tuyển dịch từ tác phẩm “Anatomía comparada”, xuất bản vào năm 2018, bao gồm các truyện ngắn Guillermo Barquero đã viết từ 2000 đến 2017.




Ernesto hình dung ra cùng một lúc thân hình đang say ngủ của Maria José và cái xác con chó chết bên vệ đường. Bất giác, anh không biết làm sao hơn là vội lấy tay xoá đi hai hình ảnh ấy, nhưng chỉ kịp để che cái ngáp khô khốc của mình.

Anh đã ở Puntaneras1 được một tuần lễ, cứ hai hôm lại gặp gỡ các tay đầu tư nhàm chán đó một lần. Dẫu sao thì anh cũng chẳng kỳ vọng chuyện gì to tát; chẳng hạn như một tấm thiệp mời viết tay, viền quanh bằng những dây hoa leo theo kiểu Nghệ Thuật Tân Hình Thức, chẳng gợi được chút cảm hứng nào cả. Có lúc anh lại trầm mình trong cái hồ tắm nước vẩn đục, dường như chẳng ai coi sóc, thật tương phản với phần còn lại của vùng biển này, lúc nào cũng hào nhoáng và rộn rã tiếng nói cười của giới làm ăn buôn bán, kể cả những cung cách phục vụ tận tuỵ đến nỗi cuối cùng Ernesto đâm ra ngán tất cả: bãi biển, những cuộc trao đổi thương vụ, những cú điện thoại với Maria José một ngày hai ba bận. Anh chỉ muốn gặp cô để hôn hít và thủ thỉ với cô về những chi tiết vặt vãnh mà chính anh cũng chẳng lấy gì làm hứng thú, những điều nhỏ nhặt về mặt trái của chuyện làm ăn, những lúc kỳ kèo bớt một thêm hai, và tất cả những điều khuất tất lố bịch trong đó.    

Về đến nhà, phải khó nhọc lắm anh mới mở được cánh cửa to lớn và đen đúa—lòng anh chợt thấy nao nao, chùm chìa khoá bỗng như hoá thành một khối sền sệt. Anh bước vào nhà bếp. Maria José đang đứng quay lưng lại. Cô đang kỳ cọ cái gì đó trong bồn rửa và hát một điệu nhạc không rõ lời bằng giọng rung rung. Ernesto đụng vào lưng cô, rồi đôi tay anh tìm ngay đến bộ ngực nhỏ nhắn, không mặc xu-chiêng của cô. Hai người hôn nhau, và một trong hai người thì thào gì đó về khoảng cách xa xôi và phi lý đã ngăn cách họ vì những cú điện thoại—người thì ở Costa Rica, kẻ thì như ở tận miền núi non nào đó của xứ Nepal—vì những âm thanh bị nhiễu qua đường dây viễn liên, mà trong thời đại này đáng lẽ phải giúp họ nghe nhau thật rõ ràng. Maria José hỏi thăm anh về chuyện làm ăn. Xong xuôi cả rồi, anh bảo, giọng thoáng chút châm biếm, làm ra vẻ chắc ăn. Bọn họ là những kẻ lắm tiền nhiều của, anh thêm vào. Rồi cả hai lại hôn nhau.

- Trên đường đi anh thấy một con chó—Ernesto nói, sau khi đã uống gần hai ly nước lạnh và cởi phăng cái sơ-mi ra, như thể anh còn đang ở vùng biển bên ấy.

- Một con chó à?

- Phải, một con chó.

- Con chó thế nào?

- Nó đã chết, thật tội nghiệp.

- À, chắc nó tan xác phải không anh—Maria José thốt lên, một tay chống nạnh, cô biết rằng miền đất này có thể còn đầy dẫy mìn chôn giấu. Cô hỏi han về địa điểm chính xác (anh qua khỏi cái cầu trước kia sơn màu xanh, sau đó được sơn lại màu vàng), về màu lông của con vật (màu nâu nhạt, lúc đó anh đang đi qua thật nhanh nên không nhìn rõ lắm), về đường đi (con chó nằm bên lề phải). 

- Em à, anh dám chắc với em đó là con Toby.

- Ernesto...

- Anh biết, anh biết mà.

Ernesto đã chứng kiến con Toby với cái lưỡi thè dài ra, cặp mắt như hoá thành hai con đom đóm nhầy nhụa. Có kẻ nào đã đánh thuốc độc nó. Ernesto bắt gặp con vật đã nằm cứng đờ sau vườn, cạnh luống hoa pensée đã bị dẫm nát. Từ hôm đó đến giờ đã gần hai tháng. Hai người đồng ý với nhau rằng không thiếu gì những con chó loại Cocker Spaniel trông rất giống Toby, cũng có đôi tai dài tương tự và dáng mệt mỏi, già nua của nó.

- Em biết đó, dù sao đó cũng là một chuyện có thể xảy ra.

Tuy vậy, cả hai đều hiểu ngược lại, Maria José cũng bảo anh như thế.

- Ernesto, anh đi ngủ một chút cho khoẻ, rồi anh sẽ quên chuyện con chó đó thôi. Làm sao biết được có bao nhiêu con chó chết ở những nơi đó hằng ngày. Chúng nó ra khỏi nhà, đi lạc và khi người ta biết được thì đã...

- Mỗi tháng có hai ngàn con như vậy ở trung tâm Chepe2.

- Nhiều vậy sao?

- Không đâu em, vậy là còn ít đó, đúng ra là người ta chưa nói ra hết sự thật phũ phàng đó thôi.

Ernesto uống thêm một ly nước. Bây giờ thì anh không còn cảm thấy mình đang ở vùng biển nữa. Cái lạnh ở San José vào khoảng sáu giờ chiều khiến ai cũng phải quên đi những ngày nghỉ mát thần tiên ở Puntarenas, ở Limón, ở Cancún, hay ở đâu đâu đi nữa. Anh đi vào phòng, định nằm nghỉ khoảng nửa giờ đồng hồ trước khi ăn tối. Anh nhớ lại những bữa ăn buffet trong khách sạn, chỉ cần bước ra khỏi phòng, lấy một cái đĩa trắng nằm trong chồng đĩa sáng choang, rồi tha hồ chọn các món ăn chơi mà tên gọi cũng dễ quên như đủ thứ mùi vị trộn lẫn vào nhau của chúng; uống một ly rượu ngoại quốc, thấy ngà ngà say sau ba chai bia; đoạn quay qua mặc cả, thương lượng với mọi người hay chỉ giả vờ làm ra như thế qua men say của rượu, rồi cuối cùng đi về phòng để tắm.

Anh thức giấc lúc gần sáng. Trong một thoáng, anh ngỡ như mình đang bị kẹt dưới gầm một chiếc xe đang kêu lên ken két lúc xảy tai nạn. Nhìn sang, thấy Maria José đang ngủ say, quay lưng lại với anh. Chợt anh thấy bụng quặn lên và nhớ ra rằng mình đã ngủ thiếp đi mà không ăn uống gì cả. Anh khó nhọc lê chân qua phòng tắm. Vai và chân anh va vào cánh cửa đau điếng, trong khi những ngón tay của anh vụng về quờ quạng về phía cái nút bật đèn. Anh đứng tiểu tiện trong cơn ngủ vật vờ rồi quay trở vào giường. Cảnh tượng con chó chết lại lởn vởn trong đầu anh, trần trụi và phũ phàng trong trí nhớ, xác nó đứt làm đôi, lòi cả ruột gan ra ngoài vì bị một chiếc xe nào đó cán phăng lên. Chắc đúng nó là con Toby. Maria José và anh chưa muốn có con nên Toby như là đứa bé cưng trong gia đình, chuyên làm những trò mang lại tiếng cười cho cả nhà. Vậy mà anh đã thấy tận mắt cái chết vì bị đầu độc của nó.    

Anh lại chạy vào buồng tắm. Lần này chỉ va nhẹ vào chân giường. Anh thoáng nhìn thân hình nằm nghiêng của Maria José đang phập phồng theo từng hơi thở. Anh thấy như có cát từ tai rơi xuống, những hạt cát mà mấy ngày sau vẫn còn sót lại khi anh trở về từ vùng biển, từ vùng cát mặn xa xôi, những dư vị rã rời và buồn bã đó...; anh lại thấy đôi tai ửng màu xanh tái của con Toby và chợt rùng mình vì lạnh. Anh không thể nào không nghĩ đến cái xác cứng đờ, đến cái lưỡi không còn mềm mại nữa của nó, giờ chỉ còn là một đống bầy nhầy của sự chết.

Trước khi bật đèn trong phòng lên, Ernesto sờ soạng kiếm cái chăn trong bóng tối, như người đang tìm một món vũ khí vì bất giác có linh cảm mình đang bị sơ hở trong việc phòng thủ. Anh ngồi xuống một cái ghế cách Maria José khoảng hơn một thước, co ro và chờ đợi. Cô không nhúc nhích. Ernesto ho lên một miếng. Miệng anh có vị cát mằn mặn. Cô cũng chẳng hề nhúc nhích.  Anh giẫm mạnh chân xuống tấm thảm lông dày dưới nền nhà. Maria José khẽ khàng ngồi dậy. Phải vài giây sau cô mới tỉnh hẳn. Anh nói với cô rằng con chó làm anh không ngủ được.

- Biết đâu con chó ngoài đường lại chẳng là con Toby.

- Con chó anh thấy đó à?

- Em ơi, chắc con chó đó đang chạy thì...

- Không phải  đâu anh. Anh ngủ lại một chút đi.

- Anh biết là không phải. Nhưng...

- Nhưng sao cơ? Maria José hỏi lại, giọng thờ ơ.

Ernesto tắt đèn trong phòng, nằm xuống giường và cố dỗ giấc ngủ. Anh miên man nghĩ đến cái giường trong khách sạn, rộng đủ cho cả hai ba người, đến những bữa cơm tối rầm rì những tiếng nói cười say khướt, đến bãi cát mênh mông.

Anh đoán mình ngủ chưa đến một tiếng đồng hồ thì đã chợt thức giấc, hình ảnh con chó lại thôi thúc trong lòng. Anh ngồi nhổm dậy trên giường. Anh đoán thấy thân hình của Maria José phập phồng lên xuống nhịp nhàng theo giấc mơ của cô. Anh cho rằng mình có thể nhận ra được hình dáng của bộ đồ cô đang mặc trong bóng tối, trong khoảng cách giữa bước chân trên cát và trên nền xi-măng trong nhà, giữa vùng biển và căn phòng ngủ ướt át mồ hôi vì một cơn ác mộng đầy dẫy những ruột gan phèo phổi lòi ra bên ngoài cùng những cái răng trắng hếu. Ang vấp phải nhiều đồ vật vô hình trước khi mặc được quần áo vào để tính đường đi tới vị trí  gần cây cầu sơn màu vàng một cách chính xác mà không cần chỉ dẫn gì vào giờ phút khuya khoắc này. Anh tìm chùm chìa khoá trong bóng tối. Những ngón tay của anh tựa hồ như những chiếc càng của loài giáp xác, đụng vào đủ thứ: vải vóc, lổ hổng, giấy tờ, đồ trang sức, cửa, màn, thảm, và cả một cái vòi nước đang chảy. Cuối cùng, anh cũng tìm được chùm chìa khoá. Nó như một nải chuối trơn tuột đang vùng vẫy chống cự—mồ hôi tay anh lạnh ngắt, bãi cát mênh mông, những cái răng trắng hếu của con chó. Cái ổ khoá đáng ghét sao mà nhỏ làm vậy, chẳng khác gì một con vi khuẩn trong bệnh dịch đen thời trung cổ, bầy hầy và đần độn. Ernesto cố gắng vặn chiếc chìa khoá mà giờ đây như đã hoá thành một thanh gươm hay một miếng da bẩn thỉu không tài nào tuột qua cái lỗ được.

Khi đã mở ra được cánh cửa lớn, anh nghe từ bên trong tiếng trở mình của Maria José. Cô ngật ngưỡng ngồi dậy trong bóng tối. “Ngủ đi anh”, cô nói từ trong phòng ra bằng giọng mũi. Ernesto bước đi trên cái nền thô nhám ở ngưỡng cửa, sực nhớ rằng mình không mang giày. Anh trở vào phòng ngủ. Maria José đang ngồi trên giường, hai tay giụi mắt, càu nhàu hỏi anh câu gì đó. Mất mấy phút Ernesto mới kiếm ra được đôi giày da đanh để xỏ vào chân, người co rúm lên vì sợ.

- Ernesto!

- Mari, em nằm xuống đi, đừng lo.

- Ernesto, có chuyện gì vậy?

- Không có gì cả. Em ngủ đi. Không có gì cả.

- Mấy giờ rồi anh?

- Anh không biết. Anh phải đi đây. Anh đi một chốc thôi—Ernesto hạ giọng xuống, nghe nhừa nhựa và vụng về.

Maria José trở mình. Có thể đoán được hai mắt cô đang đỏ ngầu trong bóng tối vì quá mệt mỏi. Ernesto đã kể lại một câu chuyện về vùng biển, những mẩu chuyện đã bị bóp méo về các tay đầu tư, những chi tiết về các cú điện thoại liên tục bị ngắt quãng mà cả hai phải cố gắng duy trì trong tình trạng trá hình của sự thiếu liên lạc giữa đôi bên, bằng những lời lẽ âu yếm của một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Maria José nằm bất động. Cô hỏi Ernesto có chuyện gì không. Khi anh trả lời cho cô biết là chuyện về con chó, anh đã ra đứng hẳn bên ngoài, dưới một cây đèn đường. Ernesto nghĩ đến khoảng cách giữa anh và con chó, cùng hình ảnh ghê sợ của những cái bánh xe hơi—chưa tới hai cây số, đi bộ vài phút là tới nơi. Mồ hôi anh vã ra, nhớp nháp. Anh nhớ ra là mình đang mặc quần áo cùng với tất cả những món đã mang theo từ trước: cái điện thoại, hộp diêm, gói thuốc lá nhăn nhúm. Không phải là con Toby. Nhưng mà cái mõm, cái lưng màu nâu nâu... 

Anh vẫn tiếp tục đi, suýt nữa nuốt cả điếu thuốc khi anh cố mồi lửa vào nó. Anh toát mồ hôi dầm dề, như một con thú không tên lúc nửa đêm về sáng, mường tượng ra một cách vụng về hình hài của con chó đã chết, một con Cocker Spaniel không toàn thây nhe cái mõm nhọn đầy răng. Anh nghĩ đến Maria José đang nằm một mình trong đêm tối, mắt nhìn trừng trừng vào hình thù của một con chó dại trong giấc mơ, của Toby đang bú mấy ngón tay của cô, vì chẳng có đứa bé nào đang nhìn vào đôi vú của cô, đôi vú trắng nõn nà.

Cái điện thoại chợt rung lên trong túi anh. Ít nhất cũng có một thứ gì vẫn sống động trong đêm khuya. Anh thấy số điện thoại nhà hiện lên trên màn ảnh—trên cái nền màu xám sáng là những nét chữ tròn trĩnh và tám con số—anh tưởng tượng ra Maria José đang chìm mất vào mọi thứ: tấm khăn trải giường, giày dép, rèm cửa, vách tường, và cả cái vòi nước vẫn đang chảy. Ernesto không trả lời cú gọi. Anh vẫn tiếp tục bước đều chân, với hình ảnh của một cái lưng đang chờ đợi anh, của bộ lông đang nài nỉ một bàn tay run vẩy ve vuốt nó.

Anh băng qua mấy khu phố liên tiếp, điếu thuốc trước chưa cháy hết anh đã mồi tiếp điếu sau. Cái điện thoại lại rung lên. Cái im ắng của con đường—anh đoán chỉ còn đâu hơn một ki-lô-mét nữa là đến nơi, bỗng dưng như trở thành cả trăm cây số vì cảnh hoang liêu đã đem lại cảm giác như thế—khiến tiếng rung của điện thoại trở nên rõ mồn một, như một tiếng thét nhỏ, uất nghẹn và khó chịu. Anh lại thấy số điện thoại nhà trên màn ảnh. Anh loay hoay tìm cách tắt tiếng reo của điện thoại nhưng chiếc máy nhỏ lì lợm này vẫn không chịu khuất phục. Anh không có ý định vất nó xuống một cái cống nào đó hay tắt hẳn đi, mà chỉ muốn làm sao cho nó im tiếng. Điện thoại lại reo lên lần nữa, kéo dài cho đến một lúc rồi mới chịu ngưng. Anh hình dung ra các ngón tay của Maria José lần mò trên những cái nút điện thoại trong bóng tối, chống cự với cơn buồn ngủ vì kiệt sức. Đây là lần thứ nhất, kể từ khi ở Puntarenas về, Ernesto muốn biết lúc đó chính xác là mấy giờ. Mất liên lạc với ý niệm về thời gian, anh thấy cả thân hình mình chỉ là còn là một khối thinh không. Không sợ hãi, không hoảng hốt, không lo âu, chỉ là một nỗi trống rỗng không hình hài nhói lên ở phần giữa ngực và rốn, trên con đường khuya im ắng.

Khi chợt nhớ ra rằng có thể xem giờ trên điện thoại, Ernesto rút nó từ trong túi ra. Cái điện thoại lại rung lên vài đợt, lần này không phát ra tiếng nữa. Có một tin nhắn: “Ernesto, không phải đâu”—Maria José viết. Anh không thể nhịn cười khi nghĩ đến cô đang chìm đắm trong làn khói độc của những giấc mơ dồn dập, đang chuyện trò với anh qua điện thoại sau khi tín hiệu bị ngắt quãng. Cô kể lể rằng bệnh viện đã khiến cô thành dở sống dở chết, lúc nào cũng buồn ngủ hay mệt mỏi một cách lạ thường, chẳng khác nào như trong một cơn ác mộng kinh hoàng. Ngay sau đó, điện thoại lại rung lên. Dòng tin nhắn viết: “Không phải thuốc độc đâu anh.” Ernesto đâm hoảng. Lúc bấy giờ anh mới nhận ra rằng mình đang đi từ đường này qua đường khác, từ giờ này qua giờ nọ mà không thấy một bóng người, trong thời khắc mà chuyện gì cũng có thể xảy ra: cướp bóc, giết chóc hay đầu độc. “Không, không phải thuốc độc đâu”—tin nhắn thứ ba gởi đến. Ernesto không biết Maria José có bấm nút gởi đi liên tiếp trong cơn ngái ngủ không, hay cô muốn nhấn mạnh điều gì mà anh không thể nào hiểu nổi.

Ernesto bấm số điện thoại nhà, không biết bây giờ có nên quay về chăng.

- A-lô, giọng của Maria José vẳng lại từ một thế giới khác, cái màng nhện chập chùng của riêng cô.

- Mấy cái tin nhắn của em có ý gì vậy?

- Tin nhắn nào?

- Tin nhắn em gởi cho anh đó. Ý em muốn nói gì?

- Mấy giờ rồi anh?

- Anh nghĩ là em phải biết chứ—Anh phác hoạ ra hình ảnh cô trong phòng ngủ, quơ tay tìm cái đồng hồ báo thức màu đỏ mà sáng nào cũng rống lên như một con thú bị thương để đánh thức hai người dậy.

- Em không biết thật mà, giọng Maria José nghe nghèn nghẹn. Điếu thuốc đang tuột dần khỏi mấy ngón tay của anh, những sợi dây thần kinh đang căng phồng lên.

- Em muốn nói gì về chuyện thuốc độc?

- Ernesto, mấy giờ rồi anh? Giọng cô khản đặc nước bọt, chìm lấp trong nhiều lớp chăn dày cộm.

- Giải thích cho anh nghe về mấy cái tin nhắn của em, Ernesto nói, gần như thều thào.

- Ernesto, không phải con chó chết tiệt đó đâu, Maria José thốt lên. Ernesto nghe như máu huyết trong người đang biến toàn thân anh thành một khối đục ngầu, sền sệt. Maria José miên man nói tiếp; cô bảo con chó chết tiệt ngoài đường không phải là con chó chết tiệt trong khu vườn, rằng lũ thú vật thì con nào cũng đần độn như con nào, cũng đáng bị đầu độc như loài sâu bọ—Anh đừng có nói với em rằng từ ngày không còn con Toby nữa, anh không biết là chúng ta đã tiết kiệm được rất nhiều, cô còn thêm vào như vậy. Ernesto chẳng hiểu là cô đang nói với anh hay đang lảm nhảm một mình trong giấc ngủ chập chờn.

- Anh không hiểu gì hết, Ernesto đáp, vờ nói bằng giọng của một kẻ khác, cao và trong như giọng trẻ con.

- Đĩa thức ăn hôm đó, anh nhớ không. Với mấy mũi thuốc chích ngừa nữa—cô nói giọng ráo hoảnh. “Thuốc độc!”, Ernesto sực nhớ ra. Và bàn tay của Maria José đặt trên lưng Toby, vẻ mặt hết sức dửng dưng của cô, bàn tay khẳng khiu của cô như đang bắt chước một con búp-bê bằng gỗ đặt trên bộ lông màu vàng đậm của con chó, mỗi khi nó sán lại gần cô, ve vẩy cái đuôi màu tối, “đứa con” của hai người, cùng với tất cả những trò ngây ngô của nó.

- Anh đang ở đâu đó, anh yêu?—Maria José hỏi. Trong những giây phút đó, Ernesto thấy cô gọi anh là “anh yêu” bằng một giọng hết sức kệch cỡm.

- Maria José, em nói tiết kiệm là sao?

Cô nói lúng búng gì đó không rõ ràng. Anh nghĩ là cô đang giả vờ nói mê. Trong giấc ngủ, người ta có thể biện minh cho tất cả những lời lẽ nào độc địa, phũ phàng nhất.

- Vậy ra em đã đầu độc con Toby à? —anh run rẩy hỏi, cảm thấy mặt nóng hực lên, phồng to ra như một thứ trái cây đỏ loét trên đôi vai của chính mình.

Maria José đã kể lại một câu chuyện từ những chỗ sâu thẳm nhất của một cơn say ngủ mê man. Câu chuyện về tiếng ru ma quái dành cho một đứa bé chưa chào đời trong vòng tay nhỏ nhắn, nâu sạm của cô, với bài tiểu luận về vùng ngoại ô và món tiền nguyệt liễm đóng cho câu lạc bộ thể dục. Và thực phẩm, và Ernesto, và những món chi tiêu không ai để ý đến cho tới khi chúng đã ngập đến tận cổ. Ernesto cúp máy. Anh vẫn đều đặn tiếp bước, cảm thấy nhịp rung của cái điện thoại trong lòng bàn tay, muốn trốn chạy tiếng nhạc quái ác mà anh không tài nào tắt đi được, cho đến lúc anh nhìn thấy một cái thây nằm bên vệ đường, khi anh đi chưa qua hết hai dãy phố. Bây giờ thì anh đang đứng ở một chỗ có ánh đèn vàng vọt chiếu từ trên cao xuống. Cái điện thoại vẫn không ngừng rung lên, tiếng nhạc vẫn réo rắc ngân vang, càng lúc nghe càng lớn trong đêm khuya. Ernesto nhận ra cái hình hài cứng đờ đang nằm sóng soài, tứ chi bất động, cái cổ đầy lông và cái mõm trơ ra. Bất đồ, anh vất cái điện thoại xuống bãi cỏ ẩm ướt. Anh nhìn cặp mắt trõm lơ, cái lưng lúc nào cũng đòi được ve vuốt, hai hàm răng trắng nhởn như đang van xin được chôn xuống đất, khiến Ernesto không còn thấy có cách nào khác hơn, cũng như không có bất cứ thứ thuốc độc nào còn dành cho ai một chọn lựa khả dĩ.

 

Trần C. Trí chuyển ngữ từ tiếng Tây Ban Nha

____________________________________________________

Chú thích

 

1 Thành phố nằm bên vịnh Nicoya, thuộc bờ Thái Bình Dương, về phía tây thủ đô San José của Costa Rica.

2 Tên gọi thân mật của thủ đô San José.

 

 

Link vào nguyên tác:

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 120634)
"Mới hay cũ, đời sống vẫn thế," anh chồng trả lời vợ. Anh leo lên giường làm tình với nàng, mắt nhắm đê mê, trong khi đó cái loa vẫn phát thanh bài hát mới, giọng nam và nữ lập đi, lập lại những lời hát... "Cộng Sản thật vĩ đại, thật vĩ đại, thật vĩ đại. .."
10 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 120424)
Không biết những người dân ngồi chờ đã bao lâu. 7giờ 58 phút trưởng Công an xã mới lù mặt tới. Hắn bước vào bàn và kéo chiếc ghế nhích ra ngoài, hắn lấy tờ “nhật trình” để trên bàn phất vài cái vào mặt ghế, hắn ngồi xuống. Tay trưởng Công an xã liếc qua chồng chứng từ, hắn không cần phải ngẩng mặt lên nhìn ai (có thể là một thói quen?), sau khi nghiền ngẫm xong từng tờ đơn xin hay khiếu kiện gì đó. Hắn lấy cây viết cài trên túi áo rồi hắn ký chậm rãi dưới những tờ đơn.
08 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 138713)
nhiều nghịch lý giữa trò chơi thách đố với đức tin ức đoán khiến ta cười số mệnh là thù cũng vừa là bạn cứu vãn được gì khi nước mắt rơi
08 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 127390)
LTS: Hai mươi tuổi ngồi vào bàn viết, tuổi trẻ hôm nay viết gì? Thường là câu hỏi của những ai quan tâm đến văn học và sáng tác trẻ. Mang trên vai tuổi đôi mươi cùng ý thức hành văn khá sớm, Lữ Thị Mai sinh 1988 là một trường hợp khá lạ.
08 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 153359)
Mẹ nó run lên từng đợt: “ Nữa, nữa... đấy... mạnh vào, mạnh nữa vào, nhanh lên...”. Cái người cưỡi trên mẹ nó như mụ mị, hắn chẳng quan tâm tới tiếng cánh cửa mở mà cứ thúc, cứ đẩy. Mẹ nó thì rên rỉ, mẹ nó hét. Thế là bố nó nhào tới đâm.
08 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 145122)
Con Thạch Sùng chẳng hiểu gì. Tất nhiên. Em không chấp nó. Anh nhỉ. Đứa con của chúng ta đã lớn rồi đấy
07 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 145195)
đúc lòng thú dữ. Tôi ngậm ngày giọt vuông ứa nóng vạn độ / cắt nhìn dân tộc móc nhau đu đưa tuần hoàn não bộ xưng mẹ toàn cầu ngôi nhà nổ tách từng cái miệng linh vị bay đến đỉnh cao tôi bốc câu chú giải nguyền rủa vi trùng tỉa giờ hối hả say.
07 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 125626)
Giữa tháng 4, bố có tranh được treo triển lãm. Cả nhà kéo đi xem. Tranh vẽ một cụ già đang ngồi bên ngọn đèn, mắt mũi kèm nhèm, khâu áo. Ai cũng nhận ra khuôn mặt của bà. Triển lãm nhan đề: “Mẹ - tôi”. Bà bảo: “Lũ đểu”.
06 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 118290)
Hắn miên man thêm. Tình dục qua internet nè, tình dục qua e-mail nè, tình dục qua điện thoại nè, tình dục trong các công sở nè ... Có người không thích bóng gió thì cũng có người đậm mầu lãng mạn.
06 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 151149)
Không ai biết tại sao giữa dòng sông ấy lại nhô lên một bãi đất. Rồi cũng không ai biết người ta đến đấy ở từ bao giờ. Họ chia đều những khoảng đất, họ trồng ngô, trồng rau xanh rì, họ dựng nhà họ nuôi con. Họ không nuôi đàn ông. Con họ nuôi chó, nuôi mèo.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3792)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13217)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19614)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18593)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1543)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1714)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2224)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2330)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1408)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2165)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1895)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1296)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2330)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2539)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2321)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 204)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 760)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 965)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1034)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6368)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15840)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32098)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38814)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1398)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13868)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6864)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10622)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9824)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9941)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10746)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3420)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11091)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10316)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi