- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

“CÚ LỪA” THẾ KỶ VÀ ƯỚC NGUYỆN THIÊNG LIÊNG CỦA NGƯỜI MẸ

24 Tháng Chín 202010:46 CH(Xem: 38006)


Những Ngọn Đồi Trong Sương Mai - photo Quy SG
Những ngọn đồi trong sương mai- ảnh Quy SG

                          Truyện lịch sử về Đại thi hào Nguyễn Du.

Trong khu dinh thự nguy nga và duy nhất có cổng mang tên “Ô Y Hạng”(1) của phường Bích Câu - Thăng Long, sáng nay có một không khí náo nhiệt khác lạ, qua những dáng người vội vã, những gương mặt tò mò, những lời thì thào háo hức… Mặc dù không có đèn treo hoa kết, người ngoài cũng có thể đoán được rằng nơi đây sắp diễn ra một nghi lễ quan trọng.

      Chỉ trừ đôi ba người bận công cán đương ở xa kinh thành, còn tất cả lớn bé, già trẻ, gái trai của dòng họ Nguyễn Tiên Điền từ dinh thự này và các dinh cơ lân cận đều tới, theo yêu cầu của Xuân Quận công - vị thủ lĩnh nghiêm nghị và có uy lực nhất dòng họ.

      Bên dưới hai chữ PHÚC – ĐỨC sơn son thiếp vàng là một chiếc sập gụ lớn đặt giữa đại sảnh, ở đó trải một chiếc chiếu điều bày sẵn các đồ vật: Quả ấn chữ triện, Cung Tên, Hộp bút lông & Nghiên mực, Cày Bừa - tượng trưng cho bốn sự nghiệp lớn ở thế gian: Quan văn, Tướng võ, Nho sinh và Lực điền. Riêng cung tên và cày bừa thì làm mô hình bằng tre, gỗ thông, còn ấn và đồ nghề của nho sĩ là đồ thực. Đứa bé trai trong dòng họ quan lại, tới một tuổi ấn định, sẽ được “thử sức đọ trí” tại cuộc Thí nhi long trọng, để tạo thêm niềm tin cho những người lớn đang hết sức kỳ vọng ở nó. Tại dòng họ đại quý tộc khét tiếng này, nghi lễ trên càng được coi trọng.

      Đối với quan Tham tụng Nguyễn Nghiễm, nghi lễ này dành cho người con thứ bảy cũng thiêng liêng không kém, nếu như không muốn nói là hơn, cái ngày cậu cất tiếng khóc chào đời vào mùa đông năm Ất Dậu 1766.

      Đã năm năm trôi qua, ông mong mỏi tới ngày đưa Chiêu Bảy(2) tới chiếc chiếu điều kia để con trai tự chọn con đường xuất xử, hành đạo rồi trở thành một người quân tử theo những hình mẫu kinh điển. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, thấm thoắt đã tới ngày này, ông không sao nén được sự hồi hộp cùng nỗi lo âu bâng quơ…

      Ông còn định cho mời mấy người bạn đồng liêu và đồng triều mà ông gần gũi, tin cậy. Nhưng sau nghĩ thế nào, ông chỉ cho mời một Hữu thị lang bộ Hộ -Thiêm đô Ngự sử Lê Quý Đôn, người được dân thạo chữ đất Thần kinh mệnh danh là “học vấn rộng khắp, đặt bút thành văn”, để người bạn đồng liêu gần như “con chấy cắn đôi” chứng kiến và giám định giúp cuộc “khảo thí” quan trọng bằng đồ vật kia. Bản thân ông cũng mê viết ký lục, chí, sử bình, khảo cứu, đã từng có sách Việt sử bị lãm, Lạng Sơn đoàn thành đồ chí, Cổ lễ nhạc chương thi văn tập. Nhưng ông chưa có lúc nào thật rảnh rang để toàn tâm toàn ý thi thố sở nguyện. Và trong thâm tâm sâu kín, ông mong đứa cháu trai mà ông đặt nhiều hy vọng sẽ đi theo con đường của sử quan họ Lê, người soạn bộ "Lê triều thông sử" 30 quyển và cuốn “Bắc sứ thông lục” (Chép đủ việc khi đi sứ sang Trung Quốc), người ông từng ghé tai thầm thì: “Tư Mã Tử Trường (Tư Mã Thiên) của Đại Việt đây rồi!”

      Trong năm người con trai, bằng trực giác, quan tham tụng cảm thấy Chiêu Bảy có thiên tư về chữ nghĩa hơn cả. Đã nhiều lần, cứ thấy ông làm việc bên án thư, mặc sự rầy la của mẹ hay người nhà, chú bé Chiêu Bảy liền mạnh dạn sà đến bên ông để thắc mắc đủ thứ, như cậu tin rằng: chỉ lúc đó ông mới dễ dãi với con. Ông nhận ra: những cuốn sách lúc nào cũng như hút hồn Chiêu Bảy. Nếu sự việc diễn ra đúng như sở nguyện của ông, ông sẽ bắt thằng bé chắp tay bái Lê công làm sư phụ.

      Người mẹ chú bé, bà trắc thất(3) Trần Thị Tần cũng bồn chồn không kém chồng. Với nhạy cảm của phụ nữ đất Quan họ Kinh Bắc, bà rất hiểu mối quan tâm thầm kín của đức lang quân uy trùm thiên hạ đối với con trai áp út của mình, dù mấy mẹ con bà chỉ là “vợ lẽ con thêm”. Bà để ý thấy ánh mắt cương nghị vốn sáng quắc của vị nho tướng đứng đầu triều đình kia chợt dịu lại trìu mến, tuy khó nhận ra, mỗi khi ông dừng lại trước lớp học ấu nhi gia đình, và nghe một cách chăm chú, cảm động những chữ của Tam Tự kinh thốt ra đầy âm điệu từ miệng chú bé Chiêu Bảy; dường ông cảm thấy chúng có điều gì khác lạ, hiếm gặp ở những người con khác… Còn bà, trong những lần đưa các con về thăm quê ngoại, qua cái nhìn đắm say trước cảnh vật của Chiêu Bảy, nhất là trước cảnh núi non của dãy Nham Biền có 99 đỉnh như Ngàn Hống, bà lờ mờ cảm thấy sự hòa hợp tinh diệu khó tả của tâm hồn con trai với thiên nhiên mà chỉ nghệ nhân quan họ đạt tới đẳng cấp nào đó mới có thể có… Bà dạy các con rất nhiều lời ca quan họ, dù Chiêu Bảy hát tồi nhất trong mấy đứa con song lại nhớ nhiều nhất các bài dân ca Kinh Bắc, rồi sau đó còn lắp ghép, hoán đổi câu chữ trong các bài ca ấy một cách tinh nghịch song khá ngọt ngào khiến ông bà ngoại và  hàng xóm thôn Hoa Thiều tròn xoe mắt kinh ngạc, thán phục cậu bé chưa đầy 5 tuổi đầu!

      Giống như hầu hết các bà mẹ quý tộc hay bình dân trong nhiều thế kỷ mong con trai lập thân lập nghiệp bằng khoa cử, nhưng riêng bà còn thầm ước Chiêu Bảy tiếp nối được bác Ôn Như Nguyễn Gia Thiều người đồng hương của bà, tác giả của khúc “Cung oán ngâm” nổi tiếng mà trong triều ngoài chợ ai ai cũng phải ngâm nga như lên đồng...

      Rồi cái giây phút chờ đợi cũng đã tới.

      Khi mọi người đã có mặt hầu đông đủ, đứng thành mấy lớp quây quanh chiếc sập gụ nâu bóng có trải chiếu điều, người hầu gái dẫn ra một chú bé khôi ngô, tuấn tú, đĩnh đạc, cố giữ vẻ nghiêm trang mà chỉ hai trái đào phơ phất trên mái đầu thơ ngây mới nhắc mọi người nhớ đến thân phận trẻ con của cậu. Sự im lặng chăm chú của mọi người khiến cậu hơi mất bình tĩnh, và lo sợ mơ hồ, hơn là sự bí ẩn của cái việc người ta bày đặt ra theo tục lệ của đại gia phong mà cậu được tham dự một lần.

      Chiêu Bảy đứng trước các đồ vật truyền thống của một lễ Thí nhi, ngắm nghía hồi lâu, như đang suy nghĩ lung lắm. Thực ra, cậu đâu có nghĩ ngợi gì. Tuổi của cậu là tuổi của chạy nhảy, bắt dế, chơi ô ăn quan, chơi kéo cưa lừa xẻ… Và dù cậu có khác nhiều đứa trẻ cùng lứa là hay thần ra mơ màng, có những khoảnh khắc vô tình lắng vào tận đáy của một thể khí linh thiêng trong vạn vật mà phải nhiều thập niên sau cậu mới lý giải được cặn kẽ, bản chất của cậu là hiếu động, hay tò mò, nghịch ngầm, và xử sự theo bản năng trong khuôn phép gia phong nghiệt ngã dành cho các con quan đầu triều.

      Thực ra là cậu đang ngắm các đồ vật ở dạng mỹ thuật của chúng, thử xem sự mô tả cái cày cái bừa kia có gì giống hay khác với cái cày cái bừa mà cậu đã thấy trên đồng ruộng khi về thăm Kinh Bắc, cây cung khổng lồ mà cậu chứng kiến trong buổi tập của đội vệ binh Cấm quân có gì đồng dạng với cây cung nhỏ bằng tre kia mà các anh em chú vẫn làm để lén tập bắn gà trong vườn quê ngoại… Cái hộp bút lông làm từ vùng quê Mão Điền quê ngoại và chiếc nghiên sứ men lam vùng Chu Đậu xứ Đông thì quá quen thuộc với những kẻ “chi hồ giả dã” như các anh em cậu, trong một gia đình thi thư nức tiếng. Chỉ có chiếc ấn triện là hơi xa lạ với cậu, bởi cậu chỉ được nhìn thấy một lần từ xa khi cha cộp dấu quan Tể tướng vào bài khải dâng Chúa, và một lần trong lễ Thí nhi cho anh cậu khi cậu còn rất bé.

      Linh cảm trời cho của một chú bé 5 tuổi giúp cậu cảm nhận rõ được sự hồi hộp đến gần như nín thở của những người thân yêu vây quanh. Tựa như quyết định ngay lúc này của cậu sẽ liên quan đến một điều cực kỳ hệ trọng - không những chỉ đối với cậu mà còn đối với một đại gia đình ngựa xe võng lọng có không ít người ra vào cung vua phủ chúa mà không phải cởi bỏ vũ khí… Phải, chính điều này khiến cậu chợt thức tỉnh giấc mộng trẻ thơ: Vũ khí! Vũ khí! Những thanh long đao dài sáng quắc và những cây thương có ngù tạo thêm long trọng cho hàng binh đứng như tượng đá rước lọng vua chúa đi qua, những thanh đoản đao được trang trí cầu kỳ đeo bên mình võ tướng, những cây gươm cong biểu tượng cho thực thi công lý treo trên tấm da hổ rải ở sảnh đường, những cây kiếm ánh thép xanh lòe như đâm toạc trời xanh, những mũi tên bọc đồng bay như châu chấu vây kín một thành lũy - những điều cậu được nghe không chỉ một lần từ kinh - sử mà anh em cậu được nhồi nhét hàng ngày rồi tưởng tượng thêm ra… Thế là ánh mắt của cậu bị bộ cung tên thu hút như thôi miên.

      Nhưng, đầu tiên cậu lại giơ hai cánh tay bé nhỏ cầm hộp bút giơ lên, đếm chậm rãi xem trong đó có bao nhiêu chiếc bút lông. Rồi cậu mạnh dạn rút ra một chiếc, như mọi lần cậu tập viết, và theo thói quen, tay kia sờ tới chiếc nghiên. Một thị đồng, đã được dặn trước, vội mang thỏi mực và bình nước tới, mài mực. Một thị đồng khác mang tới tờ giấy bản mạ vàng. Ông Tham tụng và bà vợ lẽ chắc là người sung sướng hơn cả. Người mẹ mắt nhắm nghiền lại, miệng thầm thốt lên những lời bà dành cho buổi lễ Phật trọng.

      Chiêu Bảy ung dung chấm ngòi bút vào nghiên mực, rồi đặt trên giấy một hình liền nét mà dù méo mó vụng về, ai cũng nhận rõ đó là vòng tròn!

      Một vòng tròn của sự rỗng không mà bất cứ ai biết chút ít về giáo lý nhà Phật cũng đều hiểu.

      Mọi người xúm vào nhìn, khe khẽ bình luận, bàn tán, đồng thời lén dò xem phản ứng của đại lão gia. Ông lặng lẽ vuốt râu, không tỏ thái độ gì. Nhưng, ông chợt giật bắn người, gần như đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế duy nhất tại đó, khi trước mắt ông là cảnh đứa cháu trai quý hóa vò nát tờ giấy bản rồi vứt sang một góc tựa đó là một thứ vô nghĩa, không đáng đếm xỉa tới.

      Ông vội ghìm mình lại, bình tĩnh ngồi xuống để xem trò gì sẽ diễn tiếp theo, dường ông chẳng xem trọng quá trò vui vẻ đầy ngẫu hứng này, nhưng hai chữ PHÚC - ĐỨC bỗng dưng nhảy múa, rồi méo đi trong mắt ông… Còn bà mẹ thì bắt đầu thấy người lao đao, mặt mũi xây xẩm, nhưng vẫn cố gượng mỉm cười che dấu mọi xao động trong lòng.

      Vò tờ giấy vứt đi xong, Chiêu Bảy sờ đến chiếc ấn triện, cậu nâng lên, xoay ngang xoay dọc ngắm nghía. Lần đầu tiên cậu được tiếp xúc với nó ở cự ly gần đến thế, và lại được mân mó nó như một thứ đồ chơi, chứ không phải là vật để đám đông từ bậc chăn dân đến lũ con đỏ Kính - Sợ… Hồi lâu, dường đã chán, và cảm thấy mình đã lạm dụng sự chờ đợi của mọi người, cậu thận trọng đặt chiếc ấn triện xuống bằng hai bàn tay, như một vật “kính nhi viễn chi”, rồi quay phắt sang bộ cung tên giả.

      Ánh mắt cậu sáng lên đầy ranh mãnh như lúc giương cung nhắm vào con gà nhép rồi cố tình bắn trượt thật xa để mua lấy tiếng cười vui của lũ trẻ hàng xóm nhưng thực ra là để cứu con gà. Thế rồi, cậu giơ hai cánh tay ra ôm chặt lấy bộ cung tên - như đó là vật hộ mệnh của mình.

      Có tiếng reo to bật lên: “Hay lắm! Nhóc đệ yêu quý! Lập thân tối hạ thị văn chương!”(4) Đó là Thiêm đô Ngự sử đài Nguyễn Khản, thuộc trưởng chi Nguyễn Tiên Điền, con trai trưởng của bà vợ cả quan Tể tướng. Anh bước tới, bế xốc cậu em út ít lên cùng bộ vũ khí giả, đưa cậu tới mọi người như khoe một chiến công mới của anh, sau khi anh được Chúa thưởng một tấm chiến bào hôm trước. Trong những cuộc chiến quyền lực sắt máu đang tới, thế là anh đã có thêm một đồng minh tin cậy, ruột thịt… Nguyễn Khản hàng ngày bàn bạc việc quân việc nước với cha, là người nổi tiếng tài tử, giỏi giang trong mọi lĩnh vực, từng là thầy dạy Thế tử Trịnh Sâm, từng làm Tế tửu Quốc Tử Giám. Mọi người thấy một bậc «quyền huynh thế phụ» rỡ ràng như thế bộc lộ thái độ đầu tiên thì cũng mặc nhiên coi là tiếng nói đại diện cho cả bậc phụ mẫu.

       Dường để tấn bi hài kịch của lễ Thí nhi được trọn vẹn, tạo hóa đã kịp thời bố trí hai nhân vật lịch sử được ghi chép lại đàng hoàng (Rất có thể là ghi chép của sử quan họ Lê): Lúc mọi người đang bàn tán lần cuối để chia tay ai về nhà nấy, thì Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc tới thăm bạn cũ - tướng công Nghị Hiên, tể tướng đương triều. Khi được nghe kể lại sự việc vừa diễn ra, râu Việp Quận công vốn đã vểnh lại càng vểnh thêm lên, ông sung sướng tháo thanh bảo kiếm đang đeo trên mình ra, nâng bằng hai tay lên cao, trịnh trọng:

       - Chú bé này sẽ là một tráng sĩ làm vẻ vang cho dòng họ Nguyễn Tiên Điền! Xin được tặng tiểu tướng!

      Chiêu Bảy ngước nhìn cha. Ông im lặng thất thần. May có Nguyễn Khản vội chạy tới, thay mặt cả nhà cảm ơn khách vì món quà quý. Vừa cầm thanh bảo kiếm nặng trịch bằng hai tay, Chiêu Bảy đã lảo đảo, nhờ có mấy anh chị đứng cạnh đỡ cho và cầm kiếm hộ nên thoát ngã ngửa bị kiếm đè.

      Một võ sĩ họ thuộc hạ thân cận của Nguyễn Khản lúc nào cũng đi theo chủ liền nâng thanh bảo kiếm lên, ngắm nghía mê mải, luôn miệng trầm trồ. Chính anh ta sau đó sẽ là sư phụ truyền mọi bí quyết kiếm thuật cho chàng thiếu niên Chiêu Bảy, và trở thành anh em kết nghĩa của chàng.

      Cũng lúc đó, Chánh thủ hiệu ở Thái Nguyên họ Hà, người bạn thân của Xuân Quận công vội vã bước vào nhà, vì biết được lễ Thí Nhi, song chậm mất, ông ta rối rít xin lỗi. Và sau khi kính gửi lễ vật, ông rụt rè chính thức đề nghị xin Chiêu Bảy làm con nuôi, vì ông ta không có con trai.

      Nhìn thấy cha ôm ngực ho và phẩy tay, Nguyễn Khản liền thay mặt đại gia chủ tuyên bố :

       - Thưa ngài, tháng trước ngài đã có đề nghị trân quý này, gia đình chúng tôi đã bàn bạc thống nhất, song chưa có dịp hồi âm. Trong ngày thiêng liêng này của em trai tôi, xin thay mặt cha mẹ và các em tôi, kính thuận ngài làm dưỡng phụ của Chiêu Bảy!

      Anh quay sang Chiêu Bảy :

       - Đệ, hãy bái lạy dưỡng phụ, và hứa đi theo con đường binh nghiệp của dưỡng phụ!

      Chú bé đã mệt mỏi và ngán ngẩm lắm, song vẫn cố tỏ ra hùng dũng để xứng là con nhà võ tướng như mọi người chờ đợi, chắp tay vái mấy vái người sẽ là dưỡng phụ của cậu theo đúng kiểu cách quý tộc.

      Lời của Nguyễn Khản hóa ra là một định mệnh. Khi ông họ Hà mất, Chiêu Bảy đã kế chân chức Chánh thủ hiệu đội quân hùng hậu hiệu, một chức quan võ ở Thái Nguyên; lúc đó anh đã khá thông thạo thập ban võ nghệ cùng nghệ thuật điều binh khiển tướng.

     Sử quan họ Lê lẳng lặng giở túi, lấy thẻ ra để ghi vào đó sự kiện hệ trọng của nhà quan bạn. Nó có thể đưa vào chính sử hay không, chưa thể biết, cái chính là ông đã thể hiện sự tri âm, và cả tri ân nữa đối với một dòng họ mà ông hết mực quý trọng. Điều đáng kể là tình cảm đó đã giúp ông chợt đọc ra nỗi tuyệt vọng sâu thẳm trên gương mặt bạn - nỗi tuyệt vọng không xa lạ với tâm sự thầm kín của ông.

      Xuân Quận công lúc đó tựa bị rơi xuống vực mà không ai có thể cứu nổi ông. Bao mơ ước thầm kín lâu nay ông dành cho đứa con trai thông minh dĩnh ngộ như tiểu thiên thần chợt hóa thành mây khói. Mấy người con trai đã trưởng thành của ông đều là những kẻ sĩ anh tài của thời cuộc, song chỉ đến thế mà thôi! Đã có danh vị, đã có cống hiến ít nhiều cho cái quốc gia đang buổi phế tàn, nhưng sẽ để lại cho đời cái gì đây, ngoài cái danh hão mà những bóng mây đen ngòm của thế sự sẽ nhấn chìm đi trong giấc mộng Hoàng lương?... Là người yêu văn chương, yêu sử sách tận huyết quản, nhiều năm qua ông đã phải tạm rời sách vở để làm quan võ bất đắc dĩ, thống lĩnh quân sĩ đi dẹp loạn nhiều nơi nhằm đem lại sự yên ổn tạm bợ cho cái triều đình lưỡng chế mục ruỗng thấm đẫm máu dân lành. Than ôi! Thanh gươm và vó ngựa chiến mà ông xử dụng thành thạo như một phương tiện trấn áp đã đem lại điều gì tốt đẹp cho cái dân tộc tang thương khốn khổ này đây, ngoài nỗi đau chất chồng, oan khiên tích tụ, bất công góp thành bão tố? Thanh gươm nhuốm máu lại nằm trong tay những kẻ khô cạn tình thương, kiệt quệ lương tâm, thì còn hy vọng gì có những tiếng ca hát tươi vui nơi thôn dã bình yên?... Một giọt lệ đục mờ chợt xuất hiện trên mí mắt già nua, ông vội gạt ngay để khỏi ai nhìn thấy.

      Và có một người nữa cũng thấu hiểu tâm trạng ông lúc này. Đó là người vợ ba kém cả tuổi con trai đầu của ông. Bằng một thần giao cách cảm mà từ sáu năm trước bà đã có, khi lần đầu gặp ông tại thôn Hoa Thiều dẫn tới cái gật đầu ưng thuận làm trắc thất của ông, lúc này nó lại xuất hiện trong một tâm hồn dịu dàng, đằm thắm, giàu đức hy sinh chịu đựng, giúp bà đồng tâm ngay được với ông như một tri kỷ hiếm hoi - dù ông chẳng thể biết được ngay điều đó. Xưa nay, bà một mực kính trọng ông, nhưng giờ đây, lần đầu tiên bà thấy thương ông, một tình thương xót xa khi nhận thấy nỗi tuyệt vọng đau đớn của ông… Mấy năm qua, ông chinh thảo trận mạc ở Thanh Hóa, Nghệ An, tóc bạc trắng, người sắt lại vì sương gió. Bà hiểu cái biệt hiệu “Hồng Ngư cư sĩ” của chồng bộc lộ ước nguyện sâu xa là được ẩn dật tại quê nhà để đọc sách, trước thuật, vì thế cái mong mỏi cho tương lai Chiêu Bảy của ông thực gần gụi, thân thiết với bà… Nỗi tuyệt vọng của chồng mau chóng lan tỏa trong lòng bà, và dội lên thành tiếng kêu thầm thảm thiết: “Máu! Máu! Lại máu chảy không biết khi nào ngừng!... Con trai ơi, con sẽ lại bước vào hàng ngũ những kẻ giết người… Những kẻ bị giết là ai? Họ thù địch với chính thể tanh máu này song lại là đồng bào của con, họ là những người lương thiện bị đẩy vào bước đường cùng… Thập loại chúng sinh, trong đó có cả những kẻ từng chém giết người không ghê tay đã mệt mỏi đang chờ mong lời an ủi, sự giải thoát bằng tình thương chắt ra tự tâm can… Sao con không tìm đến ngọn bút mang tiếng khóc của bác Đặng Trần Côn, bác Nguyễn Gia Thiều, mà lại tìm đến cây cung thanh kiếm dính máu trong cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt?... » Tiếng gào thét trong tâm can người mẹ dần hóa thành lời khấn Phật, thành ước nguyện thầm kín thiêng liêng của một người mẹ đất Việt gửi vào nguyên khí của Đất Trời…

      Cậu bé Chiêu Bảy, tức Thanh Hiên công, tên Du, tên chữ Tố Như sau đó trong nhiều năm quả đã theo đường võ thuật, binh nghiệp, với hy vọng «cầm kiếm chống trời xanh». Nhưng không rõ có phải do ước nguyện của người mẹ đã thấm vào linh khí nước Việt hay không, mà người con hiếu thảo Nguyễn Du đã vứt bỏ binh quyền võ nghiệp để trở thành nhà thơ của một trong «An Nam ngũ tuyệt», và đã biến ngọn đao thép thành ngọn bút lông, ngọn bút cũng sắc như dao! (5)

       Riêng ước nguyện của người cha là muốn con trai thứ bảy làm sử, thì nhà thơ cũng đã làm sử; có điều không phải là lịch sử các sự kiện, các triều đại, các nhân vật vua chúa, mà là lịch sử của các tâm hồn người trải qua mọi kiếp đoạn trường…

 

Viết thêm :

       Sử quan Lê Quý Đôn có lời bình nào không từ những ghi chép về lễ Thí nhi đặc biệt mà ông được chứng kiến? Tác phẩm của ông nay bị thất lạc quá nửa… Song với những trước tác của ông còn lại, và qua công trình nghiên cứu sâu sắc về ông của một nhà sử học Việt Nam hiện đại(6), người viết những dòng này tin rằng: sử gia Lê Quý Đôn nhất định phải có những bình luận lý thú về sự kiện trên, nhưng vì chưa tìm thấy, nên đành liều hình dung và mô phỏng một cách vụng về những ý nghĩ quý giá đó của ông: «Nho tướng Đại Việt xưa nay, chuyện lên ngựa thì cầm cung kiếm, xuống ngựa thì cầm bút, là chuyện bình thường. Nhưng đó là khi quốc gia có biến bởi giặc ngoại xâm. Còn trong thời loạn lạc này, lúc nhân tâm ly tán, rường mối bất ổn, lòng người bất phục, thì những sự tàn nhẫn khắc bạc chỉ gây thêm mối oán hận, thanh gươm chỉ làm máu chồng máu, hủy hoại tài học và trung tiết… Nhưng thanh gươm buổi vào độ cần cất giấu cho kỹ, thì ngọn bút lại càng cần được trọng vọng nhiều hơn để góp phần cải hóa nhân tính, nêu cao đạo Trời và Đạo người… Thế mà con thứ bảy của Nghị Hiên công bạn tôi đã chọn cung kiếm, mong theo gương các võ tướng của nhiều dòng họ thời loạn… Tôi thương ông mà không biết làm gì, chỉ còn biết hy vọng ở cậu bé sẽ giữ được phần trung hậu của bạn tôi, và sau này nếu có buộc phải cầm thanh gươm sẽ không để nó dính máu người đức hạnh hay vô tội… »

       Nhà sử học vĩ đại đâu biết rằng, chú bé ấy đã thực hiện một «cú lừa» đáng yêu mang tầm vóc thế kỷ ở tuổi chưa biết gì về võ thuật lẫn văn chương; và đó là câu chuyện đáng ghi vào sử sách về tuổi thơ của một Đại thi hào dân tộc…

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

______________

1. Cổng dành gia đình quyền quý mặc áo đen ( Xuất phát từ bài thơ «Ô Y Hạng» của Lưu Vũ Tích), do Chúa Trịnh đặc cách đặt tên.

2.Con cái đại quý tộc được gọi là Chiêu.

3. Vợ hai là Á thất, từ vợ ba trở đi gọi là Trắc thất.

4. Câu thơ của Viên Mai (nhà lý luận phê bình văn học đời Thanh, TQ): Cách lập thân tồi nhất là bằng văn chương.

5. «Quái đắc nhu tình khinh cát đoạn/ Khuông trung huề hữu bút như đao» - Lạng thành đạo trung (Quái lạ, nỗi nhớ nhung lại dễ cắt đứt, bởi trong tráp đã có ngọn bút sắc như đao) «Bắc hành tạp lục», Nguyễn Du.

6. «Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn», Đinh Công Vĩ, Nxb KHXH, 1994.

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1096)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 991)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 955)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1366)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 2014)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1752)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1846)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1863)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 1162)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 2011)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7522)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14558)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13412)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13946)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1366)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1752)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1846)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1863)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 991)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2014)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1409)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 1808)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1096)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 1906)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2462)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4166)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 955)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1162)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1562)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2057)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10087)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26595)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33199)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33207)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7752)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10290)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1366)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3252)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3168)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3065)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3410)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4840)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4415)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5702)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.