- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

“CÚ LỪA” THẾ KỶ VÀ ƯỚC NGUYỆN THIÊNG LIÊNG CỦA NGƯỜI MẸ

24 Tháng Chín 202010:46 CH(Xem: 42730)


Những Ngọn Đồi Trong Sương Mai - photo Quy SG
Những ngọn đồi trong sương mai- ảnh Quy SG

                          Truyện lịch sử về Đại thi hào Nguyễn Du.

Trong khu dinh thự nguy nga và duy nhất có cổng mang tên “Ô Y Hạng”(1) của phường Bích Câu - Thăng Long, sáng nay có một không khí náo nhiệt khác lạ, qua những dáng người vội vã, những gương mặt tò mò, những lời thì thào háo hức… Mặc dù không có đèn treo hoa kết, người ngoài cũng có thể đoán được rằng nơi đây sắp diễn ra một nghi lễ quan trọng.

      Chỉ trừ đôi ba người bận công cán đương ở xa kinh thành, còn tất cả lớn bé, già trẻ, gái trai của dòng họ Nguyễn Tiên Điền từ dinh thự này và các dinh cơ lân cận đều tới, theo yêu cầu của Xuân Quận công - vị thủ lĩnh nghiêm nghị và có uy lực nhất dòng họ.

      Bên dưới hai chữ PHÚC – ĐỨC sơn son thiếp vàng là một chiếc sập gụ lớn đặt giữa đại sảnh, ở đó trải một chiếc chiếu điều bày sẵn các đồ vật: Quả ấn chữ triện, Cung Tên, Hộp bút lông & Nghiên mực, Cày Bừa - tượng trưng cho bốn sự nghiệp lớn ở thế gian: Quan văn, Tướng võ, Nho sinh và Lực điền. Riêng cung tên và cày bừa thì làm mô hình bằng tre, gỗ thông, còn ấn và đồ nghề của nho sĩ là đồ thực. Đứa bé trai trong dòng họ quan lại, tới một tuổi ấn định, sẽ được “thử sức đọ trí” tại cuộc Thí nhi long trọng, để tạo thêm niềm tin cho những người lớn đang hết sức kỳ vọng ở nó. Tại dòng họ đại quý tộc khét tiếng này, nghi lễ trên càng được coi trọng.

      Đối với quan Tham tụng Nguyễn Nghiễm, nghi lễ này dành cho người con thứ bảy cũng thiêng liêng không kém, nếu như không muốn nói là hơn, cái ngày cậu cất tiếng khóc chào đời vào mùa đông năm Ất Dậu 1766.

      Đã năm năm trôi qua, ông mong mỏi tới ngày đưa Chiêu Bảy(2) tới chiếc chiếu điều kia để con trai tự chọn con đường xuất xử, hành đạo rồi trở thành một người quân tử theo những hình mẫu kinh điển. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, thấm thoắt đã tới ngày này, ông không sao nén được sự hồi hộp cùng nỗi lo âu bâng quơ…

      Ông còn định cho mời mấy người bạn đồng liêu và đồng triều mà ông gần gũi, tin cậy. Nhưng sau nghĩ thế nào, ông chỉ cho mời một Hữu thị lang bộ Hộ -Thiêm đô Ngự sử Lê Quý Đôn, người được dân thạo chữ đất Thần kinh mệnh danh là “học vấn rộng khắp, đặt bút thành văn”, để người bạn đồng liêu gần như “con chấy cắn đôi” chứng kiến và giám định giúp cuộc “khảo thí” quan trọng bằng đồ vật kia. Bản thân ông cũng mê viết ký lục, chí, sử bình, khảo cứu, đã từng có sách Việt sử bị lãm, Lạng Sơn đoàn thành đồ chí, Cổ lễ nhạc chương thi văn tập. Nhưng ông chưa có lúc nào thật rảnh rang để toàn tâm toàn ý thi thố sở nguyện. Và trong thâm tâm sâu kín, ông mong đứa cháu trai mà ông đặt nhiều hy vọng sẽ đi theo con đường của sử quan họ Lê, người soạn bộ "Lê triều thông sử" 30 quyển và cuốn “Bắc sứ thông lục” (Chép đủ việc khi đi sứ sang Trung Quốc), người ông từng ghé tai thầm thì: “Tư Mã Tử Trường (Tư Mã Thiên) của Đại Việt đây rồi!”

      Trong năm người con trai, bằng trực giác, quan tham tụng cảm thấy Chiêu Bảy có thiên tư về chữ nghĩa hơn cả. Đã nhiều lần, cứ thấy ông làm việc bên án thư, mặc sự rầy la của mẹ hay người nhà, chú bé Chiêu Bảy liền mạnh dạn sà đến bên ông để thắc mắc đủ thứ, như cậu tin rằng: chỉ lúc đó ông mới dễ dãi với con. Ông nhận ra: những cuốn sách lúc nào cũng như hút hồn Chiêu Bảy. Nếu sự việc diễn ra đúng như sở nguyện của ông, ông sẽ bắt thằng bé chắp tay bái Lê công làm sư phụ.

      Người mẹ chú bé, bà trắc thất(3) Trần Thị Tần cũng bồn chồn không kém chồng. Với nhạy cảm của phụ nữ đất Quan họ Kinh Bắc, bà rất hiểu mối quan tâm thầm kín của đức lang quân uy trùm thiên hạ đối với con trai áp út của mình, dù mấy mẹ con bà chỉ là “vợ lẽ con thêm”. Bà để ý thấy ánh mắt cương nghị vốn sáng quắc của vị nho tướng đứng đầu triều đình kia chợt dịu lại trìu mến, tuy khó nhận ra, mỗi khi ông dừng lại trước lớp học ấu nhi gia đình, và nghe một cách chăm chú, cảm động những chữ của Tam Tự kinh thốt ra đầy âm điệu từ miệng chú bé Chiêu Bảy; dường ông cảm thấy chúng có điều gì khác lạ, hiếm gặp ở những người con khác… Còn bà, trong những lần đưa các con về thăm quê ngoại, qua cái nhìn đắm say trước cảnh vật của Chiêu Bảy, nhất là trước cảnh núi non của dãy Nham Biền có 99 đỉnh như Ngàn Hống, bà lờ mờ cảm thấy sự hòa hợp tinh diệu khó tả của tâm hồn con trai với thiên nhiên mà chỉ nghệ nhân quan họ đạt tới đẳng cấp nào đó mới có thể có… Bà dạy các con rất nhiều lời ca quan họ, dù Chiêu Bảy hát tồi nhất trong mấy đứa con song lại nhớ nhiều nhất các bài dân ca Kinh Bắc, rồi sau đó còn lắp ghép, hoán đổi câu chữ trong các bài ca ấy một cách tinh nghịch song khá ngọt ngào khiến ông bà ngoại và  hàng xóm thôn Hoa Thiều tròn xoe mắt kinh ngạc, thán phục cậu bé chưa đầy 5 tuổi đầu!

      Giống như hầu hết các bà mẹ quý tộc hay bình dân trong nhiều thế kỷ mong con trai lập thân lập nghiệp bằng khoa cử, nhưng riêng bà còn thầm ước Chiêu Bảy tiếp nối được bác Ôn Như Nguyễn Gia Thiều người đồng hương của bà, tác giả của khúc “Cung oán ngâm” nổi tiếng mà trong triều ngoài chợ ai ai cũng phải ngâm nga như lên đồng...

      Rồi cái giây phút chờ đợi cũng đã tới.

      Khi mọi người đã có mặt hầu đông đủ, đứng thành mấy lớp quây quanh chiếc sập gụ nâu bóng có trải chiếu điều, người hầu gái dẫn ra một chú bé khôi ngô, tuấn tú, đĩnh đạc, cố giữ vẻ nghiêm trang mà chỉ hai trái đào phơ phất trên mái đầu thơ ngây mới nhắc mọi người nhớ đến thân phận trẻ con của cậu. Sự im lặng chăm chú của mọi người khiến cậu hơi mất bình tĩnh, và lo sợ mơ hồ, hơn là sự bí ẩn của cái việc người ta bày đặt ra theo tục lệ của đại gia phong mà cậu được tham dự một lần.

      Chiêu Bảy đứng trước các đồ vật truyền thống của một lễ Thí nhi, ngắm nghía hồi lâu, như đang suy nghĩ lung lắm. Thực ra, cậu đâu có nghĩ ngợi gì. Tuổi của cậu là tuổi của chạy nhảy, bắt dế, chơi ô ăn quan, chơi kéo cưa lừa xẻ… Và dù cậu có khác nhiều đứa trẻ cùng lứa là hay thần ra mơ màng, có những khoảnh khắc vô tình lắng vào tận đáy của một thể khí linh thiêng trong vạn vật mà phải nhiều thập niên sau cậu mới lý giải được cặn kẽ, bản chất của cậu là hiếu động, hay tò mò, nghịch ngầm, và xử sự theo bản năng trong khuôn phép gia phong nghiệt ngã dành cho các con quan đầu triều.

      Thực ra là cậu đang ngắm các đồ vật ở dạng mỹ thuật của chúng, thử xem sự mô tả cái cày cái bừa kia có gì giống hay khác với cái cày cái bừa mà cậu đã thấy trên đồng ruộng khi về thăm Kinh Bắc, cây cung khổng lồ mà cậu chứng kiến trong buổi tập của đội vệ binh Cấm quân có gì đồng dạng với cây cung nhỏ bằng tre kia mà các anh em chú vẫn làm để lén tập bắn gà trong vườn quê ngoại… Cái hộp bút lông làm từ vùng quê Mão Điền quê ngoại và chiếc nghiên sứ men lam vùng Chu Đậu xứ Đông thì quá quen thuộc với những kẻ “chi hồ giả dã” như các anh em cậu, trong một gia đình thi thư nức tiếng. Chỉ có chiếc ấn triện là hơi xa lạ với cậu, bởi cậu chỉ được nhìn thấy một lần từ xa khi cha cộp dấu quan Tể tướng vào bài khải dâng Chúa, và một lần trong lễ Thí nhi cho anh cậu khi cậu còn rất bé.

      Linh cảm trời cho của một chú bé 5 tuổi giúp cậu cảm nhận rõ được sự hồi hộp đến gần như nín thở của những người thân yêu vây quanh. Tựa như quyết định ngay lúc này của cậu sẽ liên quan đến một điều cực kỳ hệ trọng - không những chỉ đối với cậu mà còn đối với một đại gia đình ngựa xe võng lọng có không ít người ra vào cung vua phủ chúa mà không phải cởi bỏ vũ khí… Phải, chính điều này khiến cậu chợt thức tỉnh giấc mộng trẻ thơ: Vũ khí! Vũ khí! Những thanh long đao dài sáng quắc và những cây thương có ngù tạo thêm long trọng cho hàng binh đứng như tượng đá rước lọng vua chúa đi qua, những thanh đoản đao được trang trí cầu kỳ đeo bên mình võ tướng, những cây gươm cong biểu tượng cho thực thi công lý treo trên tấm da hổ rải ở sảnh đường, những cây kiếm ánh thép xanh lòe như đâm toạc trời xanh, những mũi tên bọc đồng bay như châu chấu vây kín một thành lũy - những điều cậu được nghe không chỉ một lần từ kinh - sử mà anh em cậu được nhồi nhét hàng ngày rồi tưởng tượng thêm ra… Thế là ánh mắt của cậu bị bộ cung tên thu hút như thôi miên.

      Nhưng, đầu tiên cậu lại giơ hai cánh tay bé nhỏ cầm hộp bút giơ lên, đếm chậm rãi xem trong đó có bao nhiêu chiếc bút lông. Rồi cậu mạnh dạn rút ra một chiếc, như mọi lần cậu tập viết, và theo thói quen, tay kia sờ tới chiếc nghiên. Một thị đồng, đã được dặn trước, vội mang thỏi mực và bình nước tới, mài mực. Một thị đồng khác mang tới tờ giấy bản mạ vàng. Ông Tham tụng và bà vợ lẽ chắc là người sung sướng hơn cả. Người mẹ mắt nhắm nghiền lại, miệng thầm thốt lên những lời bà dành cho buổi lễ Phật trọng.

      Chiêu Bảy ung dung chấm ngòi bút vào nghiên mực, rồi đặt trên giấy một hình liền nét mà dù méo mó vụng về, ai cũng nhận rõ đó là vòng tròn!

      Một vòng tròn của sự rỗng không mà bất cứ ai biết chút ít về giáo lý nhà Phật cũng đều hiểu.

      Mọi người xúm vào nhìn, khe khẽ bình luận, bàn tán, đồng thời lén dò xem phản ứng của đại lão gia. Ông lặng lẽ vuốt râu, không tỏ thái độ gì. Nhưng, ông chợt giật bắn người, gần như đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế duy nhất tại đó, khi trước mắt ông là cảnh đứa cháu trai quý hóa vò nát tờ giấy bản rồi vứt sang một góc tựa đó là một thứ vô nghĩa, không đáng đếm xỉa tới.

      Ông vội ghìm mình lại, bình tĩnh ngồi xuống để xem trò gì sẽ diễn tiếp theo, dường ông chẳng xem trọng quá trò vui vẻ đầy ngẫu hứng này, nhưng hai chữ PHÚC - ĐỨC bỗng dưng nhảy múa, rồi méo đi trong mắt ông… Còn bà mẹ thì bắt đầu thấy người lao đao, mặt mũi xây xẩm, nhưng vẫn cố gượng mỉm cười che dấu mọi xao động trong lòng.

      Vò tờ giấy vứt đi xong, Chiêu Bảy sờ đến chiếc ấn triện, cậu nâng lên, xoay ngang xoay dọc ngắm nghía. Lần đầu tiên cậu được tiếp xúc với nó ở cự ly gần đến thế, và lại được mân mó nó như một thứ đồ chơi, chứ không phải là vật để đám đông từ bậc chăn dân đến lũ con đỏ Kính - Sợ… Hồi lâu, dường đã chán, và cảm thấy mình đã lạm dụng sự chờ đợi của mọi người, cậu thận trọng đặt chiếc ấn triện xuống bằng hai bàn tay, như một vật “kính nhi viễn chi”, rồi quay phắt sang bộ cung tên giả.

      Ánh mắt cậu sáng lên đầy ranh mãnh như lúc giương cung nhắm vào con gà nhép rồi cố tình bắn trượt thật xa để mua lấy tiếng cười vui của lũ trẻ hàng xóm nhưng thực ra là để cứu con gà. Thế rồi, cậu giơ hai cánh tay ra ôm chặt lấy bộ cung tên - như đó là vật hộ mệnh của mình.

      Có tiếng reo to bật lên: “Hay lắm! Nhóc đệ yêu quý! Lập thân tối hạ thị văn chương!”(4) Đó là Thiêm đô Ngự sử đài Nguyễn Khản, thuộc trưởng chi Nguyễn Tiên Điền, con trai trưởng của bà vợ cả quan Tể tướng. Anh bước tới, bế xốc cậu em út ít lên cùng bộ vũ khí giả, đưa cậu tới mọi người như khoe một chiến công mới của anh, sau khi anh được Chúa thưởng một tấm chiến bào hôm trước. Trong những cuộc chiến quyền lực sắt máu đang tới, thế là anh đã có thêm một đồng minh tin cậy, ruột thịt… Nguyễn Khản hàng ngày bàn bạc việc quân việc nước với cha, là người nổi tiếng tài tử, giỏi giang trong mọi lĩnh vực, từng là thầy dạy Thế tử Trịnh Sâm, từng làm Tế tửu Quốc Tử Giám. Mọi người thấy một bậc «quyền huynh thế phụ» rỡ ràng như thế bộc lộ thái độ đầu tiên thì cũng mặc nhiên coi là tiếng nói đại diện cho cả bậc phụ mẫu.

       Dường để tấn bi hài kịch của lễ Thí nhi được trọn vẹn, tạo hóa đã kịp thời bố trí hai nhân vật lịch sử được ghi chép lại đàng hoàng (Rất có thể là ghi chép của sử quan họ Lê): Lúc mọi người đang bàn tán lần cuối để chia tay ai về nhà nấy, thì Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc tới thăm bạn cũ - tướng công Nghị Hiên, tể tướng đương triều. Khi được nghe kể lại sự việc vừa diễn ra, râu Việp Quận công vốn đã vểnh lại càng vểnh thêm lên, ông sung sướng tháo thanh bảo kiếm đang đeo trên mình ra, nâng bằng hai tay lên cao, trịnh trọng:

       - Chú bé này sẽ là một tráng sĩ làm vẻ vang cho dòng họ Nguyễn Tiên Điền! Xin được tặng tiểu tướng!

      Chiêu Bảy ngước nhìn cha. Ông im lặng thất thần. May có Nguyễn Khản vội chạy tới, thay mặt cả nhà cảm ơn khách vì món quà quý. Vừa cầm thanh bảo kiếm nặng trịch bằng hai tay, Chiêu Bảy đã lảo đảo, nhờ có mấy anh chị đứng cạnh đỡ cho và cầm kiếm hộ nên thoát ngã ngửa bị kiếm đè.

      Một võ sĩ họ thuộc hạ thân cận của Nguyễn Khản lúc nào cũng đi theo chủ liền nâng thanh bảo kiếm lên, ngắm nghía mê mải, luôn miệng trầm trồ. Chính anh ta sau đó sẽ là sư phụ truyền mọi bí quyết kiếm thuật cho chàng thiếu niên Chiêu Bảy, và trở thành anh em kết nghĩa của chàng.

      Cũng lúc đó, Chánh thủ hiệu ở Thái Nguyên họ Hà, người bạn thân của Xuân Quận công vội vã bước vào nhà, vì biết được lễ Thí Nhi, song chậm mất, ông ta rối rít xin lỗi. Và sau khi kính gửi lễ vật, ông rụt rè chính thức đề nghị xin Chiêu Bảy làm con nuôi, vì ông ta không có con trai.

      Nhìn thấy cha ôm ngực ho và phẩy tay, Nguyễn Khản liền thay mặt đại gia chủ tuyên bố :

       - Thưa ngài, tháng trước ngài đã có đề nghị trân quý này, gia đình chúng tôi đã bàn bạc thống nhất, song chưa có dịp hồi âm. Trong ngày thiêng liêng này của em trai tôi, xin thay mặt cha mẹ và các em tôi, kính thuận ngài làm dưỡng phụ của Chiêu Bảy!

      Anh quay sang Chiêu Bảy :

       - Đệ, hãy bái lạy dưỡng phụ, và hứa đi theo con đường binh nghiệp của dưỡng phụ!

      Chú bé đã mệt mỏi và ngán ngẩm lắm, song vẫn cố tỏ ra hùng dũng để xứng là con nhà võ tướng như mọi người chờ đợi, chắp tay vái mấy vái người sẽ là dưỡng phụ của cậu theo đúng kiểu cách quý tộc.

      Lời của Nguyễn Khản hóa ra là một định mệnh. Khi ông họ Hà mất, Chiêu Bảy đã kế chân chức Chánh thủ hiệu đội quân hùng hậu hiệu, một chức quan võ ở Thái Nguyên; lúc đó anh đã khá thông thạo thập ban võ nghệ cùng nghệ thuật điều binh khiển tướng.

     Sử quan họ Lê lẳng lặng giở túi, lấy thẻ ra để ghi vào đó sự kiện hệ trọng của nhà quan bạn. Nó có thể đưa vào chính sử hay không, chưa thể biết, cái chính là ông đã thể hiện sự tri âm, và cả tri ân nữa đối với một dòng họ mà ông hết mực quý trọng. Điều đáng kể là tình cảm đó đã giúp ông chợt đọc ra nỗi tuyệt vọng sâu thẳm trên gương mặt bạn - nỗi tuyệt vọng không xa lạ với tâm sự thầm kín của ông.

      Xuân Quận công lúc đó tựa bị rơi xuống vực mà không ai có thể cứu nổi ông. Bao mơ ước thầm kín lâu nay ông dành cho đứa con trai thông minh dĩnh ngộ như tiểu thiên thần chợt hóa thành mây khói. Mấy người con trai đã trưởng thành của ông đều là những kẻ sĩ anh tài của thời cuộc, song chỉ đến thế mà thôi! Đã có danh vị, đã có cống hiến ít nhiều cho cái quốc gia đang buổi phế tàn, nhưng sẽ để lại cho đời cái gì đây, ngoài cái danh hão mà những bóng mây đen ngòm của thế sự sẽ nhấn chìm đi trong giấc mộng Hoàng lương?... Là người yêu văn chương, yêu sử sách tận huyết quản, nhiều năm qua ông đã phải tạm rời sách vở để làm quan võ bất đắc dĩ, thống lĩnh quân sĩ đi dẹp loạn nhiều nơi nhằm đem lại sự yên ổn tạm bợ cho cái triều đình lưỡng chế mục ruỗng thấm đẫm máu dân lành. Than ôi! Thanh gươm và vó ngựa chiến mà ông xử dụng thành thạo như một phương tiện trấn áp đã đem lại điều gì tốt đẹp cho cái dân tộc tang thương khốn khổ này đây, ngoài nỗi đau chất chồng, oan khiên tích tụ, bất công góp thành bão tố? Thanh gươm nhuốm máu lại nằm trong tay những kẻ khô cạn tình thương, kiệt quệ lương tâm, thì còn hy vọng gì có những tiếng ca hát tươi vui nơi thôn dã bình yên?... Một giọt lệ đục mờ chợt xuất hiện trên mí mắt già nua, ông vội gạt ngay để khỏi ai nhìn thấy.

      Và có một người nữa cũng thấu hiểu tâm trạng ông lúc này. Đó là người vợ ba kém cả tuổi con trai đầu của ông. Bằng một thần giao cách cảm mà từ sáu năm trước bà đã có, khi lần đầu gặp ông tại thôn Hoa Thiều dẫn tới cái gật đầu ưng thuận làm trắc thất của ông, lúc này nó lại xuất hiện trong một tâm hồn dịu dàng, đằm thắm, giàu đức hy sinh chịu đựng, giúp bà đồng tâm ngay được với ông như một tri kỷ hiếm hoi - dù ông chẳng thể biết được ngay điều đó. Xưa nay, bà một mực kính trọng ông, nhưng giờ đây, lần đầu tiên bà thấy thương ông, một tình thương xót xa khi nhận thấy nỗi tuyệt vọng đau đớn của ông… Mấy năm qua, ông chinh thảo trận mạc ở Thanh Hóa, Nghệ An, tóc bạc trắng, người sắt lại vì sương gió. Bà hiểu cái biệt hiệu “Hồng Ngư cư sĩ” của chồng bộc lộ ước nguyện sâu xa là được ẩn dật tại quê nhà để đọc sách, trước thuật, vì thế cái mong mỏi cho tương lai Chiêu Bảy của ông thực gần gụi, thân thiết với bà… Nỗi tuyệt vọng của chồng mau chóng lan tỏa trong lòng bà, và dội lên thành tiếng kêu thầm thảm thiết: “Máu! Máu! Lại máu chảy không biết khi nào ngừng!... Con trai ơi, con sẽ lại bước vào hàng ngũ những kẻ giết người… Những kẻ bị giết là ai? Họ thù địch với chính thể tanh máu này song lại là đồng bào của con, họ là những người lương thiện bị đẩy vào bước đường cùng… Thập loại chúng sinh, trong đó có cả những kẻ từng chém giết người không ghê tay đã mệt mỏi đang chờ mong lời an ủi, sự giải thoát bằng tình thương chắt ra tự tâm can… Sao con không tìm đến ngọn bút mang tiếng khóc của bác Đặng Trần Côn, bác Nguyễn Gia Thiều, mà lại tìm đến cây cung thanh kiếm dính máu trong cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt?... » Tiếng gào thét trong tâm can người mẹ dần hóa thành lời khấn Phật, thành ước nguyện thầm kín thiêng liêng của một người mẹ đất Việt gửi vào nguyên khí của Đất Trời…

      Cậu bé Chiêu Bảy, tức Thanh Hiên công, tên Du, tên chữ Tố Như sau đó trong nhiều năm quả đã theo đường võ thuật, binh nghiệp, với hy vọng «cầm kiếm chống trời xanh». Nhưng không rõ có phải do ước nguyện của người mẹ đã thấm vào linh khí nước Việt hay không, mà người con hiếu thảo Nguyễn Du đã vứt bỏ binh quyền võ nghiệp để trở thành nhà thơ của một trong «An Nam ngũ tuyệt», và đã biến ngọn đao thép thành ngọn bút lông, ngọn bút cũng sắc như dao! (5)…

       Riêng ước nguyện của người cha là muốn con trai thứ bảy làm sử, thì nhà thơ cũng đã làm sử; có điều không phải là lịch sử các sự kiện, các triều đại, các nhân vật vua chúa, mà là lịch sử của các tâm hồn người trải qua mọi kiếp đoạn trường…

 

Viết thêm :

       Sử quan Lê Quý Đôn có lời bình nào không từ những ghi chép về lễ Thí nhi đặc biệt mà ông được chứng kiến? Tác phẩm của ông nay bị thất lạc quá nửa… Song với những trước tác của ông còn lại, và qua công trình nghiên cứu sâu sắc về ông của một nhà sử học Việt Nam hiện đại(6), người viết những dòng này tin rằng: sử gia Lê Quý Đôn nhất định phải có những bình luận lý thú về sự kiện trên, nhưng vì chưa tìm thấy, nên đành liều hình dung và mô phỏng một cách vụng về những ý nghĩ quý giá đó của ông: «Nho tướng Đại Việt xưa nay, chuyện lên ngựa thì cầm cung kiếm, xuống ngựa thì cầm bút, là chuyện bình thường. Nhưng đó là khi quốc gia có biến bởi giặc ngoại xâm. Còn trong thời loạn lạc này, lúc nhân tâm ly tán, rường mối bất ổn, lòng người bất phục, thì những sự tàn nhẫn khắc bạc chỉ gây thêm mối oán hận, thanh gươm chỉ làm máu chồng máu, hủy hoại tài học và trung tiết… Nhưng thanh gươm buổi vào độ cần cất giấu cho kỹ, thì ngọn bút lại càng cần được trọng vọng nhiều hơn để góp phần cải hóa nhân tính, nêu cao đạo Trời và Đạo người… Thế mà con thứ bảy của Nghị Hiên công bạn tôi đã chọn cung kiếm, mong theo gương các võ tướng của nhiều dòng họ thời loạn… Tôi thương ông mà không biết làm gì, chỉ còn biết hy vọng ở cậu bé sẽ giữ được phần trung hậu của bạn tôi, và sau này nếu có buộc phải cầm thanh gươm sẽ không để nó dính máu người đức hạnh hay vô tội… »

       Nhà sử học vĩ đại đâu biết rằng, chú bé ấy đã thực hiện một «cú lừa» đáng yêu mang tầm vóc thế kỷ ở tuổi chưa biết gì về võ thuật lẫn văn chương; và đó là câu chuyện đáng ghi vào sử sách về tuổi thơ của một Đại thi hào dân tộc…

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

______________

1. Cổng dành gia đình quyền quý mặc áo đen ( Xuất phát từ bài thơ «Ô Y Hạng» của Lưu Vũ Tích), do Chúa Trịnh đặc cách đặt tên.

2.Con cái đại quý tộc được gọi là Chiêu.

3. Vợ hai là Á thất, từ vợ ba trở đi gọi là Trắc thất.

4. Câu thơ của Viên Mai (nhà lý luận phê bình văn học đời Thanh, TQ): Cách lập thân tồi nhất là bằng văn chương.

5. «Quái đắc nhu tình khinh cát đoạn/ Khuông trung huề hữu bút như đao» - Lạng thành đạo trung (Quái lạ, nỗi nhớ nhung lại dễ cắt đứt, bởi trong tráp đã có ngọn bút sắc như đao) «Bắc hành tạp lục», Nguyễn Du.

6. «Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn», Đinh Công Vĩ, Nxb KHXH, 1994.

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Mười 202510:11 CH(Xem: 13511)
Viện Bảo Tàng The Getty toạ lạc tại thành phố Los Angeles, CA, USA. đã tổ chức một buổi triển lãm hy hữu kéo dài từ tháng 6 đến 28 tháng 9 năm nay, 2025. Buổi triển lãm có tên là "Queer Lens" tập trung vào chủ đề Lịch Sử Nhiếp Ảnh của Người Đồng Tính là một cuộc trưng bày thật đặc biệt và vĩ đại của Viện Bảo Tàng to lớn và nổi tiếng ở Nam California, Hoa Kỳ này. Hơn 270 bức ảnh thể hiện những biểu hiện về giới tính và tình dục qua hai thế kỷ đã xuất hiện như một khiêu khích mà chỉ Viện Getty mới đủ can đảm để dàn dựng. Phải mất gần 6 năm để chuẩn bị, sưu tầm, cùng những cố gắng và nỗ lực của nhiều người, buổi triển lãm mới được ra đời.
13 Tháng Mười 202511:02 SA(Xem: 12535)
Cuộc khủng hoảng môi trường xuyên biên giới này đã ảnh hưởng đến sông Mekong, và các chuyên gia cảnh báo rằng chất ô nhiễm có thể lan tới cả Biển Đông.
13 Tháng Mười 20259:10 SA(Xem: 17691)
có thể hy vọng sẽ ghim vào thể xác để rồi xác định được phương vị tìm thấy trong cùng thẳm kiếp người lý lịch tôi thất tung từ lúc tổ tiên đã hòa tan vào bóng tối.
13 Tháng Mười 20258:49 SA(Xem: 12496)
Nổi Buồn của Phản Kháng (The Melancholy of Resistance): Trong một thị trấn nhỏ tăm tối, lạnh lẽo, gần như bị bỏ quên ở vùng nông thôn Hungary, mọi thứ trôi qua trong sự trì trệ, u ám và vô nghĩa. Người dân sống lặp lại từng ngày, giữa rượu, tin đồn và nỗi sợ mơ hồ về điều gì đó sắp xảy ra — một sự tan rã nào đó mà không ai dám gọi tên.
13 Tháng Mười 20258:28 SA(Xem: 13856)
Mùa Nobel đang nở rộ với các giải thưởng danh giá nhất trong nhiều lĩnh vực chuyên môn như Vật Lý, Hóa Học, Y Khoa, Văn Chương, Hòa Bình đang lần lượt được công bố. Sự thú vị tuyệt vời trong mùa phát giải Nobel là hầu hết người trúng giải đều thật sự xứng đáng là những nhân vật tinh hoa thời đại. Giải Nobel Văn Chương năm nay đang xoáy vào đề tài “hoang mạc tinh thần” hay “sa mạc vô tâm”... nói đến thân phận con người giữa vòng xoáy của sự cô độc trong cơn tuyệt vọng gần như tận thế của tâm hồn. Trước nỗi tuyệt vọng đầy cuồng nộ của phương Tây và nhẹ nhàng hơn ở phương Đông mình thử làm người cưỡi ngựa xem hoa, đi tìm vài giọt sương Thu trong cơn khát cháy...
13 Tháng Mười 20258:14 SA(Xem: 16914)
khi mô rảnh anh nhớ về thăm huế kẻo huế chờ cây khế ngọt rụng bông bữa trước em có ngồi bên lu nước con lăng quăng quẩy nhẹ chút tang bồng
10 Tháng Mười 202512:02 SA(Xem: 10614)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
01 Tháng Mười 202511:43 CH(Xem: 15718)
Anh không còn nhìn ra em / Dưới mắt dày cui kính cận / Ánh sáng cứ lóa thất thần / Ngày thì dài bàn tay anh ngắn
01 Tháng Mười 202511:14 CH(Xem: 11024)
Tôi gặp chị trong một dịp tụ họp cà phê ăn sáng với nhóm thi hữu văn chương tại thành phố HCM. Đó là chị Ngọc Mai với khuôn mặt đẹp, dáng người nữ tính, đôi mắt long lanh sáng đẹp như hút hồn người đối diện. Tên đẹp, người đẹp, nụ cười duyên dáng và giọng nói êm ái, ngọt ngào là ấn tượng đầu tiên của tôi về chị. Tôi nhìn chị đoán cỡ khoảng chưa ngoài tứ thập. Chị cười dịu dàng bảo: -Em cộng thêm ba mươi năm nữa mới gần đúng tuổi thật của chị! Tôi ngạc nhiên và không thể ngờ trước việc chị trẻ hơn tuổi nhiều đến thế! -Ôi vậy à! Nếu thế thì chị quá trẻ so với tuổi. Nếu chị không khai, khó ai mà đoán ra tuổi thật của chị! - Nhìn chị, em biết chắc chị hạnh phúc lắm mới trẻ được như vậy, chắc là lúc nhỏ được ba mẹ cưng, lập gia đình thì được chồng cưng, chị mới có dáng hình trẻ trung, gương mặt xinh tươi ánh lên vẻ yêu đời lạc quan đến vậy. -Ồ cảm ơn em! Nhưng chị thì không được như em nghĩ đâu! Thế rồi chị bắt đầu kể tóm tắt cuộc đời của chị cho tôi nghe, chị ngược dòng th
01 Tháng Mười 202510:45 CH(Xem: 11290)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân mẫu của bạn Nguyễn Ngọc Bảo: /Cụ Bà Nguyễn Thị Hải (bà Qủa Phụ Nguyễn Ngọc Diễm) /Sinh năm 1933 tại Bắc Ninh, Việt Nam Đã mãn phần vào ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại Houston, Texas./ Hưởng thọ 93 tuổi
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3799)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13218)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19614)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18593)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1543)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1715)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2226)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2347)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1409)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2172)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1896)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1297)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2338)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2540)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2321)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 210)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 763)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 966)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1037)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6376)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15851)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32107)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38823)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1402)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13869)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6866)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10625)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9824)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9945)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10746)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3421)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11091)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10318)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi