- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,941

TRỜI THÁNG TÁM

02 Tháng Mười 20195:22 CH(Xem: 5758)

photo Quy SG- Dalat Suong
Đà Lạt Sương -ảnh Quy SG

 

 

NHỮNG NỖI NHỚ THÁNG CHÍN 

chỉ là hạt mưa thật nhỏ

hững hờ rụng xuống vai

kéo dài chút xíu nỗi nhớ ngày đầu thu nắng ấm

vẫn câu chuyện cũ còn sót lại

hững hờ không kém

vừa kể xong lần thứ một trăm, chẳng còn ai nghe

bây giờ là lúc thèm một mẩu bánh, một ly cà phê

để giấu đi ganh ghét và có dịp nói những điều thật đẹp (dù là giả tạo)

 

khề khà cùng nỗi im lặng

thứ im lặng làm đau nhức tâm hồn

cây đèn cầy soi khuôn mặt bạn da nhăn

nửa mái đầu đã bạc

vất vả tiếng cười hình như không trọn vẹn

nỗi buồn đâu đó bạn ơi

của con sâu cuộn mình trong hoa

con trùng nằm yên dưới đá

đôi khi thanh âm không cần thiết

tiếng kêu leng keng thật nhỏ trong tim

 

bày đặt làm chi những trò chơi cút bắt

bịt mặt che tai, rủ nhau chạy tìm ảo vọng

tháng chín đầu thu nắng ấm

những chứng nhân nhảy múa, rượu chè đình đám

trong khi người đàn bà đong đưa nỗi buồn

em bé ngồi trên đống gạch cũ

và người ngư phủ lặng yên bên con cá chết

bày đặt làm chi những tuyên ngôn,những tranh và tượng

có bức tranh, cây cọ nào vẽ được hình ảnh không lời

đang xảy ra trên quê hương

 

từ thế kỷ trước tôi đã ngóng nhìn phương Đông

thèm cá lóc, canh chua và thịt kho nước dừa

chim bay vượt biển ngày nào sẽ mỏi

thấy bóng em qua chữ nghĩa rối bời

vẫy vùng trong vũng tối của cường bạo xí xô

ánh sao trời le lói trong tim

mỗi đêm đọc lời kinh cứu rỗi

chạm tay Phật giật mình run rẩy

 

tháng chín đánh thức những khờ khạo

của ma quỷ và u mê

những đóm lửa mang mùi bất hạnh

thắp trên tay những con người đau khổ

còn ai sớt chia ngôn ngữ

và những lời ẩn dụ trong tim…

 

thy an




TRỜI THÁNG TÁM

trời tháng tám có nhiều mây xanh

mùa hè sắp tắt

những con đường và những bảng hiệu

nhắc nhở quá khứ màu vàng và hiện tại  màu đen

viên sỏi trắng không thể nào biến thành hạt ngọc

cho dù nằm trên tay nàng con gái thật đẹp

chúng ta có nói nhau trăm lần

cũng không thay đổicảnh vật xung quanh

thời gian theo sát với mớ hành trang cũ rích

lải nhải bên tâm thức những đêm lạnh và ngày nóng

bao cánh cửa mở ra rồi đóng lại

tiếng leng keng của sợi dây sắt như thách thức kẻ dữ

bên ngoài là bạo lực và hung tàn

mỗi ngày soi gương thấy mình già

nhưng hình như chưa lớn

bực mình nói những câu văng tục

cười với tóc muối tiêu

 

trời tháng tám còn chút lửa hâm nóng trái tim khô

vài giọt lệ nhỏ xuống trang giấy mỏng

xanh xao không chuyển nổi thành lời nói

cho dù thi ca thức trắng đêm

mơ Truyện Kiều với Nguyễn Du

nhớ Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Nguyễn Trãi

gối đầu lên thơ ca tụng những anh hùng

nhắm mắt tìm mãi không ra miếu đền thành quách

 

trời tháng tám giữa dòng âm thanh vui lạ

vô tình như rừng cờ và kèn trống

vạch lá  trên chậu chợt thấy bóng hình trong sạch

của ai đó ngồi bên khe núi

im lặng cầm cây nến nhìn về phía đồi xa

bên kia biển

nơi đồ đạc thân quen đang đổ vỡ

thành những hạt bụi rơi xuống vai

những kẻ khốn cùng nhìn nhau ứa lệ

nước mắt rơi xuống bên cạnh con cá chết

còn gì để tỏ bày tội lỗi

quên lãng như mây mưa

hay chỉ là nỗi buồn bay theo gió

và tan trong mây…

 

thy an

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1025)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1109)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1797)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5821)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5808)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13160)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30012)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81127)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20221)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 344)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”