- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHÚA HOA

19 Tháng Tám 20193:54 CH(Xem: 45987)

hinh-anh-dep-ve-bien-dao-viet-nam
Biển đảo Việt Nam-ảnh Internet

      Tôi đứng một mình bên cửa sổ. Đêm lặng.

        Ngọn đèn hành lang rọi xuống chậu cây chi mai đang nở hoa trắng, tạo thành một quầng sáng đơn độc. Tôi vốn có thói quen đọc sách khuya. Những lúc đêm khuya thanh vắng, khi người đời đã chìm trong mộng mị, là lúc tôi thả hồn mình lang thang với những con chữ. Đọc đến một lúc nào đấy, cảm thấy đầu mình u mê, tôi hay tới bên  cửa sổ, đứng khoanh tay nhìn ra ngoài hiên. Tôi thường hay nhìn một cách vô định vào bóng cây sấu già đang chập chờn cô đơn khua lá. Như là một phép dưỡng sinh cho mắt. Từ hôm có chậu chi mai thì hồn tôi trút cả vào chậu cây nhỏ xinh đang nở hoa trắng xoá. Tôi say mê ngắm. Tôi đang mê đắm vẻ đẹp của một loài hoa đã từng được bao thi nhân từ cổ chí kim ca tụng… Dưới ánh sáng đèn led, những bông hoa lung linh trắng, cánh hoa mong manh trong suốt như không thực. Huyễn hoặc. Cây chi mai mang dáng lả lướt của cô gái trẻ, hiển hiện rõ ràng từng bông, từng nụ, từng búp lá xanh non. Đứng lặng ngắm trong đêm hồi lâu, tôi thấy mắt mình bỗng nhoà đi, mọi hình ảnh chập chờn lạ lẫm. Cây chi mai trên chiếc chậu gốm uốn mình lay động. Một mùi hương thanh tao thoảng lướt trong đêm…  Trên tán hoa trắng xanh, bông hoa to nhất bỗng nhiên nở bừng ra. Nở to mãi ra. Lúc chiều tôi ra tưới cây đã thấy hơi lạ, sao trong bao nhiêu bông hoa nho nhỏ với những cánh hoa li ti muốt mát, lại có một bông to hơn hẳn. Tôi lấy làm thú vị, xoay chậu cây hướng bông hoa đó vào cửa sổ. Để ngồi trong thư phòng, tôi có thể ngắm nhìn lúc nào tuỳ thích. Nhưng lúc này, tôi thấy bất an, trong lòng tràn ngập một nỗi hoảng sợ mơ hồ. Tôi hoang mang nhìn những cánh hoa nở to ra, hư ảo. Những cánh hoa vẫn trong suốt, trắng mướt mát đến lạ kỳ. Đêm vẫn yên ắng. Cái yên ắng của đêm khuya thật lạ lùng trên phố xá…  

       Bông mai trắng tự nhiên sáng rực lên.

       Hiển hiện ra một khuôn mặt đàn bà đăm đắm nhìn tôi. Tôi cảm thấy tim mình như ngưng đập trong giây lát. Thân thể tôi như người đang đi trên đường bỗng rơi tụt xuống một cái hố sâu thẳm. Chơi vơi. Tôi cố nhận thức xem là mơ hay tỉnh. Tôi dụi mắt nhìn lại cho kỹ. Cấu tay xem còn có cảm giác đau không. Vẫn đau. Nhưng sao mọi thứ lại như đang trong một giấc mơ… Khuôn mặt người đàn bà chập chờn ẩn hiện trong bông chi mai thật khó đoán định. Đẹp. Một vẻ đẹp khó tả bằng lời. Một gương mặt không tuổi. Kiêu sa. Đài các. Lạnh lùng. Mà vẫn có nét gì đó gần gũi, nồng nàn. Lạ. Tôi cứ loay hoay với đoán định là thực hay mơ của mình. Đầu óc đang rối rít bùng nhùng như vương trong đám mạng nhện. Thì bỗng có một  tiếng nói cất lên. Vang vang trong tai. Nhưng lại cứ như vọng về từ nơi xa thẳm. Giọng nói không âm sắc. Tôi nghe rõ từng lời. Giọng nói nhẹ như tiếng thở của đêm xuân, thì thầm, nhưng rành mạch:

       -Ta là Vương hậu Paramecvari của Đức vua Chế Mân vương quốc Chiêm Thành. Ta vốn là trưởng nữ công chúa của Đức Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Ta đang rất buồn phiền. Ta vừa sinh hoàng nam được một tháng mười ba ngày thì chồng ta băng hà. Đức vua oai hùng của Vương quốc Chiêm Thành. Người đã sát cánh cùng cha ta đánh bại quân Hung Nô đã về trời. Ngài bỏ ta cô lẻ trong đền đài cung điện của một nơi ta mới chỉ vừa tới. Ôi, ta đau đớn quá…

      Tôi rùng mình.

      Chiều nay, tôi vừa ngồi với bạn gái mình. Một cô giáo dạy văn tại trường trung học trong thành phố.

Trong quán cà phê vắng, đẹp thơ mộng bên bờ một hồ nước mênh mang. Nàng xinh xắn, bé nhỏ. Nhưng rất lạ là nàng lại có đôi mắt xanh biếc và mái tóc màu nâu như những cô gái vùng Địa Trung Hải. Nàng bảo, có khi em là kết quả của công cuộc khai phá văn minh của dân Châu Âu cho dân Annam thế kỷ trước cũng nên. Nàng nói chuyện rất hay. Khi bên nàng tôi thấy mình vui lạ.

      Nickname của nàng là Hạ Lan.

Hồi mới làm quen trên facebook, nàng khoe nhà ở trên con phố mang tên Huyền Trân Công Chúa. Nàng ngưỡng mộ bà công chúa triều Trần, gác tình riêng, đem thân mình đổi cho vương triều hai Châu Ô- Lý. Mở mang lãnh thổ Đại Việt mấy trăm dặm bờ cõi về phương nam.

       Thốt nhiên, bông chi mai trước mặt tôi mờ đi.

       Gương mặt người đàn bà đẹp trong hoa bỗng như thở dài. Một luồng hơi giá lạnh toả ra xung quanh khiến không gian ngưng đọng. Những giọt sương đêm xuân sa vào tay tôi buốt giá. Người tôi đông cứng. Môi mấp máy muốn nói mà không thốt nên lời.

      -Ta đâu muốn đem đổi tình yêu lấy ngàn dặm đất. Nó có nghĩa gì với ta đâu. Ta chỉ cần một gian nhà nhỏ dưới trại Bạch Mai cùng với Trần thượng tướng. Thế là đủ. Ta đã nguyện từ bỏ mọi tước vị hoàng cung, mọi danh giá trên đời. Ta sẵn lòng làm thê thiếp của người đàn ông mà ta yêu thương kính trọng. Miễn là ta được sống với người mình yêu. Ta sẵn sàng đem tấm thân quí giá ngàn vàng dâng hiến cho người yêu dấu. Hầu hạ ngài. Vậy mà…

      Tôi quen nàng qua facebook.

      Nàng chăm viết status. Rất đều đặn, mỗi hôm nàng viết một cái, kèm theo cả hình minh hoạ. Buổi offline đầu tiên, cũng trong quán cà phê, bên cái hồ mênh mông này. Hôm ấy cuối thu, nắng rời rợi trên sóng, hơi nước bốc lên mờ ảo lành lạnh. Nàng rực rỡ váy áo phấn son. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau thân mật. Và rất nhanh chóng trở thành tâm giao, “như có duyên từ trong tiền kiếp.” Đấy là lời cả hai đứa cùng thốt lên, sau vài lần gặp gỡ và hàng đêm thức trắng chát với nhau trong inbox. Nàng khoe đang viết một vở kịch về cuộc đời sầu thảm của Huyền Trân Công Chúa, người mà nàng yêu thích. Nàng nói, sẽ dựng vở ca kịch này cho học sinh lớp chuyên văn nàng dạy biểu diễn. Nàng đã đọc cho tôi nghe đoạn thoại của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông với Trần thượng tướng, người yêu của công chúa, khi quyết việc gả bán cho Chế Mân:

      -Tâu Thái Thượng Hoàng, người quyết gả trưởng nữ công chúa cành vàng lá ngọc của nước Đại Việt cho một tên vua già xứ nam man, chẳng hoá ra thiệt thòi cho công chúa lắm sao?

      -Nhà ngươi thân làm Thượng tướng quân, nắm binh quyền trong tay mà chỉ biết một không biết hai, chưa nói là phải biết đến mười! Đại Việt ta bao đời âm mưu thôn tính Chiêm Thành không xong. Quân sĩ cũng giao tranh nhiều trận mà chưa chiếm nổi một tấc đất của nó. Nay chỉ một đám cưới, ta có hẳn hai châu Ô-Lý với mấy trăm dặm dài và hàng ngàn dặm vuông cho bờ cõi thênh thang rộng mở. Mà không phải tốn một mũi tên, hy sinh một quân sĩ nào! Thử hỏi có đáng không? Vả lại Chế Mân cũng là bậc anh hùng kiệt hiệt trong thiên hạ, năm xưa đã cùng ta đánh cho Toa Đô phải chạy mất vía, kể cũng xứng là mối duyên trai anh hùng gặp gái thuyền quyên vậy.

      -Tâu Thái Thượng Hoàng, xin cho thần đem toàn bộ binh lực nước Đại Việt vào làm cỏ dân Chiêm, san phẳng thành quách của chúng, đem đất đai của nó nhập vào Đại Việt ta. Thần xin nguyện đem thân nam nhi ra chiến trường, chém tướng, lập công giành đất. Chứ thần không cam tâm ngồi khoanh tay bó gối an hưởng lộc từ bông hoa của công chúa mang lại…

      -Láo xược ! Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đập bàn quát lớn- Nhà ngươi dám nói xàm! Ta cho tứ mã phanh thây bây giờ!

      -Xin người cứ làm. Thần cam chịu chết để khỏi phải nhìn thấy lá ngọc cành vàng rơi vào tay kẻ man di- Trần thượng tướng lột mũ quan võ nhất phẩm, quỳ sụp, dập đầu xuống nền gạch toé máu…

       Bông Chi Mai ngoài hiên lay động.

       Khuôn mặt Vương hậu mờ đi, như có một lớp sương mù phủ lên. Nhưng giọng nói vẫn rõ ràng như khắc trong tai tôi…

      -Ta biết tiếng Trần thượng tướng quân từ lâu. Nhưng đến đêm hội nguyên tiêu trong điện Trùng Quang, năm ta mười sáu tuổi, ta mới gặp ngài. Ôi, trái tim thiếu nữ của ta lập tức rung lên trước một trang anh hùng cái thế. Người đã từng một mình một ngựa xông thẳng vào trại quân Nguyên như vào chỗ không người. Đám vương tôn công tử triều đình, những kẻ đang rắp ranh cầu hôn ta, bên ngài thật như đom đóm so với nhật nguyệt. Ta yêu người ngay từ phút giây đó. Trái tim ta không còn chỗ cho ai khác. Nhưng thật trớ trêu. Ngài đã có gia thất đề huề. Còn ta là trưởng nữ công chúa lá ngọc cành vàng. Cha ta không cho phép mối tình ngang trái này kết quả. Giá ta chỉ là một cô thiếu nữ con nhà dân lành, ta đã có thể bỏ hết mà đi theo ngài, làm tỳ thiếp cũng được. Miễn là ta được ở bên ngài. Bên người trong mộng của mình…

        Tôi cũng yêu nàng trong một mối tình si điên rồ.

        Nhìn ngoài vào, chúng tôi quá chênh lệch. Nàng trẻ đẹp, còn tôi xấu đen. Nhà nàng thuộc hàng trí thức danh gia vọng tộc, còn nhà tôi xuất thân thấp kém… Thế nhưng bất chấp tất cả. Chúng tôi lao vào nhau như định mệnh. Mỗi khi bên nhau, nàng hay gối đầu lên ngực tôi nằm nói chuyện. Với một tâm trạng vô cùng thoải mái, thư thái, chúng tôi hay trò chuyện lan man đủ thứ. Và rất loanh quanh, cuộc nói chuyện hay bị xoay về câu hỏi chưa có lời giải rõ ràng: “Tại sao mình lại yêu nhau nhỉ?” Mỗi đứa đưa ra một mớ những phân tích lý luận của mình. Thậm chí, có hôm tôi đã huy động trong trí nhớ mù mờ sót lại vài kiến giải của quý ngài Sigmund Freud, để soi rọi cho cái hành động của chúng tôi. Vô ích. Không có gì sáng tỏ hơn. Chúng tôi bảo nhau: Kệ! Cứ yêu nhau đã. Mặc kệ mọi chuyện đến đâu thì đến. Mọi việc đã có giời sắp đặt…

      Bông chi mai chợt rung rinh.

      Khuôn mặt đẹp cao sang của Vương hậu bỗng như giãn ra, trên môi nở một nụ cười se sắt:

     -Các ngươi quả là những kẻ điên tình rồ dại đáng yêu. Người tình trong mộng của ta, Trần thượng tướng cũng chỉ trong một khoảng khắc giáp mặt đêm nguyên tiêu. Mời nhau một chén rượu xuân. Thế rồi tình bùng cháy. Chàng đã dập đầu xin với Thái Thượng Hoàng cha ta. Ta cũng đã quỳ gối xin người… Cha ta yêu ta. Nhưng người còn yêu cái gọi là giang sơn xã tắc và sự nghiệp của ngài hơn. Ngài vẫn quyết gả ta về phương nam. Ta đành nhắm mắt đưa chân. Vâng lời cha. Cũng là bảo toàn cho người mình yêu…

       Tôi ngày càng mê nàng hơn.

       Nhưng với nàng, hình như thú vui viết lách vẫn cuốn hút hơn việc gặp gỡ người tình. Hay ít nhất là cũng ngang nhau. Gặp, thế nào nàng cũng nói về những cái đang ấp ủ. Tôi hỏi nàng: em viết thế để làm gì? Nàng nói rằng, nàng không biết. Nàng thấy có một nhu cầu từ trong sâu thẳm tâm thức của mình, nó thúc đẩy, nó bắt nàng phải viết ra, phải trải lòng mình trên trang giấy. Nàng kể với tôi là khi viết vở kịch về câu chuyện đời của công chúa Huyền Trân, nàng đã để cho Trần thượng tướng trong cơn bi phẫn của tình yêu đã gào lên rằng, cả một triều đình oai hùng, từng ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông mà phải nhờ vào một cái bướm của đàn bà để mở mang bờ cõi sao? Tôi cười, luồn tay sang véo yêu một cái: “Thế nàng không nhớ là triều nhà Trần, suy cho cùng cũng được đẻ ra bởi bông hoa sen của bà Trần Thị Dung đó sao? Bà không cưới Lý Huệ Tông, một ông vua quặt quẹo cuối triều Lý thì nhà Trần làm gì có cơ hội… Kết thúc nhà Lý, bà lại về làm vợ một người đàn ông vĩ đại mà tầm vóc của ngài đến bây giờ lịch sử vẫn chưa đánh giá hết: Thái sư Trần Thủ Độ. Thế rồi bà vẫn được tôn vinh là Linh Từ Quốc Mẫu.” Nàng cấu trả tôi một cái đau điếng: “Chuyện ấy ai chả biết! Thế nên Thượng Hoàng Trần Nhân Tông mới nói với Trần thượng tướng thế này: Nhà ngươi can tội khi quân phạm thượng. Đáng phải cho tứ mã phanh thây. Nhưng nể tình ngươi có nhiều công lao với triều đình. Nể lời cầu xin của con gái ta trước khi xuất cung theo chồng. Ta miễn tội. Đuổi ra khỏi triều, cho về dưới trại Bạch Mai an trí. Khi nào ta gọi mới được vào.”

       Chợt có tiếng ca văng vẳng.

       Trong không gian tĩnh lặng. Một giọng hát sầu thảm não nề:

                      “Nước non ngàn dặm ra đi

                        Mối tình chi

                        Mượn màu son phấn

                        Đền nợ Ô, Ly.

                        Xót thương vì

                        Đương độ xuân thì

                        Số lao đao hay nợ duyên gì…”*

Điệu Nam Bình, ca Huế… tôi lẩm nhẩm trong vô thức.

Mặt hoa buồn bã nhìn tôi. Một cái nhìn thăm thẳm. Buồn mênh mang. Tê tái...

     -Ta theo chồng về Chiêm Thành. Ta phải làm phận sự của một vương hậu. Ta sinh cho vương triều một hoàng nam. Những tưởng cuộc đời ta sẽ yên ổn với tước vị cao quý. Nhưng đức vua Chế Mân, chồng ta băng hà, khi con ta còn đỏ hỏn, xung quanh ta thì không có một người thân thích. Những gièm pha chốn cung đình được dịp trỗi dậy. Họ nói, ta sẽ phải bước lên giàn hoả cùng chồng…

      Tôi vốn không thích hoa mai.

      Xưa nay, mỗi dịp xuân về tôi phải mua bằng được một cây đào hay chí ít là một cành đào. Đối với tôi, không có đào, nghĩa là không có tết. Là chưa có mùa xuân. Nhưng từ ngày yêu nàng, tôi bỗng thích hoa mai. Mà phải là mai trắng xứ bắc chứ không phải là những cây mai vàng rực rỡ miền nam. Khi nghe nàng kể là gia đình nhà nàng vốn sinh sống nhiều đời ở phía nam thành phố, khu trại Bạch Mai của Trần thượng tướng xưa. Ngắm hình ảnh những bông chi mai trắng muốt thỉnh thoảng nàng khoe trên Facebook. Đọc những status giàu chất thơ văn biểu cảm của nàng. Rồi gặp mặt. Tôi bỗng liên tưởng đến nhành chi mai trong thơ Mãn Giác Thiền Sư. Nàng trắng như cánh hoa mai vậy. Khi nàng khoả thân, tôi chỉ dám dùng môi hôn thật nhẹ nhàng những ngọc ngà châu báu của nàng. Tôi sợ mình hành động phàm phu tục tử, không xứng với vẻ đẹp thuần khiết của nàng. Chỉ cho đến khi nàng lồng lên, vít đầu tôi dúi xuống… Dịp gần tết năm ấy, tôi đi lang thang xuống dưới khu Bạch Mai- Trương Định. Tôi đi như một kẻ ngơ, cố tìm xem còn một nét nào của trại Bạch Mai trắng hoa mỗi dịp xuân về xưa không. Không còn gì. Chỉ có phố xá nườm nượp ô tô, xe máy. Tiếng còi, tiếng phanh xe. Nhộn nhạo. Chát chúa. Đang chán nản, thì tôi chợt nhớ gần đây có nhà ông bạn mới quen. Chúng tôi biết nhau trong những dịp chơi lăng nhăng- cách nói của ông bạn. Tôi gọi điện thoại và rẽ vào. Thật thú vị, chỉ cách mặt đường phố vài chục mét, mà ông bạn tôi tạo dựng được một khu vườn đẹp đến không tin nổi. Tôi miên man trong vườn cây đang khoe sắc. Đến bên một chậu chi mai đang e ấp những nụ trắng xanh. Tôi như bị níu lại. Tôi lặng đi hồi lâu bên cây hoa được trồng trong một cái chậu sứ. Tôi thốt nhiên cảm giác mình có một mối giao tình kỳ lạ với cây chi mai này. Tôi quanh quẩn cả buổi bên cây mà không dứt ra nổi. Ông bạn tôi là một người rất tinh tế và hào sảng, nói: “Nếu ông thích cây chi mai này đến thế, ông có thể mang về nhà ngắm tết.” “Tôi thật sự mê đắm cây chi mai này. Vậy tôi không khách khí, tôi có thể gửi ông bao nhiêu tiền?” “Không cần tiền”, ông bạn khoát một động tác phóng khoáng rồi nói tiếp: “Quý vật xứng với quý nhân. Tôi đồ trong đám bạn hữu lăng nhăng chúng ta, có lẽ chỉ ông xứng với cây mai quý này. Tôi biếu ông.”

       Bông mai trắng lại rung rinh.

       Vương hậu Paramecvari mỉm cười nhìn tôi. Một cái nhìn bí hiểm:

      -Nhà ngươi chính là hậu duệ đời thứ bốn mươi mốt của dòng họ nhà ta. Nên khi gặp dưới trại Bạch Mai, tổ tiên mới linh ứng sai ngươi rước ta về. Hương hồn ta bị một pháp sư cao cường nhất Chiêm Thành bí mật vào Đại Việt, đến trại Bạch Mai, nơi chôn cất di cốt của ta bên lăng mộ của Trần thượng tướng, nguyền rủa, yểm bùa. Khiến cho ta mãi mãi bị giam cầm trong thân chi mai, không thể siêu sinh đi đầu thai khiếp khác được. Tên pháp sư đó đã nguyền: Bốn mươi mốt đời nữa mà không có hậu duệ đoái đến thì ta sẽ vĩnh viễn làm kiếp vô tri… Đối với vương quốc Chiêm Thành, việc ta đương là vương hậu mà bị Trần thượng tướng cướp mang về Đại Việt là một mối nhục ngàn năm rửa không trôi. Họ đã năm lần mang quân đánh phá Thăng Long. Họ muốn bắt sống cả tôn thất nhà Trần về phanh thây xé xác dưới thành Đồ Bàn mới hả…

         Tôi thấy một cơn lạnh buốt từ tâm can lan ra.

       Vừa mấy hôm trước, tôi đã được người tình của mình đọc cho nghe những tài liệu đông tây kim cổ mà nàng sưu tầm được về Huyền Trân Công Chúa. Nàng chuẩn bị cho vở kịch này thật kỹ. Nàng nói, hành động cướp công chúa và không trả lại hai châu Ô, Lý dưới góc nhìn quốc gia là hành động đáng hổ thẹn. Là một trong những góc khuất của lịch sử nước nhà ít người nhắc đến. Xét về phương diện quốc gia với nhau, một khi đã ký kết thì phải thực hiện. Không thể đưa ra bất kỳ lý lẽ gì để biện minh cho sự bội ước. Nhưng xét trên phương diện tình yêu. Đấy lại là hành động đáng ca ngợi của một đấng trượng phu. Không có lý gì đứng nhìn người yêu của mình sắp bị thiêu sống mà trong tay có binh hùng tướng mạnh, lại không cứu.

       Khi thấy đoàn thuyền của Đại Việt tiến về thành Đồ Bàn, nói là viếng quốc vương Chế Mân, người Chiêm Thành đã nghi ngờ. Đến viếng, chỉ một thuyền là đủ, đằng này kéo một đoàn bảy chiếc… Họ chỉ cho phép một thuyền nhỏ chở Trần thượng tướng lên bờ, vào thành.

       Đến bên linh cữu viếng quốc vương, Trần thượng tướng đã kịp nói nhỏ với Huyền Trân Công Chúa- Vương Hậu Paramecrasi: “Trưa mai ta nhổ neo về bắc. Nàng hãy ra bờ biển tiễn ta lần cuối.”

      Vương hậu cùng một tốp lính cận vệ và vài thị tỳ đến bờ biển. Chưa kịp nói câu gì thì Trần thượng tướng đã rút gươm, thét lớn: “Ta phụng mệnh của Hoàng Thượng đến đón công chúa về Đại Việt. Kẻ nào ngăn trở, giết không tha.” Ngài xông đến cắp nàng vào nách, một tay vung gươm chém mở lối. Khốn khổ, mấy tên lính ấy làm sao đánh nổi một viên võ tướng dày dạn trận mạc. Chúng bỏ chạy về thành cấp báo. Chiến thuyền của Chiêm Thành lập tức đuổi theo. Hai bên giao tranh dữ dội trên biển. Trần thượng tướng ra lệnh cho thuyền quân ở lại đánh cản đường, còn mình thân chinh cầm lái thuyền tướng chạy thẳng ra biển. Mùa gió chướng cuối năm, ngược bắc chậm, sẽ bị quân Chiêm đuổi kịp, Trần thượng tướng cho thuyền lựa gió chạy theo hướng đông nam. Rất nhanh, thuyền mất dạng. Khi thuỷ quân Chiêm Thành đánh tan thuỷ quân Đại Việt thì không còn thấy tăm tích thuyền chở Vương hậu nữa…

      Bông mai trắng bỗng rung lên trong một vũ điệu lạ kỳ.

      Những cánh hoa mong manh dường như đang bị một cơn cuồng phong dữ dội giày vò. Tả tơi. Vặn xoắn. Ngả nghiêng. Vật vã… Nhưng không rách nát, rơi rụng. Tôi cố dùng trí óc của mình để hiểu chuyện gì đang xảy ra. Tôi không hiểu. Tôi thấy mình rơi vào một trạng thái bùng nhùng khó tả. Tôi như bị kẹt giữa hai trường thời gian: quá khứ và hiện tại…

     -Thuyền chở ta và Trần thượng tướng lao thẳng ra biển. Khi đã ở giữa tít mù khơi, bốn bề xung quanh chỉ có trời và nước. Trần thượng tướng vào phòng ta. Ngài nói…

     Tôi cũng đã được nàng đọc cho nghe đoạn thoại trên thuyền:

       -Công chúa! Ta trăm nhớ ngàn thương nàng. Ta không quản gian lao nguy hiểm xông vào chỗ cừu thù để mang nàng về đất tổ cùng hưởng vinh hoa. Ta đã chờ thời khắc này lâu lắm rồi. Ta và nàng hãy mau cùng nhau giao bôi ân ái, trước sự chứng giám của biển trời.

      -Tướng quân! Ngài hành động thô bạo, bất chấp thể diện quốc gia. Ta đang là vương hậu. Chồng ta vừa chết chưa hoả táng. Con ta đỏ hỏn. Ngươi dùng vũ lực cướp ta đi. Thử hỏi đó có phải là hành động của một sứ thần, một chính nhân quân tử không?

      -Nàng đừng quá lời. Ta vâng mệnh quân vương Đại Việt, huynh cả của nàng, đến đưa ra khỏi lũ man mọi. Ta làm theo tiếng gọi của lòng mình. Sao nàng lại trách móc ta? Chả lẽ trong nàng không còn chút tình nào với ta sao…

     -Trần thượng tướng! Ngài là quan đứng đầu triều, đáng ra thấy vương huynh ta vì thương xót em gái mà cả quyết hồ đồ thì ngài phải can ngăn, cớ sao ngài lại hùa vào? Ngài có xứng là trụ cột rường mối nước nhà không? Ngài có biết rằng làm thế này thoả được chút tình riêng, nhưng còn mối giao hảo Chiêm- Việt sẽ vĩnh viễn mất đi không? Ngài có biết là sẽ có bao xương máu dân lành sắp đổ ra không? Mà ngài là tướng, giãi thây trăm họ làm công một người, có sá kể gì. Còn thân ta, vâng mệnh cha già, gác tình riêng đền nợ nước. Ta đã là người của Chế đại vương, ta đã là dân Chiêm Thành rồi. Tình của ta và ngài không thành, phận trời đã định. Để yên ổn cho dân lành hai nước, ta đã quyết lòng bước lên giàn hoả. Thân ta như cánh hoa tàn, ngài còn cố vấn vít làm gì.

      -Không được!- vừa quát to lên, Trần thượng tướng vừa xông đến bên công chúa: Nàng vẫn là người trong mộng của ta bao năm nay, ta phải có nàng!

     -Không!- Huyền Trân Công Chúa lùi lại hét vang: Ngài mà cậy sức làm càn, ta sẽ cắn lưỡi, ta sẽ nhảy xuống biển cho ngài biết. Ôi Chế Đa Đa, con ta… ngực mẹ căng nhức, con đang hết nước mắt vì khát sữa mẹ đây…

Hai dòng nước từ đôi mắt to u uẩn của công chúa bỗng tràn ra như suối. Đời mình, chưa bao giờ Trần thượng tướng nhìn thấy một người đàn bà khóc sầu thảm thiết như vậy. Nàng co rút toàn thân, khuôn mặt đẹp trong sáng rạng rỡ khi xưa bỗng méo đi, tím tái. Chỉ có dòng nước mắt tuôn ra là sáng rực như ánh trăng đêm nguyên tiêu hôm nào…

      Trần thượng tướng tự nhiên thấy mình không còn chút nhuệ khí chiếm đoạt nào. Ngài bỏ ra mũi thuyền ngắm sóng. Sóng biển bỗng cồn lên cao ngất. Một con sóng lừng vỗ mạnh vào thuyền. Nước biển lạnh ngắt bắn rào rào lên mặt…

     Thốt nhiên, tôi thấy mặt mình cũng bị nước biển bắn vào giá buốt, ướt đẫm. Tôi choàng mình tỉnh dậy. Thì ra tôi đã đứng bên cửa sổ ngắm hoa mà thiếp đi. Cơn gió lạnh cuối năm thổi vào mặt, khiến tôi tỉnh hẳn. Hoá ra đó chỉ là một giấc mơ.

      Ngư dân Việt vùng miền trung vẫn truyền nhau kể rằng, hồi ấy, sau khi bắt được Huyền Trân Công Chúa lên thuyền. Trần thượng tướng dong buồm chạy thẳng ra biển. Thuyền cứ đi, đi mãi theo chiều gió. Đến một hôm, thuyền bị mắc cạn ở một bãi cát dài lập lờ giữa khơi xa. May ở gần đó có hòn đảo nhỏ, trên mọc khá nhiều giống cây như cây bàng trên đất liền nhưng quả vuông khá lạ. Trần thượng tướng đoán có cây là có nước ngọt, có sự sống, ngài cùng cả đoàn chèo thuyền nhỏ vào kiếm thức ăn thế nên mới sống sót. Ngài và công chúa cùng tuỳ tùng ở trên đảo gần năm. Mấy trăm năm sau, người Pháp ra thám hiểm và đặt bia chủ quyền còn thấy một dòng chữ khắc trên đá san hô: Đại Việt Trần thượng tướng quân cùng Huyền Trân Công Chúa lưu tự.   

       Tháng mười năm ấy, có một cơn bão muộn đã vô tình thổi trôi dải cát, thuyền lớn thoát cạn. Trần thượng tướng cùng tuỳ tùng đưa thuyền ngược bắc. Mấy tháng sau họ về đến Thăng Long. Tính ra, kể từ lúc Trần thượng tướng vâng mệnh đức vua Trần Anh Tông vào Chiêm Thành đón Huyền Trân Công Chúa đến khi về tới kinh thành là một năm lẻ mười một ngày.

      Huyền Trân Công Chúa về Thăng Long, bái lạy tổ tiên rồi xuất gia ở núi Trâu Sơn.

     Trần thượng tướng về ở hẳn trại Bạch Mai, không tham chính. Ngài mất năm 1330.

     Mười năm sau, 1340, Huyền Trân Công Chúa viên tịch. Di chúc lại đem tro cốt về táng trong trại Bạch Mai, cạnh mộ Trần thượng tướng.

    Tết năm vừa rồi, có một sự lạ trong nhà tôi. Hôm hăm tám tết, tôi lên đường Lạc Long Quân, đất đào Nhật Tân cũ, mua một cành đào phai rất đẹp. Dày nụ, lắm lộc. Tôi mang về nhà cắm lọ, cho nước ấm, tưới thêm chút bia. Trong lòng chắc mẩm mấy hôm nữa đào nở đẹp phải biết. Nhưng rất lạ, tết, qua tết, đến tận rằm tháng giêng, cành đào vẫn chả nở một bông nào. Những nụ đào cứ héo dần đi, quắt lại, như bị hơ lửa. Tôi hoang mang, đã mấy chục năm nay chơi đào, chưa khi nào tôi gặp trường hợp như thế này. Thế nhưng cây chi mai tôi mang từ nhà ông bạn dưới khu trại Bạch Mai cũ về thì nở trắng xoá. Hàng đêm, tôi vẫn ra đứng bên cửa sổ ngắm nhìn. Có lúc mất điện, hoa trên cây rực lên trong đêm, ánh hào quang lung linh và mùi hương thanh khiết toả ra…

       Hôm gặp người tình đầu xuân, tôi kể cho nàng nghe. Nàng bảo: “Anh không biết sao, mai trắng là chúa của mọi loài hoa. Một khi chúa hoa đã nở thì các loài hoa khác phải cụp cánh. Không dám khoe sắc.”

      Tôi bỗng ngẩn ngơ. Thật vậy sao?

Đêm hôm ấy, tôi lại đứng cạnh cửa sổ ngắm cây chi mai. Hoa đã tàn hết từ mấy hôm rồi. Tôi nhìn vô định vào chậu cây. Chợt tôi thấy một nụ hoa duy nhất còn lại trên cây từ từ nở ra, nở ra, bung cánh trắng muốt. Và hương thơm thanh tao quyến rũ bỗng tràn ngập cả đêm xuân yên ắng.

 

3/2016.
Trần Thanh Cảnh

 

 

 

*Lời một bài ca Huế cổ, tương truyền do Huyền Trân Công Chúa viết trên đường vào Chiêm Thành.

 

Ý kiến bạn đọc
20 Tháng Tám 20196:06 SA
Khách
Hay quá nhà văn ơi! Em cũng lạc trong mạch câu chuyện. Đọc mà không phân định được thật và ảo. Em cũng là hậu duệ nhà Trần. Em vẫn luôn thắc mắc, không biết là hiện thân của ai? Vì có mấy thầy đồng cốt nói với em rằng, con gái nhà Trần đầu thai là để trả nợ nghiệp của dòng họ.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 7911)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 6953)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 6506)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 7652)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 7006)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 7343)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 6339)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 10042)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 6815)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 10590)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3767)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13193)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19601)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18587)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1496)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1649)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2156)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2288)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1376)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2115)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1880)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1939)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1244)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2286)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2509)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2302)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 127)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 709)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 915)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 999)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6334)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15825)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32082)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38802)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1366)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13852)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6812)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10585)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9772)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9904)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10703)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3396)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11064)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi