- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Lơ Lửng Trên Cao

07 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 125614)

lolungtrencao

Người say rùn mình đá nỗi sợ vào sọt rác
Bị thôi thúc bởi nỗi phản bội
Con nhện cắn chết người tình cuối cùng.
Trên những con đường
Lũ quỷ đẩy bánh xe ngược chiều số phận

 

Nhà tôi mái bằng, vuông như hai cái hộp kê khít lên nhau, thừa mỗi đoạn đuôi ở tầng một làm công trình phụ. Bà sai thợ sắt dựng ở hai bên ban công một giàn hoa xương cá. “Cái sân thì bé tí". Bà tôi ưu ái gọi ban công thế đấy. "Lại chẳng có cọng cây nào, mùa hè thì nắng nó táp cho vỡ mặt”. Bà luôn có thói quen dùng từ cọng. Hết cọng hành, cọng tỏi, cọng gạo, đôi khi bà còn hét toáng vào mặt tôi: “ Cút. Đời tao có cọng cu nào đâu mà lòi ra cái mặt mày”. Tôi biết thân biết phận lắm, nhưng nước mắt cứ lã chã rơi xuống. Lúc ấy chị út lại chạy tới dỗ dành. Bố đứng từ xa đăm đăm nhìn, lẩm bẩm: “Đến tao còn không phải nữa là”.

Nhà tôi ở sâu trong một cái ngõ mà đầu ngõ ô tô còn đi vừa, cuối ngõ chỉ đủ cho hai xe máy tránh nhau. Cách đó không xa là đường tàu. Ngày ngày ba tầm, tiếng tàu hoả chạy vào tai tôi uỳnh uỳnh, giằng xé và thôi thúc khác thường. Tôi cảm tưởng như trước mặt tôi là con giun khổng lồ (bà gọi thế) lừ đừ tiến tới, nó cán lên, mọi thứ, dập, dẹp lép cả. Đã mấy lần tôi có ý định thử đi tìm xem nó ở đâu, nhưng không ai cho. Tôi thật chẳng hiểu, chị lớn được đi, chị út được đi, bố mẹ, bà đều được đi còn tôi thì không, thậm chí bố còn cho tôi hai bạt tai. Ba năm nay tôi bị buộc ở trong nhà, kể từ câu nói của bố: “Cái loại năm năm không qua nổi lớp 2. Nghỉ”. Không ai chen vào câu nào, chỉ có chị út là thì thầm vào tai tôi: “Chị sẽ dạy em vẽ tàu hoả”. Chị út thì học lớp 10, thích chơi búp bê. Chị xin vải vụn từ hiệu may đối diện nhà, về may thành những bộ váy bé tí ti cho búp bê, có lần chị còn cho tôi cái áo ghép từ vải. Bố nói: “Sao không may cho tao nhỉ? Tao là bố mày mà ”. Chị út rất hiền. Chị "Vâng ạ". Bà nhổ bã trầu, lau miệng: “Đàn ông ghen tị rất khốn nạn”.

Bà ngày càng khó tính, lại hay dỗi, cứ ai làm phật ý là bà coi như không quen biết. Có lần giận bố, bà không thèm ăn cơm nhà, đến bữa sai chị út chạy ra hàng cơm đầu ngõ mua. Được ba hôm, bà mượn ở đâu cái xà beng, vấn tóc rõ chặt rồi chẳng nói chẳng rằng, hì hục nậy lớp đá hoa cương trên nền nhà. Bữa đó bố mẹ phải quỳ xuống van lạy đứt hơi mới thôi. Tôi đang đứng lưng chừng cầu thang hốt nhiên phá ra cười sằng sặc và thế là ăn một trận quắn đít.

Tóc bà mỏng, sợi nhỏ, trắng như cước. Mỗi lần gội đầu xong, bà lại ra ban công tầng hai, nằm trên võng, cắm quạt máy, hong tóc. Ban công hẹp, võng không thể đong đưa được, phiền vô kể. Sau khi suy nghĩ kĩ, tôi quyết định buộc dây võng cao hơn lan can, rồi bắc ghế trèo lên, đong đưa võng nhè nhẹ, chỉ nhè nhẹ thôi, thế mà mọi người xúm xít lại. Phía dưới tôi là đường, mọi người đứng dưới nhìn lên mà chẳng hề bé như kiến. “Điên. Thằng này điên rồi. Ôi Dật ơi! về mà xem con mày”

***

Đôi khi vẫn có những việc kì cục xảy ra trong chuỗi ngày buồn chán của tôi. Kì cục nhất là một buổi sáng sớm, tôi vừa tỉnh dậy, mới đặt chân xuống giường, thì có con chuột to bằng cổ tay rớt bịch trước mặt. Con chuột nhe răng ra cười đầy thách thức. Tôi tức giận đứng phắt dậy, dồn cả sức mạnh cơ thể xuống gan bàn chân, chà đi xát lại. Nó bẹt dí. Bà lom dom tiến tới gần tôi, tay cầm thanh gỗ to bản quật tới tấp, quật liên tiếp lên đầu, lên chân tay tôi, bà quật cả vào chim tôi, vừa quật vừa thét: “Phải tội. Đồ vô dụng, thứ gì cũng vô dụng”. Tối đó bà thắp cây nến giữa phòng khách, tắt hết đèn, gọi bố mẹ, hai chị và bắt cả tôi nữa tới, bà trịnh trọng tuyên bố:

“Tao tuổi chuột. Một con chuột đen xì, gầy quắt, nhưng bao giờ cũng phải tha gạo về cho chúng mày ăn, béo núc ních cả lũ. Từ rày chúng mày tự mà nuôi thân. Còn mày! Đứa vẫn gọi tao là mẹ, thực ra thì tao nhặt mày ở sọt rác trong tấm vải be bét màu mè, có lẽ vì thế nên mày có hoa tay cũng nên. Ha ha. Mày có tin tao không hả con?”.

Bố tôi nghĩ ngợi một hồi rồi gật gù, công nhận rằng chi tiết này có phần thực tế. Hoạ sĩ. Dám lắm chứ. Hoạ sĩ từ đó thành biệt danh của bố nhưng không phải do thiên hạ đặt mà bố tôi bắt họ gọi.

“Nên thế”. Bố tôi ngồi giữa đám bạn nhậu, tay cầm cốc vại, bọt bia bám trắng nửa trên mồm, lớn giọng. “Nên là thế. Điều đó thể hiện một sự tôn trọng đầy thành kính. Tôi đã bỏ phí quá nhiều thời gian rồi, nhất thiết phải gấp rút”.

Bố tôi mua thêm nhiều màu, nhiều vải, nhiều thứ hơn xưa. Bố rất hay đi, hết nơi nọ đến nơi kia. “Khiếp. Phòng tranh thì ít, mà hết ông đến thầy”. Bà bĩu môi: “Hoá ra hoạ sĩ cũng chả khác mấy thằng kẻ vẽ biển quảng cáo. Loạn”. Từ đó, việc phải chi tiêu trong nhà, tất tần tật đều trông vào gian hàng ở chợ, thế mà mẹ không hé răng than phiền nửa câu. Bà bảo: “Con mẹ mày ngu thế mà sao đời nó vẫn khổ nhỉ?”

“Ngồi im. Cấm ngọ nguậy. Ông quật chết cha mày bây giờ. Im. Giơ cao cái tay khèo lên nữa, nữa, rồi, dừng lại”. Hàng tiếng đồng hồ trôi qua, tay chân tôi tê dại. “Nếu không có con, chắc bố chả biết nhờ ai”. Ông thi thoảng làm tôi mủi lòng, nhưng đa số là những trận đòn tím tái. “Củi. Mẹ kiếp. Mày là củi à. Thế này làm sao ông vẽ được”. Tôi không nói gì. Phải vậy thôi. Tôi sẽ cố chịu đựng để một hôm nào đó, khi bố vui vẻ, tôi xin đi xem con tàu, dẫu chỉ vài phút ngắn ngủi cũng được, dẫu chỉ là đứng xa nhìn và không được sờ vào nó. Thế nhưng tôi chưa kịp xin một lần nào thì ông đã cấm tiệt tôi bước vào gian phòng dựng đầy toan vải và màu vẽ ấy. Tôi đột nhiên nhớ da diết. Đôi khi tôi tiến tới gần cánh cửa gỗ im ỉm đóng, ghé sát mặt vào và hít. Cánh mũi tôi phập phồng. Phập phồng thế mà chẳng ngửi được gì.

Cây xương cá chưa khi nào phủ kín giàn, nhưng nó nở đỏ như gấm trên cái nền xanh của những nhánh tơ mảnh. Chiều nào mẹ cũng phải để dành một thau nước gạo cho chị út tưới cây. Mẹ tôi ít nói, tiết kiệm đến từng cử động nhỏ của làn da mặt, nhưng không hiểu sao mẹ lại thậm ghét việc bước chân lên tầng hai.

“Quen mùi đất rồi, lên cao không chịu được”.

“Điên thế đấy. Trên cao thoáng mát thế lại không thích”.

“Bỏ tay ra”.

“Thôi nữa mà. Hôm nay tớ mệt quá”.

“Buông ra”.

Cãi nhau chán, cuối cùng bố vẫn phải ở dưới. Tôi chả hiểu sao.

***

Bà tôi hơn 60 tuổi mà lưng không còng, chỉ có mái tóc mỏng, bạc phơ. “Đúng là chuyện lạ kì đời nhất trong thiên hạ” - Bố lẩm bẩm khi nhổ một vài sợi tóc đen cố ngoi lên. “Lạ quái gì. Giời định đấy mày ạ”. Giời định. Mỗi lần thắng bài, bà lại lôi câu này ra nói như thể an ủi kẻ thua. Bà búi mớ tóc trắng thành cuộn con con đằng sau gáy, xiên qua bằng một cái que gỗ đã chuốt nhọn thay trâm. Bà mặc áo bà ba trắng đã ngả vàng, quần nái đen, kính lão trễ xuống sống mũi, mồm ngậm trầu, ngồi xếp bằng tròn trên chiếu chơi tam cúc. “Bà ơi! sao bà hay thắng thế?”. “Đời tao có cọng cu nào đâu mà không đỏ bạc. Xéo”. Bà chẳng cho phép tôi ngồi gần khi chơi bài. “Đen ố. Bà bảo thế - Đen thôi rồi”.

Sự thực thì bà lấy những ba ông, nhưng tôi chẳng nhớ một ông nào cả.

“Ông đầu tiên đẻ ra bố mày, ông thứ hai đẻ ra mẹ mày, ông thứ ba đẻ ra cái giống mày”.

“Bà ơi! thế ai đẻ ra hai chị con?”.

“Đẻ xong bố mày với mẹ mày thì hai ông đầu mất, ông thứ ba mệt quá xin nghỉ hưu, giao cho bố với mẹ mày chứ sao”.

“Bà kể về hồi bà đi làm dâu đi” chị lớn tôi gạ gẫm với đôi mắt hấp háy.

“Lúc đó tao còn nhỏ, biết quái gì. Nhà đông, tao thì cao chưa quá cái cối xay nhà lão, thế mà bắt tao vào bếp ngay ngày đầu làm dâu, tay mỏi nhừ chưa kịp nuốt trôi miếng cơm, đã chất đống bát bắt tao rửa. Tức mình, tao đập tất, hất tất xuống cầu ao”.

“Rồi sao nữa bà?”.

“Hôm nào mày thử đập vỡ bát đi, thấy ngay lập tức”.

“ứ gì, bà ơi... Bà ơi! bà còn yêu không?”.

“Yêu”. Bà quay sang nhìn chị. “Nhà này mỗi mình mày là sáng suốt”.

Chúng tôi thích ngồi ngoài ban công khi đèn đường đối diện đã tắt hẳn làm hiện rõ cái ánh trăng vàng nhàn nhạt sáng, trên cái võng không được phép đung đưa, rúc đầu vào lòng bà nghe kể chuyện. Nhưng có một đoạn khuyết trong quá khứ mà dù hai chị khơi kiểu gì bà cũng không chịu kể.

“Nhiều chuyện người ta chỉ có thể khoét lỗ, hét vào tai đất mà thôi con ạ!”.

“Chuyện gì hả bà?”.

“Chuyện về những người tỉnh, sống trong thế giới kẻ điên. Thằng điên nào cũng mồ côi, nhưng chẳng thằng mồ côi nào điên cả”.

“Ngày xưa cụ ngoại dạy bà những gì?”.

“Chơi cờ con ạ. Chữ đầu tiên bà biết cũng từ chơi cờ mà ra...”

Nửa vầng trăng treo trên đầu chúng tôi thỉnh thoảng bay lẫn vào trong mây, mờ mờ, tỏ tỏ. Tôi ngước nhìn lên rồi reo to: “Trăng cười”. Bà giật mình.

***

Tôi nằm, áp tai xuống lớp đá hoa cương trong phòng. Tai đất. Đất có nghe thấy người ta nói gì không? Đất có nói gì không? ù ù, ì ì. Tựa như trên đường ray, cục sắt đang từ từ chuyển động. Lách cách, lách cách, băm băm chặt chặt. Mẹ, tiếng mẹ trong bếp. “Này thì kết bộ ba”. “Chậc”. “Đen quá”. “Bõ bèn gì”. Lào xào, loẹt xoẹt. Tôi ngồi dậy. Phòng bà toàn dân cờ bạc, đầy những người gầy đét có, to tướng có, thấp có, cao có, phả mùi thuốc lá khét lẹt. Khi bố năn nỉ bà chuyển chiếu bạc xuống phòng khách để bố có chỗ vẽ riêng thì mẹ khó chịu ra mặt, cứ đi chợ về là ngồi trong gian bếp, không thèm ló lên nhà, rồi hít thở mùi than quen đến nỗi phát nghiền. Tôi nghe rõ nhất là tiếng bước chân của mọi người. Bố đi có vẻ gấp nhưng xải chân không rộng nên vẫn chậm, chị lớn đi như chạy, chị út khoan thai hơn nhưng không đều, mẹ rất nhỏ, chỉ có bà là mơ hồ như không tiếng động. Đôi khi tôi thấy những tiếng lầm rầm rất kì quái, khi xa khi gần, khi liên miên, khi đứt đoạn, lào xào, nhấm nhẳng, chẳng thể đoán định nổi là ai nói. Tiếng nói vô hình, vô trọng lượng.

“Con xin. Giúp. Con không biết phải làm sao. Con cần như thế. Con lạy”

Tôi dạy chị út áp tai xuống nền, nhưng chị chẳng nghe được.

“Chịu thôi, em chị tài quá”.

“Chị thử lại lần nữa đi thế này này đấy đang có tiếng rì rầm đấy”.

“Trò vớ vẩn. Có mà nghe thấy mấy con côn trùng nó nói chuyện ấy. Yên cho tao học”.

Chị lớn chuẩn bị thi hết cấp ba, chị vùi đầu vào học, đêm đêm chong đèn học, sáng sớm chống mắt học, học quên thời gian, quên không gian, nhiều khi quên cả hai chị em tôi. Nhưng mẹ phán xanh rờn. “Học xong kiếm việc làm”. Chị khóc ngất, khóc nức nở, lao vào lòng bà khóc.

“Phận gái học cao để rồi mang điếm nhục vào thân thôi con ạ. Đến bà mày đây, chỉ biết vài cái chữ nho nhe, thế mà cũng đeo nặng hòn đá suy nghĩ vào đầu. Con ơi! trời cho cái sự thông minh thì đem ra mà suy tính đường đi nước bước trong đời, đừng phí vào học hành, hoài của lắm”. Bà nói, giọng nghèn nghẹn.

Chị tôi vẫn khóc tấm tức, đến khi mệt quá lăn ra ngủ ngay trong lòng bà. Bà giơ bàn tay vàng võ, ngoằn nghèo những đường gân nổi, đặt lên từng sợi tóc trên đầu chị, chậm rãi. Chắc là phải nhẹ và ấm lắm. Biết bao lần tôi khao khát được bà xoa đầu. Chị vẫn lao vào học. Một hôm mẹ nói:

“Muốn có tiền đại học thì phải tự làm lấy. Hàng xóm có chú Chí làm trên Sở, vợ vừa đi công tác miền nam 3 tháng, nhà cửa không ai trông. Hôm nọ chú hỏi tao xem ai có thể sang quét dọn mỗi ngày được chú trả cho dăm trăm. Đồng ý để tao còn sang bảo”.

Lúc đó gần tháng 2, chị tôi có việc làm. Mấy hôm sau mẹ mang ở chợ về con mèo, mẹ bảo:

“Nhiều chuột quá”.

Nhà chú Chí giàu, cao những 4 tầng, cái gì cũng có, ti vi, đầu máy hát , giàn tủ lạnh chất đầy thức ăn. Chú bảo mình chú dùng không hết, để thì hỏng, cứ lấy về chia cho các em. Thỉnh thoảng chị mang hoa tới cắm, hoa hồng, cúc có khi là vài bông sen. Bà cũng hay sang.

Bà nói: “Xem thế nào nào”.

Cạnh nhà chú Chí là cô Phồn, nổi tiếng điêu, ngoa ngoắt, có hai mặt con mà vẫn liếc mắt đong giai. Hàng xóm láng giềng cứ xì xào về mối quan hệ của chú Chí với cô. Xì xào mãi mà chẳng ai dám nói thẳng, cô điên tiết, giữa trưa nắng chang chang, đầu trần chân đất, đi từ đầu ngõ đến cuối ngõ, từ cuối ngõ đến đầu ngõ, vừa đi vừa chửi. Chửi cha đứa nào ngứa váy, ngứa là, chửi bố đứa nào răng dài, cà ngắn, bà thì bà đập là vào mặt. Cứ thế, giữa trưa, chẳng ai ngủ nổi. Chồng cô Nhài to con nhưng tồ, rất hay sang đánh tam cúc với bà, đánh trận nào thua trận ấy mà vẫn hềnh hệch cười. Đầu tháng ba, chú cắm phích quạt đuổi muỗi cho con ngủ, đút luôn ngón tay vào ổ điện, bị giật chết. Đám ma chú nhỏ, nhưng chòm xóm đến đông. Bà cũng diện một cái áo đen cùng bố tôi sang phúng viếng. Thắp hương xong, bà ngồi xuống cái chiếu của phường kèn trống, xoã mớ tóc trắng thơm hương bồ kết xuống, rồi gập người khóc, cứ anh ơi! anh hời! sao anh lỡ mang chày đi, bỏ cối lại ối anh ơi là anh ơi! em biết làm sao, lỡ chày người không vừa cối em thì biết kiếm đâu ra anh ơi! anh ơi!... Bà khóc đúng nửa tiếng đồng hồ mới đứng dậy ra về. Khách đến viếng mím chặt môi, chờ đi thật xa mới phá ra cười xặc xụa. Họ nhao nhao nói vọng vào tai tôi:

“Cụ ơi! con chịu cụ, cụ ơi. Cụ tài quá. Mặt con đĩ ấy tím như chàm đổ ấy. cụ ơi! con chịu cụ”.

Giữa tháng 4, bố có tranh được treo triển lãm. Cả nhà kéo đi xem. Tranh vẽ một cụ già đang ngồi bên ngọn đèn, mắt mũi kèm nhèm, khâu áo. Ai cũng nhận ra khuôn mặt của bà. Triển lãm nhan đề: “Mẹ - tôi”.

Bà bảo: “Lũ đểu”.

***

Từ ngày chị sang dọn nhà cho chú Chí, tôi đã có thể nghe được xa hơn nữa. Những tiếng nói nối tiếp nhau từ bốn phương tám hướng vọng tới, đôi khi đan xen, chồng lên nhau. Tôi lẫn lộn cả.

“Cháu biết không, tiến bộ xã hội là một vòng tròn khép kín. Con người cứ tưởng họ đã vượt thoát, nhưng sự thật chỉ là làm lại từ những ước mơ giống nhau mà thôi”.

“Giá vàng lên nhanh quá, chu choa ”

“Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đem lại”

“Em ơi! Anh nhớ em quá, ứ chịu đâu, tuần gọi cho người ta có lần à. Đâu, anh có dám này nọ với ai đâu. Chả thương người ta gì cả. Nhớ lắm đấy, khi nào về tính cả vốn lẫn lãi luôn, lúc ấy đừng có trách người ta nặng tay đấy”

“Tao nguyền cả dòng họ nhà mày. Tao nguyền”

“Cố lên cháu ạ, bằng cấp là chân lý”

“Giỏi nhỉ, dám đầu mày cuối mắt với con nhãi ranh chưa nứt mắt ấy. Bà mà bắt gặp thì bà xé xác”

“Không có gì mà không phải trả giá. Kể cả mong ước. Không có gì mà không phải trả giá”

Côn trùng phụ hoạ theo những hơi thở ngắn ngủi, chồng chéo bằng giai điệu ri ri bất tận. Dần dà tôi phân biệt được từng cung bậc khác nhau của chúng, thậm chí hơi thở yếu ớt của đất tôi cũng nhận ra. 

***

Đầu tháng 4, cô Phồn sang nhà tôi rõ sớm khi mẹ vừa ra chợ, hai chị đi học. Cô vứt ra giữa chiếu một xấp ảnh. “Chị Hương với chú Chí” tôi nhận ra ngay. Bà quay phắt lại, mắt long lên giận dữ. “Cút”. Tôi liền trèo lên gác, áp tai xuống dưới đất.

“Vợ nó sắp về rồi”

“Đừng dính cháu tôi vào”

“Tốn công lắm mới có được đấy, phải chơi nó vố này mới được”

“Cô cứ ăn cả đi, nhưng thêm ai nhìn thấy những tấm hình này, tôi thí mạng già đấy”

“U yên tâm. Con là đứa biết điều”

“Chả dám. Mời cô nước”.

Tối, bố túm tóc chị cả quật túi bụi. Bà không nói thêm câu gì. Mẹ ngồi trên ghế, nghiến răng:

“Tình yêu. Giời ơi! Cũng tình yêu cơ đấy. Cũng cho tất cơ đấy. Giời ơi!”.

Không biết chuyện gì xảy ra sau đó, nhưng chị cả tôi xanh rớt ra, nằm liệt giường, mãi mới chịu dậy. Đến tháng 7, chị đi thi đại học đỗ, tháng 9 lên trường rồi từ đó chẳng về nhà nữa. Mắt bà sau bận đó kém dần, cứ chốc chốc đưa tay dụi là ghèn lại thi nhau ra. Cô Hiền làm bác sĩ trong bệnh viện chạy sang bảo đừng dùng ống tay áo quệt lên mắt, mất vệ sinh lắm. Bà nghe theo được mấy tiếng rồi lại quen nết. Cô Hiền bảo thế thì chịu thôi. Mắt bà kém đến nỗi đeo kính cũng chẳng thể thấy quân bài, mà cờ bạc thảy đều gian trá cả. Hội tự giải tán. Bà chuyển sang đánh đề, cứ chiều 4h là bà lại đi ra đầu ngõ ngồi tán chuyện, tính toán số má, rồi cầm mảnh giấy nhỏ đi về. Tính bà càng gở. Bà bỏ giường, nằm trên mảnh ván bắc ngang từ cửa sổ vào lan can trong nhà mà bố vẫn dùng để đựng đồ vẽ. Cửa sổ mở toang mà lại chẳng có màn miếc gì, từng đàn muỗi, từng đàn bay vào, đốt bà dọc theo mình bên trái lẩn mẩn những nốt nhỏ như phát ban.

“Thây kệ cha chúng, bà nói. Đốt no thì chóng chết. Trò đời nó thế”.

Một tối, tôi đang áp tai xuống nền nhà thì bà cúi xát đầu, hỏi:

“Có nghe chuột nói chuyện bao giờ chưa?”

“Như thế nào hả bà?”

“Như người ấy”

“Thế thì không có. Chỉ có tiếng chút chít thôi”.

“Mày ngu lắm. Người đấy”.

Con mèo lớn nhanh như thổi, lông mượt mà, vàng rộm. Một hôm dậy sớm, tôi thấy nó vờn xác con chuột trong hai bộ móng vuốt sắc lẻm. Tôi hét lên: “Chuột chết”. Bà đang nằm trên ván giật mình rơi xuống đất.

“Gãy chân, phải bó bột” ông Bác sĩ chuẩn đoán.

Tối đó bố lại đánh tôi.

“Rồi mày sẽ phải ân hận cả đời con ạ” Bố vừa quật vừa rít lên.

“Nó có hiểu gì đâu mà ân hận” Mẹ thở dài, nhìn lơ đãng ra đường.

Bà yếu dần, nhỏ dần, rồi 4 tháng sau thì mất. Mẹ tôi đem con mèo đi cho.

***

Nhà tôi hai tầng, mái bằng. Hồi bố mới xây nó to nhất xóm. Khi bà mất, những mảng bụi trong nhà bắt đầu rơi xuống, ban đầu chỉ là một đường nứt rất nhỏ giữa gian bếp với nhà chính. Bố bảo lũ chuột vào làm tổ, đục khoét trong đó nên mới to ra. Sau đó thì từng mảng vữa to đùng rơi xuống. Có lần nó đã rơi trúng đầu bố. Đầu tháng 10, mẹ có chửa. Chị út ra chợ phụ bán hàng. Bố dẫn về nhà bác Hoàng, người miền nam, cũng là hoạ sĩ, ra bắc công tác, nghỉ ngơi luôn ở nhà tôi. Bác đi một vòng tầng trên lẫn tầng dưới, xong vỗ vai bố, bảo:

“Cậu có tài đấy, nhưng cậu chưa rõ đôi điều. Vẽ trong cái hộp xi măng này ấy ? Còn khướt. Phải làm cho nó kiểu cách hơn chứ”.

Lật từng bức tranh có tôi làm mẫu trong đó ra, bác nhíu mày:

“Vẽ là một nghề, mà nghề thì phải có tính chất theo thị trường. Cái kiểu khơi gợi thương tâm về thằng bé tật nguyền này chỉ đem đi triển lãm được thôi. Chú vẽ mẫu nữ bao giờ chưa?”.

“Chưa” bố ngơ ngác.

“Đỉnh cao nghệ thuật ở đấy đấy”.

Tối đó, khi áp tai xuống đất, tôi nghe thấy rất rõ những câu nói mang sắc lửa đỏ: “Tao nguyền cả dòng họ nhà mày. Tao nguyền”.

Tiếng nói rõ ràng rành rọt hơn hẳn. Tôi chợt rùng mình. 100 ngày giỗ bà, trong lúc mẹ làm cơm bưng lên nhà trên thì bị trượt chân ngã, đồ cúng vung vãi cả. Mẹ thì mất em bé, từ đó mẹ không bao giờ ngước mặt nhìn lên tầng hai, việc ngày rằm chị út tự coi sóc cả. Bố rầu rĩ ra mặt: “Mẹ không cho rồi”. Bác Hoàng dẫn về nhà mấy cô người mẫu nữ, bố đóng cửa phòng, vẽ miệt mài, cơm nước nhiều khi không màng, chị út phải mang thức ăn đặt trước cửa phòng. 23 tết ông Táo, vừa tròn một năm nhà tôi xây mới, bác Hoàng về lại Nam.

***

“Này, sao hoa chưa chịu nở.

Nở đi, nở bung ra đi, nở đi hoa

Trên cánh đồng kia lũ bướm đã lượn rồi

Nắng trắng xoá sao hoa chưa chịu nở

Để lũ nhện gầy mòn đánh lưới ánh trăng khuya

Này thôi trăng xin hãy nở đoá hoa”

Cứ khi nào chuẩn bị vẽ là bố lại hát. Mãi rồi tôi mới thuộc. Đã lâu lắm tôi không được phép vào xem khi bố vẽ. Tôi nghe, tôi áp tai vào tường, nghe và bắt đầu tưởng tượng tới từng hành động của bố. Bố sẽ đứng dạng hai chân, trên môi là điếu thuốc, tay cầm bảng màu, mắt dán chặt vào tấm voan.

“Uống một chén nhé. Uống cho hồng đôi má lên đi con, cho ánh mắt chuếnh choáng những tia nhìn khác lạ và làn da thì hực lên sắc lửa. Đừng cười như thế, con hãy cứ quắc mắt lên, nghiến chặt răng, phun phì phì. Chưa được, thêm chén nữa đi. Nữa”

Tôi cảm nhận rõ hơi thở chị đầy ắp căn phòng và nước mắt chợt ứa ra. Có nỗi niềm gì đó len nhẹ trong lồng ngực tưng tức vì ghen tị. Tôi ngẩng đầu lên, không nghe, thế rồi lại áp tai xuống. Nước mắt vẫn rơi lã chã, lã chã. Tôi đứng vụt dậy, những giọt nước mắt xuôi thành dòng chảy xuống cằm. Tôi trèo lên bàn, leo lên tủ, cúi nhìn qua lỗ thông gió sang phòng bên.

Chị trong đấy, nằm nghiêng ở phía đối diện, môi he hé mở, tay xuôi theo nếp áo mỏng. Bố đang đứng trước khung tranh ở gần cửa, tay đặt trên cọ vẽ, chăm chú, thành khẩn. Đột nhiên bố ném bút. Ngòi bút cắm thẳng vào tường, bật ngửa ra trên sàn. Bố quay về phía ảnh bà trên bàn thờ ôm mặt khóc. Những nén nhang cháy gần hết. Khói tản đi tự bao giờ.

“Không được. Mẹ ơi!... lừa. Không làm được. Mẹ ơi!... ”

Bố với lấy chai rượu, dốc ngược vào cổ họng, rượu dềnh ứa xuống, thấm ướt cổ áo. Bố từ từ ngồi bệt xuống đất, mồm lẩm nhẩm. Tôi nghe rõ tiếng nói, tiếng nói quen thuộc vẫn cất lên khi áp tai vào tường.

“Này con ơi! Nở vung vãi những cánh hoa ra. Ta bảo con ơi, khì khì.. rót thêm nữa nào. Đêm nay trăng muộn. Ta chờ trăng. Yêu trăng. Này con nhìn xem nghiêng ngả trăng say, trăng chưa muốn ngủ. Rót thêm . . . nào con đừng ngủ. Trăng tràn ra, bò lổn nhổn, rạo rực một màu thuần khiết. Trăng nép vào sau lần áo con, cẩn thận, giấu mình, e lệ. Sau lần áo mỏng con ơi, trăng thở, trăng tràn, trăng chưa say. Đêm nay trăng thức muộn...”.

Chị và bố tự lúc nào. Đẹp đẽ, gắn kết. Từng giọt mồ hôi túa ra từ những lỗ chân lông lấm chấm, vương vãi trên làn da trần, kết lại xuôi chảy thành dòng. Mắt chị nhắm nghiền, cần cổ thẳng băng, ngực căng phồng, hiện rõ từng chiếc xương sườn dưới lớp da. Tóc chị xổ tung, xóng xoài trên nền đá hoa cương, hiện một màu đen bóng. Bố vươn cao mãi lên trong một sức dướn không giới hạn, bung phá những chuyển động phi tuyến tính, hoang tàng mài dũa. Chưa bao giờ tôi thấy bố sống động và uyển chuyển đến thế. Từng động tác hiện rõ dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn như hút mọi điểm nhìn đến u mê đi. Tôi cảm giác cái gì đó lớn dậy từ từ, từng chút một, nó thúc vào tôi những cú huých khó chịu đến gai người.

Mẹ vào lúc nào không ai biết, cả tôi nữa, tôi cũng không biết, có lẽ cả bà trên bàn thờ cũng không biết. Có bao giờ mẹ chịu lên tầng hai đâu, trừ những ngày cúng giỗ. Mẹ đứng đấy im lìm như tượng đá, chứng kiến những khám phá không ngừng của bố, tựa như mẹ cảm nhận được sự chuyển động khác thường này mà đi tìm vậy. Tôi tin chắc điều này dù không khi nào thấy mẹ áp tai vào nền nhà. Đến tận khi bố bắt đầu rên rỉ, gấp gáp thở, cả mẹ và tôi mới giật mình. Mẹ nhìn quanh phòng, hai tay rối bời khua lên trong không khí, có một cái gì đấy mắc lại trong tấm lưới của thời gian và mẹ đã nắm được. Bố rống lên rồi gập người đổ xuống, có những đốm đỏ như màu vẽ loang nhanh ra nền.

Từ đó tôi không nghe được âm thanh gì trong đất nữa, có thể do tôi đã trèo lên bàn, leo lên nóc tủ, nhìn qua lỗ thông gió nên ngôi nhà đưa ra hình phạt. Bố ngã bật ra nền đất, yếu ớt và vụng về, choãi tay ra đằng sau chống đỡ thân mình nhớp nháp mồ hôi, đầu ngóc cao, trân trối nhìn mẹ bứt từng túm tóc ném vương vãi ra sàn, mồm thốt ra tiếng ri ri bất tận của loài côn trùng không lưỡi.

Tôi không nhớ điều gì xảy ra tiếp theo đó. Hình như tôi nhỏm dậy định trèo xuống, thì cụng đầu vào trần nhà, rơi từ trên tủ xuống, bất tỉnh. Đến khi tôi tỉnh dậy thì nhà đã không còn bố nữa. Chị lớn đi mãi không về. Mẹ im lìm chẳng hé răng câu nào. Chị út suốt ngày ngồi nhìn lên ảnh của bà trên ban thờ. Tôi lần mò đi ra ngõ. Nắng chiếu hếch vào mặt, chói loà luồng sáng của lửa, tai tôi bùng nhùng tiếng tàu hoả chạy, rõ ràng, mạnh mẽ. Trong nhà, vết rạn giữa bếp với gian chính ngày càng rõ, những cục vữa to không rơi xuống nữa, mà từng giọt bụi, từng giọt một rơi xuống tan vỡ cả không gian. Từ đâu đó, tiếng mẹ tôi rống lên bi thiết. Và tôi lơ lửng trên cao đấy.

PHẠM NGỌC LƯƠNG. (Hà Nội 04.06)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 5157)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 3783)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 4304)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 4646)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 4210)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 6310)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 5004)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 6173)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 5917)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 5304)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3783)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13204)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19610)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18591)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1525)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1696)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2209)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2310)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1405)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2148)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1888)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1943)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1279)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2311)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2524)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2313)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 174)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 729)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 950)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1023)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6356)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15837)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32091)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38806)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1385)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13855)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6830)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10615)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9810)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9930)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10738)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3417)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11075)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10303)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi