- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

“CÚ LỪA” THẾ KỶ VÀ ƯỚC NGUYỆN THIÊNG LIÊNG CỦA NGƯỜI MẸ

24 Tháng Chín 202010:46 CH(Xem: 40574)


Những Ngọn Đồi Trong Sương Mai - photo Quy SG
Những ngọn đồi trong sương mai- ảnh Quy SG

                          Truyện lịch sử về Đại thi hào Nguyễn Du.

Trong khu dinh thự nguy nga và duy nhất có cổng mang tên “Ô Y Hạng”(1) của phường Bích Câu - Thăng Long, sáng nay có một không khí náo nhiệt khác lạ, qua những dáng người vội vã, những gương mặt tò mò, những lời thì thào háo hức… Mặc dù không có đèn treo hoa kết, người ngoài cũng có thể đoán được rằng nơi đây sắp diễn ra một nghi lễ quan trọng.

      Chỉ trừ đôi ba người bận công cán đương ở xa kinh thành, còn tất cả lớn bé, già trẻ, gái trai của dòng họ Nguyễn Tiên Điền từ dinh thự này và các dinh cơ lân cận đều tới, theo yêu cầu của Xuân Quận công - vị thủ lĩnh nghiêm nghị và có uy lực nhất dòng họ.

      Bên dưới hai chữ PHÚC – ĐỨC sơn son thiếp vàng là một chiếc sập gụ lớn đặt giữa đại sảnh, ở đó trải một chiếc chiếu điều bày sẵn các đồ vật: Quả ấn chữ triện, Cung Tên, Hộp bút lông & Nghiên mực, Cày Bừa - tượng trưng cho bốn sự nghiệp lớn ở thế gian: Quan văn, Tướng võ, Nho sinh và Lực điền. Riêng cung tên và cày bừa thì làm mô hình bằng tre, gỗ thông, còn ấn và đồ nghề của nho sĩ là đồ thực. Đứa bé trai trong dòng họ quan lại, tới một tuổi ấn định, sẽ được “thử sức đọ trí” tại cuộc Thí nhi long trọng, để tạo thêm niềm tin cho những người lớn đang hết sức kỳ vọng ở nó. Tại dòng họ đại quý tộc khét tiếng này, nghi lễ trên càng được coi trọng.

      Đối với quan Tham tụng Nguyễn Nghiễm, nghi lễ này dành cho người con thứ bảy cũng thiêng liêng không kém, nếu như không muốn nói là hơn, cái ngày cậu cất tiếng khóc chào đời vào mùa đông năm Ất Dậu 1766.

      Đã năm năm trôi qua, ông mong mỏi tới ngày đưa Chiêu Bảy(2) tới chiếc chiếu điều kia để con trai tự chọn con đường xuất xử, hành đạo rồi trở thành một người quân tử theo những hình mẫu kinh điển. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, thấm thoắt đã tới ngày này, ông không sao nén được sự hồi hộp cùng nỗi lo âu bâng quơ…

      Ông còn định cho mời mấy người bạn đồng liêu và đồng triều mà ông gần gũi, tin cậy. Nhưng sau nghĩ thế nào, ông chỉ cho mời một Hữu thị lang bộ Hộ -Thiêm đô Ngự sử Lê Quý Đôn, người được dân thạo chữ đất Thần kinh mệnh danh là “học vấn rộng khắp, đặt bút thành văn”, để người bạn đồng liêu gần như “con chấy cắn đôi” chứng kiến và giám định giúp cuộc “khảo thí” quan trọng bằng đồ vật kia. Bản thân ông cũng mê viết ký lục, chí, sử bình, khảo cứu, đã từng có sách Việt sử bị lãm, Lạng Sơn đoàn thành đồ chí, Cổ lễ nhạc chương thi văn tập. Nhưng ông chưa có lúc nào thật rảnh rang để toàn tâm toàn ý thi thố sở nguyện. Và trong thâm tâm sâu kín, ông mong đứa cháu trai mà ông đặt nhiều hy vọng sẽ đi theo con đường của sử quan họ Lê, người soạn bộ "Lê triều thông sử" 30 quyển và cuốn “Bắc sứ thông lục” (Chép đủ việc khi đi sứ sang Trung Quốc), người ông từng ghé tai thầm thì: “Tư Mã Tử Trường (Tư Mã Thiên) của Đại Việt đây rồi!”

      Trong năm người con trai, bằng trực giác, quan tham tụng cảm thấy Chiêu Bảy có thiên tư về chữ nghĩa hơn cả. Đã nhiều lần, cứ thấy ông làm việc bên án thư, mặc sự rầy la của mẹ hay người nhà, chú bé Chiêu Bảy liền mạnh dạn sà đến bên ông để thắc mắc đủ thứ, như cậu tin rằng: chỉ lúc đó ông mới dễ dãi với con. Ông nhận ra: những cuốn sách lúc nào cũng như hút hồn Chiêu Bảy. Nếu sự việc diễn ra đúng như sở nguyện của ông, ông sẽ bắt thằng bé chắp tay bái Lê công làm sư phụ.

      Người mẹ chú bé, bà trắc thất(3) Trần Thị Tần cũng bồn chồn không kém chồng. Với nhạy cảm của phụ nữ đất Quan họ Kinh Bắc, bà rất hiểu mối quan tâm thầm kín của đức lang quân uy trùm thiên hạ đối với con trai áp út của mình, dù mấy mẹ con bà chỉ là “vợ lẽ con thêm”. Bà để ý thấy ánh mắt cương nghị vốn sáng quắc của vị nho tướng đứng đầu triều đình kia chợt dịu lại trìu mến, tuy khó nhận ra, mỗi khi ông dừng lại trước lớp học ấu nhi gia đình, và nghe một cách chăm chú, cảm động những chữ của Tam Tự kinh thốt ra đầy âm điệu từ miệng chú bé Chiêu Bảy; dường ông cảm thấy chúng có điều gì khác lạ, hiếm gặp ở những người con khác… Còn bà, trong những lần đưa các con về thăm quê ngoại, qua cái nhìn đắm say trước cảnh vật của Chiêu Bảy, nhất là trước cảnh núi non của dãy Nham Biền có 99 đỉnh như Ngàn Hống, bà lờ mờ cảm thấy sự hòa hợp tinh diệu khó tả của tâm hồn con trai với thiên nhiên mà chỉ nghệ nhân quan họ đạt tới đẳng cấp nào đó mới có thể có… Bà dạy các con rất nhiều lời ca quan họ, dù Chiêu Bảy hát tồi nhất trong mấy đứa con song lại nhớ nhiều nhất các bài dân ca Kinh Bắc, rồi sau đó còn lắp ghép, hoán đổi câu chữ trong các bài ca ấy một cách tinh nghịch song khá ngọt ngào khiến ông bà ngoại và  hàng xóm thôn Hoa Thiều tròn xoe mắt kinh ngạc, thán phục cậu bé chưa đầy 5 tuổi đầu!

      Giống như hầu hết các bà mẹ quý tộc hay bình dân trong nhiều thế kỷ mong con trai lập thân lập nghiệp bằng khoa cử, nhưng riêng bà còn thầm ước Chiêu Bảy tiếp nối được bác Ôn Như Nguyễn Gia Thiều người đồng hương của bà, tác giả của khúc “Cung oán ngâm” nổi tiếng mà trong triều ngoài chợ ai ai cũng phải ngâm nga như lên đồng...

      Rồi cái giây phút chờ đợi cũng đã tới.

      Khi mọi người đã có mặt hầu đông đủ, đứng thành mấy lớp quây quanh chiếc sập gụ nâu bóng có trải chiếu điều, người hầu gái dẫn ra một chú bé khôi ngô, tuấn tú, đĩnh đạc, cố giữ vẻ nghiêm trang mà chỉ hai trái đào phơ phất trên mái đầu thơ ngây mới nhắc mọi người nhớ đến thân phận trẻ con của cậu. Sự im lặng chăm chú của mọi người khiến cậu hơi mất bình tĩnh, và lo sợ mơ hồ, hơn là sự bí ẩn của cái việc người ta bày đặt ra theo tục lệ của đại gia phong mà cậu được tham dự một lần.

      Chiêu Bảy đứng trước các đồ vật truyền thống của một lễ Thí nhi, ngắm nghía hồi lâu, như đang suy nghĩ lung lắm. Thực ra, cậu đâu có nghĩ ngợi gì. Tuổi của cậu là tuổi của chạy nhảy, bắt dế, chơi ô ăn quan, chơi kéo cưa lừa xẻ… Và dù cậu có khác nhiều đứa trẻ cùng lứa là hay thần ra mơ màng, có những khoảnh khắc vô tình lắng vào tận đáy của một thể khí linh thiêng trong vạn vật mà phải nhiều thập niên sau cậu mới lý giải được cặn kẽ, bản chất của cậu là hiếu động, hay tò mò, nghịch ngầm, và xử sự theo bản năng trong khuôn phép gia phong nghiệt ngã dành cho các con quan đầu triều.

      Thực ra là cậu đang ngắm các đồ vật ở dạng mỹ thuật của chúng, thử xem sự mô tả cái cày cái bừa kia có gì giống hay khác với cái cày cái bừa mà cậu đã thấy trên đồng ruộng khi về thăm Kinh Bắc, cây cung khổng lồ mà cậu chứng kiến trong buổi tập của đội vệ binh Cấm quân có gì đồng dạng với cây cung nhỏ bằng tre kia mà các anh em chú vẫn làm để lén tập bắn gà trong vườn quê ngoại… Cái hộp bút lông làm từ vùng quê Mão Điền quê ngoại và chiếc nghiên sứ men lam vùng Chu Đậu xứ Đông thì quá quen thuộc với những kẻ “chi hồ giả dã” như các anh em cậu, trong một gia đình thi thư nức tiếng. Chỉ có chiếc ấn triện là hơi xa lạ với cậu, bởi cậu chỉ được nhìn thấy một lần từ xa khi cha cộp dấu quan Tể tướng vào bài khải dâng Chúa, và một lần trong lễ Thí nhi cho anh cậu khi cậu còn rất bé.

      Linh cảm trời cho của một chú bé 5 tuổi giúp cậu cảm nhận rõ được sự hồi hộp đến gần như nín thở của những người thân yêu vây quanh. Tựa như quyết định ngay lúc này của cậu sẽ liên quan đến một điều cực kỳ hệ trọng - không những chỉ đối với cậu mà còn đối với một đại gia đình ngựa xe võng lọng có không ít người ra vào cung vua phủ chúa mà không phải cởi bỏ vũ khí… Phải, chính điều này khiến cậu chợt thức tỉnh giấc mộng trẻ thơ: Vũ khí! Vũ khí! Những thanh long đao dài sáng quắc và những cây thương có ngù tạo thêm long trọng cho hàng binh đứng như tượng đá rước lọng vua chúa đi qua, những thanh đoản đao được trang trí cầu kỳ đeo bên mình võ tướng, những cây gươm cong biểu tượng cho thực thi công lý treo trên tấm da hổ rải ở sảnh đường, những cây kiếm ánh thép xanh lòe như đâm toạc trời xanh, những mũi tên bọc đồng bay như châu chấu vây kín một thành lũy - những điều cậu được nghe không chỉ một lần từ kinh - sử mà anh em cậu được nhồi nhét hàng ngày rồi tưởng tượng thêm ra… Thế là ánh mắt của cậu bị bộ cung tên thu hút như thôi miên.

      Nhưng, đầu tiên cậu lại giơ hai cánh tay bé nhỏ cầm hộp bút giơ lên, đếm chậm rãi xem trong đó có bao nhiêu chiếc bút lông. Rồi cậu mạnh dạn rút ra một chiếc, như mọi lần cậu tập viết, và theo thói quen, tay kia sờ tới chiếc nghiên. Một thị đồng, đã được dặn trước, vội mang thỏi mực và bình nước tới, mài mực. Một thị đồng khác mang tới tờ giấy bản mạ vàng. Ông Tham tụng và bà vợ lẽ chắc là người sung sướng hơn cả. Người mẹ mắt nhắm nghiền lại, miệng thầm thốt lên những lời bà dành cho buổi lễ Phật trọng.

      Chiêu Bảy ung dung chấm ngòi bút vào nghiên mực, rồi đặt trên giấy một hình liền nét mà dù méo mó vụng về, ai cũng nhận rõ đó là vòng tròn!

      Một vòng tròn của sự rỗng không mà bất cứ ai biết chút ít về giáo lý nhà Phật cũng đều hiểu.

      Mọi người xúm vào nhìn, khe khẽ bình luận, bàn tán, đồng thời lén dò xem phản ứng của đại lão gia. Ông lặng lẽ vuốt râu, không tỏ thái độ gì. Nhưng, ông chợt giật bắn người, gần như đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế duy nhất tại đó, khi trước mắt ông là cảnh đứa cháu trai quý hóa vò nát tờ giấy bản rồi vứt sang một góc tựa đó là một thứ vô nghĩa, không đáng đếm xỉa tới.

      Ông vội ghìm mình lại, bình tĩnh ngồi xuống để xem trò gì sẽ diễn tiếp theo, dường ông chẳng xem trọng quá trò vui vẻ đầy ngẫu hứng này, nhưng hai chữ PHÚC - ĐỨC bỗng dưng nhảy múa, rồi méo đi trong mắt ông… Còn bà mẹ thì bắt đầu thấy người lao đao, mặt mũi xây xẩm, nhưng vẫn cố gượng mỉm cười che dấu mọi xao động trong lòng.

      Vò tờ giấy vứt đi xong, Chiêu Bảy sờ đến chiếc ấn triện, cậu nâng lên, xoay ngang xoay dọc ngắm nghía. Lần đầu tiên cậu được tiếp xúc với nó ở cự ly gần đến thế, và lại được mân mó nó như một thứ đồ chơi, chứ không phải là vật để đám đông từ bậc chăn dân đến lũ con đỏ Kính - Sợ… Hồi lâu, dường đã chán, và cảm thấy mình đã lạm dụng sự chờ đợi của mọi người, cậu thận trọng đặt chiếc ấn triện xuống bằng hai bàn tay, như một vật “kính nhi viễn chi”, rồi quay phắt sang bộ cung tên giả.

      Ánh mắt cậu sáng lên đầy ranh mãnh như lúc giương cung nhắm vào con gà nhép rồi cố tình bắn trượt thật xa để mua lấy tiếng cười vui của lũ trẻ hàng xóm nhưng thực ra là để cứu con gà. Thế rồi, cậu giơ hai cánh tay ra ôm chặt lấy bộ cung tên - như đó là vật hộ mệnh của mình.

      Có tiếng reo to bật lên: “Hay lắm! Nhóc đệ yêu quý! Lập thân tối hạ thị văn chương!”(4) Đó là Thiêm đô Ngự sử đài Nguyễn Khản, thuộc trưởng chi Nguyễn Tiên Điền, con trai trưởng của bà vợ cả quan Tể tướng. Anh bước tới, bế xốc cậu em út ít lên cùng bộ vũ khí giả, đưa cậu tới mọi người như khoe một chiến công mới của anh, sau khi anh được Chúa thưởng một tấm chiến bào hôm trước. Trong những cuộc chiến quyền lực sắt máu đang tới, thế là anh đã có thêm một đồng minh tin cậy, ruột thịt… Nguyễn Khản hàng ngày bàn bạc việc quân việc nước với cha, là người nổi tiếng tài tử, giỏi giang trong mọi lĩnh vực, từng là thầy dạy Thế tử Trịnh Sâm, từng làm Tế tửu Quốc Tử Giám. Mọi người thấy một bậc «quyền huynh thế phụ» rỡ ràng như thế bộc lộ thái độ đầu tiên thì cũng mặc nhiên coi là tiếng nói đại diện cho cả bậc phụ mẫu.

       Dường để tấn bi hài kịch của lễ Thí nhi được trọn vẹn, tạo hóa đã kịp thời bố trí hai nhân vật lịch sử được ghi chép lại đàng hoàng (Rất có thể là ghi chép của sử quan họ Lê): Lúc mọi người đang bàn tán lần cuối để chia tay ai về nhà nấy, thì Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc tới thăm bạn cũ - tướng công Nghị Hiên, tể tướng đương triều. Khi được nghe kể lại sự việc vừa diễn ra, râu Việp Quận công vốn đã vểnh lại càng vểnh thêm lên, ông sung sướng tháo thanh bảo kiếm đang đeo trên mình ra, nâng bằng hai tay lên cao, trịnh trọng:

       - Chú bé này sẽ là một tráng sĩ làm vẻ vang cho dòng họ Nguyễn Tiên Điền! Xin được tặng tiểu tướng!

      Chiêu Bảy ngước nhìn cha. Ông im lặng thất thần. May có Nguyễn Khản vội chạy tới, thay mặt cả nhà cảm ơn khách vì món quà quý. Vừa cầm thanh bảo kiếm nặng trịch bằng hai tay, Chiêu Bảy đã lảo đảo, nhờ có mấy anh chị đứng cạnh đỡ cho và cầm kiếm hộ nên thoát ngã ngửa bị kiếm đè.

      Một võ sĩ họ thuộc hạ thân cận của Nguyễn Khản lúc nào cũng đi theo chủ liền nâng thanh bảo kiếm lên, ngắm nghía mê mải, luôn miệng trầm trồ. Chính anh ta sau đó sẽ là sư phụ truyền mọi bí quyết kiếm thuật cho chàng thiếu niên Chiêu Bảy, và trở thành anh em kết nghĩa của chàng.

      Cũng lúc đó, Chánh thủ hiệu ở Thái Nguyên họ Hà, người bạn thân của Xuân Quận công vội vã bước vào nhà, vì biết được lễ Thí Nhi, song chậm mất, ông ta rối rít xin lỗi. Và sau khi kính gửi lễ vật, ông rụt rè chính thức đề nghị xin Chiêu Bảy làm con nuôi, vì ông ta không có con trai.

      Nhìn thấy cha ôm ngực ho và phẩy tay, Nguyễn Khản liền thay mặt đại gia chủ tuyên bố :

       - Thưa ngài, tháng trước ngài đã có đề nghị trân quý này, gia đình chúng tôi đã bàn bạc thống nhất, song chưa có dịp hồi âm. Trong ngày thiêng liêng này của em trai tôi, xin thay mặt cha mẹ và các em tôi, kính thuận ngài làm dưỡng phụ của Chiêu Bảy!

      Anh quay sang Chiêu Bảy :

       - Đệ, hãy bái lạy dưỡng phụ, và hứa đi theo con đường binh nghiệp của dưỡng phụ!

      Chú bé đã mệt mỏi và ngán ngẩm lắm, song vẫn cố tỏ ra hùng dũng để xứng là con nhà võ tướng như mọi người chờ đợi, chắp tay vái mấy vái người sẽ là dưỡng phụ của cậu theo đúng kiểu cách quý tộc.

      Lời của Nguyễn Khản hóa ra là một định mệnh. Khi ông họ Hà mất, Chiêu Bảy đã kế chân chức Chánh thủ hiệu đội quân hùng hậu hiệu, một chức quan võ ở Thái Nguyên; lúc đó anh đã khá thông thạo thập ban võ nghệ cùng nghệ thuật điều binh khiển tướng.

     Sử quan họ Lê lẳng lặng giở túi, lấy thẻ ra để ghi vào đó sự kiện hệ trọng của nhà quan bạn. Nó có thể đưa vào chính sử hay không, chưa thể biết, cái chính là ông đã thể hiện sự tri âm, và cả tri ân nữa đối với một dòng họ mà ông hết mực quý trọng. Điều đáng kể là tình cảm đó đã giúp ông chợt đọc ra nỗi tuyệt vọng sâu thẳm trên gương mặt bạn - nỗi tuyệt vọng không xa lạ với tâm sự thầm kín của ông.

      Xuân Quận công lúc đó tựa bị rơi xuống vực mà không ai có thể cứu nổi ông. Bao mơ ước thầm kín lâu nay ông dành cho đứa con trai thông minh dĩnh ngộ như tiểu thiên thần chợt hóa thành mây khói. Mấy người con trai đã trưởng thành của ông đều là những kẻ sĩ anh tài của thời cuộc, song chỉ đến thế mà thôi! Đã có danh vị, đã có cống hiến ít nhiều cho cái quốc gia đang buổi phế tàn, nhưng sẽ để lại cho đời cái gì đây, ngoài cái danh hão mà những bóng mây đen ngòm của thế sự sẽ nhấn chìm đi trong giấc mộng Hoàng lương?... Là người yêu văn chương, yêu sử sách tận huyết quản, nhiều năm qua ông đã phải tạm rời sách vở để làm quan võ bất đắc dĩ, thống lĩnh quân sĩ đi dẹp loạn nhiều nơi nhằm đem lại sự yên ổn tạm bợ cho cái triều đình lưỡng chế mục ruỗng thấm đẫm máu dân lành. Than ôi! Thanh gươm và vó ngựa chiến mà ông xử dụng thành thạo như một phương tiện trấn áp đã đem lại điều gì tốt đẹp cho cái dân tộc tang thương khốn khổ này đây, ngoài nỗi đau chất chồng, oan khiên tích tụ, bất công góp thành bão tố? Thanh gươm nhuốm máu lại nằm trong tay những kẻ khô cạn tình thương, kiệt quệ lương tâm, thì còn hy vọng gì có những tiếng ca hát tươi vui nơi thôn dã bình yên?... Một giọt lệ đục mờ chợt xuất hiện trên mí mắt già nua, ông vội gạt ngay để khỏi ai nhìn thấy.

      Và có một người nữa cũng thấu hiểu tâm trạng ông lúc này. Đó là người vợ ba kém cả tuổi con trai đầu của ông. Bằng một thần giao cách cảm mà từ sáu năm trước bà đã có, khi lần đầu gặp ông tại thôn Hoa Thiều dẫn tới cái gật đầu ưng thuận làm trắc thất của ông, lúc này nó lại xuất hiện trong một tâm hồn dịu dàng, đằm thắm, giàu đức hy sinh chịu đựng, giúp bà đồng tâm ngay được với ông như một tri kỷ hiếm hoi - dù ông chẳng thể biết được ngay điều đó. Xưa nay, bà một mực kính trọng ông, nhưng giờ đây, lần đầu tiên bà thấy thương ông, một tình thương xót xa khi nhận thấy nỗi tuyệt vọng đau đớn của ông… Mấy năm qua, ông chinh thảo trận mạc ở Thanh Hóa, Nghệ An, tóc bạc trắng, người sắt lại vì sương gió. Bà hiểu cái biệt hiệu “Hồng Ngư cư sĩ” của chồng bộc lộ ước nguyện sâu xa là được ẩn dật tại quê nhà để đọc sách, trước thuật, vì thế cái mong mỏi cho tương lai Chiêu Bảy của ông thực gần gụi, thân thiết với bà… Nỗi tuyệt vọng của chồng mau chóng lan tỏa trong lòng bà, và dội lên thành tiếng kêu thầm thảm thiết: “Máu! Máu! Lại máu chảy không biết khi nào ngừng!... Con trai ơi, con sẽ lại bước vào hàng ngũ những kẻ giết người… Những kẻ bị giết là ai? Họ thù địch với chính thể tanh máu này song lại là đồng bào của con, họ là những người lương thiện bị đẩy vào bước đường cùng… Thập loại chúng sinh, trong đó có cả những kẻ từng chém giết người không ghê tay đã mệt mỏi đang chờ mong lời an ủi, sự giải thoát bằng tình thương chắt ra tự tâm can… Sao con không tìm đến ngọn bút mang tiếng khóc của bác Đặng Trần Côn, bác Nguyễn Gia Thiều, mà lại tìm đến cây cung thanh kiếm dính máu trong cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt?... » Tiếng gào thét trong tâm can người mẹ dần hóa thành lời khấn Phật, thành ước nguyện thầm kín thiêng liêng của một người mẹ đất Việt gửi vào nguyên khí của Đất Trời…

      Cậu bé Chiêu Bảy, tức Thanh Hiên công, tên Du, tên chữ Tố Như sau đó trong nhiều năm quả đã theo đường võ thuật, binh nghiệp, với hy vọng «cầm kiếm chống trời xanh». Nhưng không rõ có phải do ước nguyện của người mẹ đã thấm vào linh khí nước Việt hay không, mà người con hiếu thảo Nguyễn Du đã vứt bỏ binh quyền võ nghiệp để trở thành nhà thơ của một trong «An Nam ngũ tuyệt», và đã biến ngọn đao thép thành ngọn bút lông, ngọn bút cũng sắc như dao! (5)

       Riêng ước nguyện của người cha là muốn con trai thứ bảy làm sử, thì nhà thơ cũng đã làm sử; có điều không phải là lịch sử các sự kiện, các triều đại, các nhân vật vua chúa, mà là lịch sử của các tâm hồn người trải qua mọi kiếp đoạn trường…

 

Viết thêm :

       Sử quan Lê Quý Đôn có lời bình nào không từ những ghi chép về lễ Thí nhi đặc biệt mà ông được chứng kiến? Tác phẩm của ông nay bị thất lạc quá nửa… Song với những trước tác của ông còn lại, và qua công trình nghiên cứu sâu sắc về ông của một nhà sử học Việt Nam hiện đại(6), người viết những dòng này tin rằng: sử gia Lê Quý Đôn nhất định phải có những bình luận lý thú về sự kiện trên, nhưng vì chưa tìm thấy, nên đành liều hình dung và mô phỏng một cách vụng về những ý nghĩ quý giá đó của ông: «Nho tướng Đại Việt xưa nay, chuyện lên ngựa thì cầm cung kiếm, xuống ngựa thì cầm bút, là chuyện bình thường. Nhưng đó là khi quốc gia có biến bởi giặc ngoại xâm. Còn trong thời loạn lạc này, lúc nhân tâm ly tán, rường mối bất ổn, lòng người bất phục, thì những sự tàn nhẫn khắc bạc chỉ gây thêm mối oán hận, thanh gươm chỉ làm máu chồng máu, hủy hoại tài học và trung tiết… Nhưng thanh gươm buổi vào độ cần cất giấu cho kỹ, thì ngọn bút lại càng cần được trọng vọng nhiều hơn để góp phần cải hóa nhân tính, nêu cao đạo Trời và Đạo người… Thế mà con thứ bảy của Nghị Hiên công bạn tôi đã chọn cung kiếm, mong theo gương các võ tướng của nhiều dòng họ thời loạn… Tôi thương ông mà không biết làm gì, chỉ còn biết hy vọng ở cậu bé sẽ giữ được phần trung hậu của bạn tôi, và sau này nếu có buộc phải cầm thanh gươm sẽ không để nó dính máu người đức hạnh hay vô tội… »

       Nhà sử học vĩ đại đâu biết rằng, chú bé ấy đã thực hiện một «cú lừa» đáng yêu mang tầm vóc thế kỷ ở tuổi chưa biết gì về võ thuật lẫn văn chương; và đó là câu chuyện đáng ghi vào sử sách về tuổi thơ của một Đại thi hào dân tộc…

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

______________

1. Cổng dành gia đình quyền quý mặc áo đen ( Xuất phát từ bài thơ «Ô Y Hạng» của Lưu Vũ Tích), do Chúa Trịnh đặc cách đặt tên.

2.Con cái đại quý tộc được gọi là Chiêu.

3. Vợ hai là Á thất, từ vợ ba trở đi gọi là Trắc thất.

4. Câu thơ của Viên Mai (nhà lý luận phê bình văn học đời Thanh, TQ): Cách lập thân tồi nhất là bằng văn chương.

5. «Quái đắc nhu tình khinh cát đoạn/ Khuông trung huề hữu bút như đao» - Lạng thành đạo trung (Quái lạ, nỗi nhớ nhung lại dễ cắt đứt, bởi trong tráp đã có ngọn bút sắc như đao) «Bắc hành tạp lục», Nguyễn Du.

6. «Phương pháp làm sử của Lê Quý Đôn», Đinh Công Vĩ, Nxb KHXH, 1994.

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 459)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 676)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 729)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1195)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1061)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1183)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1671)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1717)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1587)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1589)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10451)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17268)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16343)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16797)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1183)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1716)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1737)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2495)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 675)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1061)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1587)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1427)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 459)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1194)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1671)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1588)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 729)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3157)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3112)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3707)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2246)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13962)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30089)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36165)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11656)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13104)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2932)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4163)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4107)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4629)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5149)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8360)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7755)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10678)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.