- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Lơ Lửng Trên Cao

07 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 118373)

lolungtrencao

Người say rùn mình đá nỗi sợ vào sọt rác
Bị thôi thúc bởi nỗi phản bội
Con nhện cắn chết người tình cuối cùng.
Trên những con đường
Lũ quỷ đẩy bánh xe ngược chiều số phận

 

Nhà tôi mái bằng, vuông như hai cái hộp kê khít lên nhau, thừa mỗi đoạn đuôi ở tầng một làm công trình phụ. Bà sai thợ sắt dựng ở hai bên ban công một giàn hoa xương cá. “Cái sân thì bé tí". Bà tôi ưu ái gọi ban công thế đấy. "Lại chẳng có cọng cây nào, mùa hè thì nắng nó táp cho vỡ mặt”. Bà luôn có thói quen dùng từ cọng. Hết cọng hành, cọng tỏi, cọng gạo, đôi khi bà còn hét toáng vào mặt tôi: “ Cút. Đời tao có cọng cu nào đâu mà lòi ra cái mặt mày”. Tôi biết thân biết phận lắm, nhưng nước mắt cứ lã chã rơi xuống. Lúc ấy chị út lại chạy tới dỗ dành. Bố đứng từ xa đăm đăm nhìn, lẩm bẩm: “Đến tao còn không phải nữa là”.

Nhà tôi ở sâu trong một cái ngõ mà đầu ngõ ô tô còn đi vừa, cuối ngõ chỉ đủ cho hai xe máy tránh nhau. Cách đó không xa là đường tàu. Ngày ngày ba tầm, tiếng tàu hoả chạy vào tai tôi uỳnh uỳnh, giằng xé và thôi thúc khác thường. Tôi cảm tưởng như trước mặt tôi là con giun khổng lồ (bà gọi thế) lừ đừ tiến tới, nó cán lên, mọi thứ, dập, dẹp lép cả. Đã mấy lần tôi có ý định thử đi tìm xem nó ở đâu, nhưng không ai cho. Tôi thật chẳng hiểu, chị lớn được đi, chị út được đi, bố mẹ, bà đều được đi còn tôi thì không, thậm chí bố còn cho tôi hai bạt tai. Ba năm nay tôi bị buộc ở trong nhà, kể từ câu nói của bố: “Cái loại năm năm không qua nổi lớp 2. Nghỉ”. Không ai chen vào câu nào, chỉ có chị út là thì thầm vào tai tôi: “Chị sẽ dạy em vẽ tàu hoả”. Chị út thì học lớp 10, thích chơi búp bê. Chị xin vải vụn từ hiệu may đối diện nhà, về may thành những bộ váy bé tí ti cho búp bê, có lần chị còn cho tôi cái áo ghép từ vải. Bố nói: “Sao không may cho tao nhỉ? Tao là bố mày mà ”. Chị út rất hiền. Chị "Vâng ạ". Bà nhổ bã trầu, lau miệng: “Đàn ông ghen tị rất khốn nạn”.

Bà ngày càng khó tính, lại hay dỗi, cứ ai làm phật ý là bà coi như không quen biết. Có lần giận bố, bà không thèm ăn cơm nhà, đến bữa sai chị út chạy ra hàng cơm đầu ngõ mua. Được ba hôm, bà mượn ở đâu cái xà beng, vấn tóc rõ chặt rồi chẳng nói chẳng rằng, hì hục nậy lớp đá hoa cương trên nền nhà. Bữa đó bố mẹ phải quỳ xuống van lạy đứt hơi mới thôi. Tôi đang đứng lưng chừng cầu thang hốt nhiên phá ra cười sằng sặc và thế là ăn một trận quắn đít.

Tóc bà mỏng, sợi nhỏ, trắng như cước. Mỗi lần gội đầu xong, bà lại ra ban công tầng hai, nằm trên võng, cắm quạt máy, hong tóc. Ban công hẹp, võng không thể đong đưa được, phiền vô kể. Sau khi suy nghĩ kĩ, tôi quyết định buộc dây võng cao hơn lan can, rồi bắc ghế trèo lên, đong đưa võng nhè nhẹ, chỉ nhè nhẹ thôi, thế mà mọi người xúm xít lại. Phía dưới tôi là đường, mọi người đứng dưới nhìn lên mà chẳng hề bé như kiến. “Điên. Thằng này điên rồi. Ôi Dật ơi! về mà xem con mày

***

Đôi khi vẫn có những việc kì cục xảy ra trong chuỗi ngày buồn chán của tôi. Kì cục nhất là một buổi sáng sớm, tôi vừa tỉnh dậy, mới đặt chân xuống giường, thì có con chuột to bằng cổ tay rớt bịch trước mặt. Con chuột nhe răng ra cười đầy thách thức. Tôi tức giận đứng phắt dậy, dồn cả sức mạnh cơ thể xuống gan bàn chân, chà đi xát lại. Nó bẹt dí. Bà lom dom tiến tới gần tôi, tay cầm thanh gỗ to bản quật tới tấp, quật liên tiếp lên đầu, lên chân tay tôi, bà quật cả vào chim tôi, vừa quật vừa thét: “Phải tội. Đồ vô dụng, thứ gì cũng vô dụng”. Tối đó bà thắp cây nến giữa phòng khách, tắt hết đèn, gọi bố mẹ, hai chị và bắt cả tôi nữa tới, bà trịnh trọng tuyên bố:

Tao tuổi chuột. Một con chuột đen xì, gầy quắt, nhưng bao giờ cũng phải tha gạo về cho chúng mày ăn, béo núc ních cả lũ. Từ rày chúng mày tự mà nuôi thân. Còn mày! Đứa vẫn gọi tao là mẹ, thực ra thì tao nhặt mày ở sọt rác trong tấm vải be bét màu mè, có lẽ vì thế nên mày có hoa tay cũng nên. Ha ha. Mày có tin tao không hả con?”.

Bố tôi nghĩ ngợi một hồi rồi gật gù, công nhận rằng chi tiết này có phần thực tế. Hoạ sĩ. Dám lắm chứ. Hoạ sĩ từ đó thành biệt danh của bố nhưng không phải do thiên hạ đặt mà bố tôi bắt họ gọi.

Nên thế”. Bố tôi ngồi giữa đám bạn nhậu, tay cầm cốc vại, bọt bia bám trắng nửa trên mồm, lớn giọng. “Nên là thế. Điều đó thể hiện một sự tôn trọng đầy thành kính. Tôi đã bỏ phí quá nhiều thời gian rồi, nhất thiết phải gấp rút”.

Bố tôi mua thêm nhiều màu, nhiều vải, nhiều thứ hơn xưa. Bố rất hay đi, hết nơi nọ đến nơi kia. “Khiếp. Phòng tranh thì ít, mà hết ông đến thầy”. Bà bĩu môi: “Hoá ra hoạ sĩ cũng chả khác mấy thằng kẻ vẽ biển quảng cáo. Loạn”. Từ đó, việc phải chi tiêu trong nhà, tất tần tật đều trông vào gian hàng ở chợ, thế mà mẹ không hé răng than phiền nửa câu. Bà bảo: “Con mẹ mày ngu thế mà sao đời nó vẫn khổ nhỉ?

Ngồi im. Cấm ngọ nguậy. Ông quật chết cha mày bây giờ. Im. Giơ cao cái tay khèo lên nữa, nữa, rồi, dừng lại”. Hàng tiếng đồng hồ trôi qua, tay chân tôi tê dại. “Nếu không có con, chắc bố chả biết nhờ ai”. Ông thi thoảng làm tôi mủi lòng, nhưng đa số là những trận đòn tím tái. “Củi. Mẹ kiếp. Mày là củi à. Thế này làm sao ông vẽ được”. Tôi không nói gì. Phải vậy thôi. Tôi sẽ cố chịu đựng để một hôm nào đó, khi bố vui vẻ, tôi xin đi xem con tàu, dẫu chỉ vài phút ngắn ngủi cũng được, dẫu chỉ là đứng xa nhìn và không được sờ vào nó. Thế nhưng tôi chưa kịp xin một lần nào thì ông đã cấm tiệt tôi bước vào gian phòng dựng đầy toan vải và màu vẽ ấy. Tôi đột nhiên nhớ da diết. Đôi khi tôi tiến tới gần cánh cửa gỗ im ỉm đóng, ghé sát mặt vào và hít. Cánh mũi tôi phập phồng. Phập phồng thế mà chẳng ngửi được gì.

Cây xương cá chưa khi nào phủ kín giàn, nhưng nó nở đỏ như gấm trên cái nền xanh của những nhánh tơ mảnh. Chiều nào mẹ cũng phải để dành một thau nước gạo cho chị út tưới cây. Mẹ tôi ít nói, tiết kiệm đến từng cử động nhỏ của làn da mặt, nhưng không hiểu sao mẹ lại thậm ghét việc bước chân lên tầng hai.

Quen mùi đất rồi, lên cao không chịu được”.

Điên thế đấy. Trên cao thoáng mát thế lại không thích”.

Bỏ tay ra”.

Thôi nữa mà. Hôm nay tớ mệt quá”.

Buông ra”.

Cãi nhau chán, cuối cùng bố vẫn phải ở dưới. Tôi chả hiểu sao.

***

Bà tôi hơn 60 tuổi mà lưng không còng, chỉ có mái tóc mỏng, bạc phơ. “Đúng là chuyện lạ kì đời nhất trong thiên hạ” - Bố lẩm bẩm khi nhổ một vài sợi tóc đen cố ngoi lên. “Lạ quái gì. Giời định đấy mày ạ”. Giời định. Mỗi lần thắng bài, bà lại lôi câu này ra nói như thể an ủi kẻ thua. Bà búi mớ tóc trắng thành cuộn con con đằng sau gáy, xiên qua bằng một cái que gỗ đã chuốt nhọn thay trâm. Bà mặc áo bà ba trắng đã ngả vàng, quần nái đen, kính lão trễ xuống sống mũi, mồm ngậm trầu, ngồi xếp bằng tròn trên chiếu chơi tam cúc. “Bà ơi! sao bà hay thắng thế?”. “Đời tao có cọng cu nào đâu mà không đỏ bạc. Xéo”. Bà chẳng cho phép tôi ngồi gần khi chơi bài. “Đen ố. Bà bảo thế - Đen thôi rồi”.

Sự thực thì bà lấy những ba ông, nhưng tôi chẳng nhớ một ông nào cả.

Ông đầu tiên đẻ ra bố mày, ông thứ hai đẻ ra mẹ mày, ông thứ ba đẻ ra cái giống mày”.

Bà ơi! thế ai đẻ ra hai chị con?”.

Đẻ xong bố mày với mẹ mày thì hai ông đầu mất, ông thứ ba mệt quá xin nghỉ hưu, giao cho bố với mẹ mày chứ sao”.

Bà kể về hồi bà đi làm dâu đi” chị lớn tôi gạ gẫm với đôi mắt hấp háy.

Lúc đó tao còn nhỏ, biết quái gì. Nhà đông, tao thì cao chưa quá cái cối xay nhà lão, thế mà bắt tao vào bếp ngay ngày đầu làm dâu, tay mỏi nhừ chưa kịp nuốt trôi miếng cơm, đã chất đống bát bắt tao rửa. Tức mình, tao đập tất, hất tất xuống cầu ao”.

Rồi sao nữa bà?”.

Hôm nào mày thử đập vỡ bát đi, thấy ngay lập tức”.

ứ gì, bà ơi... Bà ơi! bà còn yêu không?”.

Yêu”. Bà quay sang nhìn chị. “Nhà này mỗi mình mày là sáng suốt”.

Chúng tôi thích ngồi ngoài ban công khi đèn đường đối diện đã tắt hẳn làm hiện rõ cái ánh trăng vàng nhàn nhạt sáng, trên cái võng không được phép đung đưa, rúc đầu vào lòng bà nghe kể chuyện. Nhưng có một đoạn khuyết trong quá khứ mà dù hai chị khơi kiểu gì bà cũng không chịu kể.

Nhiều chuyện người ta chỉ có thể khoét lỗ, hét vào tai đất mà thôi con ạ!”.

Chuyện gì hả bà?”.

Chuyện về những người tỉnh, sống trong thế giới kẻ điên. Thằng điên nào cũng mồ côi, nhưng chẳng thằng mồ côi nào điên cả”.

Ngày xưa cụ ngoại dạy bà những gì?”.

Chơi cờ con ạ. Chữ đầu tiên bà biết cũng từ chơi cờ mà ra...

Nửa vầng trăng treo trên đầu chúng tôi thỉnh thoảng bay lẫn vào trong mây, mờ mờ, tỏ tỏ. Tôi ngước nhìn lên rồi reo to: “Trăng cười”. Bà giật mình.

***

Tôi nằm, áp tai xuống lớp đá hoa cương trong phòng. Tai đất. Đất có nghe thấy người ta nói gì không? Đất có nói gì không? ù ù, ì ì. Tựa như trên đường ray, cục sắt đang từ từ chuyển động. Lách cách, lách cách, băm băm chặt chặt. Mẹ, tiếng mẹ trong bếp. “Này thì kết bộ ba”. “Chậc”. “Đen quá”. “Bõ bèn gì”. Lào xào, loẹt xoẹt. Tôi ngồi dậy. Phòng bà toàn dân cờ bạc, đầy những người gầy đét có, to tướng có, thấp có, cao có, phả mùi thuốc lá khét lẹt. Khi bố năn nỉ bà chuyển chiếu bạc xuống phòng khách để bố có chỗ vẽ riêng thì mẹ khó chịu ra mặt, cứ đi chợ về là ngồi trong gian bếp, không thèm ló lên nhà, rồi hít thở mùi than quen đến nỗi phát nghiền. Tôi nghe rõ nhất là tiếng bước chân của mọi người. Bố đi có vẻ gấp nhưng xải chân không rộng nên vẫn chậm, chị lớn đi như chạy, chị út khoan thai hơn nhưng không đều, mẹ rất nhỏ, chỉ có bà là mơ hồ như không tiếng động. Đôi khi tôi thấy những tiếng lầm rầm rất kì quái, khi xa khi gần, khi liên miên, khi đứt đoạn, lào xào, nhấm nhẳng, chẳng thể đoán định nổi là ai nói. Tiếng nói vô hình, vô trọng lượng.

Con xin. Giúp. Con không biết phải làm sao. Con cần như thế. Con lạy

Tôi dạy chị út áp tai xuống nền, nhưng chị chẳng nghe được.

Chịu thôi, em chị tài quá”.

Chị thử lại lần nữa đi thế này này đấy đang có tiếng rì rầm đấy”.

Trò vớ vẩn. Có mà nghe thấy mấy con côn trùng nó nói chuyện ấy. Yên cho tao học”.

Chị lớn chuẩn bị thi hết cấp ba, chị vùi đầu vào học, đêm đêm chong đèn học, sáng sớm chống mắt học, học quên thời gian, quên không gian, nhiều khi quên cả hai chị em tôi. Nhưng mẹ phán xanh rờn. “Học xong kiếm việc làm”. Chị khóc ngất, khóc nức nở, lao vào lòng bà khóc.

Phận gái học cao để rồi mang điếm nhục vào thân thôi con ạ. Đến bà mày đây, chỉ biết vài cái chữ nho nhe, thế mà cũng đeo nặng hòn đá suy nghĩ vào đầu. Con ơi! trời cho cái sự thông minh thì đem ra mà suy tính đường đi nước bước trong đời, đừng phí vào học hành, hoài của lắm”. Bà nói, giọng nghèn nghẹn.

Chị tôi vẫn khóc tấm tức, đến khi mệt quá lăn ra ngủ ngay trong lòng bà. Bà giơ bàn tay vàng võ, ngoằn nghèo những đường gân nổi, đặt lên từng sợi tóc trên đầu chị, chậm rãi. Chắc là phải nhẹ và ấm lắm. Biết bao lần tôi khao khát được bà xoa đầu. Chị vẫn lao vào học. Một hôm mẹ nói:

Muốn có tiền đại học thì phải tự làm lấy. Hàng xóm có chú Chí làm trên Sở, vợ vừa đi công tác miền nam 3 tháng, nhà cửa không ai trông. Hôm nọ chú hỏi tao xem ai có thể sang quét dọn mỗi ngày được chú trả cho dăm trăm. Đồng ý để tao còn sang bảo”.

Lúc đó gần tháng 2, chị tôi có việc làm. Mấy hôm sau mẹ mang ở chợ về con mèo, mẹ bảo:

Nhiều chuột quá”.

Nhà chú Chí giàu, cao những 4 tầng, cái gì cũng có, ti vi, đầu máy hát , giàn tủ lạnh chất đầy thức ăn. Chú bảo mình chú dùng không hết, để thì hỏng, cứ lấy về chia cho các em. Thỉnh thoảng chị mang hoa tới cắm, hoa hồng, cúc có khi là vài bông sen. Bà cũng hay sang.

Bà nói: “Xem thế nào nào”.

Cạnh nhà chú Chí là cô Phồn, nổi tiếng điêu, ngoa ngoắt, có hai mặt con mà vẫn liếc mắt đong giai. Hàng xóm láng giềng cứ xì xào về mối quan hệ của chú Chí với cô. Xì xào mãi mà chẳng ai dám nói thẳng, cô điên tiết, giữa trưa nắng chang chang, đầu trần chân đất, đi từ đầu ngõ đến cuối ngõ, từ cuối ngõ đến đầu ngõ, vừa đi vừa chửi. Chửi cha đứa nào ngứa váy, ngứa là, chửi bố đứa nào răng dài, cà ngắn, bà thì bà đập là vào mặt. Cứ thế, giữa trưa, chẳng ai ngủ nổi. Chồng cô Nhài to con nhưng tồ, rất hay sang đánh tam cúc với bà, đánh trận nào thua trận ấy mà vẫn hềnh hệch cười. Đầu tháng ba, chú cắm phích quạt đuổi muỗi cho con ngủ, đút luôn ngón tay vào ổ điện, bị giật chết. Đám ma chú nhỏ, nhưng chòm xóm đến đông. Bà cũng diện một cái áo đen cùng bố tôi sang phúng viếng. Thắp hương xong, bà ngồi xuống cái chiếu của phường kèn trống, xoã mớ tóc trắng thơm hương bồ kết xuống, rồi gập người khóc, cứ anh ơi! anh hời! sao anh lỡ mang chày đi, bỏ cối lại ối anh ơi là anh ơi! em biết làm sao, lỡ chày người không vừa cối em thì biết kiếm đâu ra anh ơi! anh ơi!... Bà khóc đúng nửa tiếng đồng hồ mới đứng dậy ra về. Khách đến viếng mím chặt môi, chờ đi thật xa mới phá ra cười xặc xụa. Họ nhao nhao nói vọng vào tai tôi:

Cụ ơi! con chịu cụ, cụ ơi. Cụ tài quá. Mặt con đĩ ấy tím như chàm đổ ấy. cụ ơi! con chịu cụ”.

Giữa tháng 4, bố có tranh được treo triển lãm. Cả nhà kéo đi xem. Tranh vẽ một cụ già đang ngồi bên ngọn đèn, mắt mũi kèm nhèm, khâu áo. Ai cũng nhận ra khuôn mặt của bà. Triển lãm nhan đề: “Mẹ - tôi”.

Bà bảo: “Lũ đểu”.

***

Từ ngày chị sang dọn nhà cho chú Chí, tôi đã có thể nghe được xa hơn nữa. Những tiếng nói nối tiếp nhau từ bốn phương tám hướng vọng tới, đôi khi đan xen, chồng lên nhau. Tôi lẫn lộn cả.

Cháu biết không, tiến bộ xã hội là một vòng tròn khép kín. Con người cứ tưởng họ đã vượt thoát, nhưng sự thật chỉ là làm lại từ những ước mơ giống nhau mà thôi”.

Giá vàng lên nhanh quá, chu choa

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đem lại

Em ơi! Anh nhớ em quá, ứ chịu đâu, tuần gọi cho người ta có lần à. Đâu, anh có dám này nọ với ai đâu. Chả thương người ta gì cả. Nhớ lắm đấy, khi nào về tính cả vốn lẫn lãi luôn, lúc ấy đừng có trách người ta nặng tay đấy

Tao nguyền cả dòng họ nhà mày. Tao nguyền

Cố lên cháu ạ, bằng cấp là chân lý

Giỏi nhỉ, dám đầu mày cuối mắt với con nhãi ranh chưa nứt mắt ấy. Bà mà bắt gặp thì bà xé xác

Không có gì mà không phải trả giá. Kể cả mong ước. Không có gì mà không phải trả giá

Côn trùng phụ hoạ theo những hơi thở ngắn ngủi, chồng chéo bằng giai điệu ri ri bất tận. Dần dà tôi phân biệt được từng cung bậc khác nhau của chúng, thậm chí hơi thở yếu ớt của đất tôi cũng nhận ra. 

***

Đầu tháng 4, cô Phồn sang nhà tôi rõ sớm khi mẹ vừa ra chợ, hai chị đi học. Cô vứt ra giữa chiếu một xấp ảnh. “Chị Hương với chú Chí” tôi nhận ra ngay. Bà quay phắt lại, mắt long lên giận dữ. “Cút”. Tôi liền trèo lên gác, áp tai xuống dưới đất.

Vợ nó sắp về rồi

Đừng dính cháu tôi vào

Tốn công lắm mới có được đấy, phải chơi nó vố này mới được

Cô cứ ăn cả đi, nhưng thêm ai nhìn thấy những tấm hình này, tôi thí mạng già đấy

U yên tâm. Con là đứa biết điều

Chả dám. Mời cô nước”.

Tối, bố túm tóc chị cả quật túi bụi. Bà không nói thêm câu gì. Mẹ ngồi trên ghế, nghiến răng:

Tình yêu. Giời ơi! Cũng tình yêu cơ đấy. Cũng cho tất cơ đấy. Giời ơi!”.

Không biết chuyện gì xảy ra sau đó, nhưng chị cả tôi xanh rớt ra, nằm liệt giường, mãi mới chịu dậy. Đến tháng 7, chị đi thi đại học đỗ, tháng 9 lên trường rồi từ đó chẳng về nhà nữa. Mắt bà sau bận đó kém dần, cứ chốc chốc đưa tay dụi là ghèn lại thi nhau ra. Cô Hiền làm bác sĩ trong bệnh viện chạy sang bảo đừng dùng ống tay áo quệt lên mắt, mất vệ sinh lắm. Bà nghe theo được mấy tiếng rồi lại quen nết. Cô Hiền bảo thế thì chịu thôi. Mắt bà kém đến nỗi đeo kính cũng chẳng thể thấy quân bài, mà cờ bạc thảy đều gian trá cả. Hội tự giải tán. Bà chuyển sang đánh đề, cứ chiều 4h là bà lại đi ra đầu ngõ ngồi tán chuyện, tính toán số má, rồi cầm mảnh giấy nhỏ đi về. Tính bà càng gở. Bà bỏ giường, nằm trên mảnh ván bắc ngang từ cửa sổ vào lan can trong nhà mà bố vẫn dùng để đựng đồ vẽ. Cửa sổ mở toang mà lại chẳng có màn miếc gì, từng đàn muỗi, từng đàn bay vào, đốt bà dọc theo mình bên trái lẩn mẩn những nốt nhỏ như phát ban.

Thây kệ cha chúng, bà nói. Đốt no thì chóng chết. Trò đời nó thế”.

Một tối, tôi đang áp tai xuống nền nhà thì bà cúi xát đầu, hỏi:

Có nghe chuột nói chuyện bao giờ chưa?”

Như thế nào hả bà?

Như người ấy

Thế thì không có. Chỉ có tiếng chút chít thôi”.

Mày ngu lắm. Người đấy”.

Con mèo lớn nhanh như thổi, lông mượt mà, vàng rộm. Một hôm dậy sớm, tôi thấy nó vờn xác con chuột trong hai bộ móng vuốt sắc lẻm. Tôi hét lên: “Chuột chết”. Bà đang nằm trên ván giật mình rơi xuống đất.

Gãy chân, phải bó bột” ông Bác sĩ chuẩn đoán.

Tối đó bố lại đánh tôi.

Rồi mày sẽ phải ân hận cả đời con ạ” Bố vừa quật vừa rít lên.

Nó có hiểu gì đâu mà ân hận” Mẹ thở dài, nhìn lơ đãng ra đường.

Bà yếu dần, nhỏ dần, rồi 4 tháng sau thì mất. Mẹ tôi đem con mèo đi cho.

***

Nhà tôi hai tầng, mái bằng. Hồi bố mới xây nó to nhất xóm. Khi bà mất, những mảng bụi trong nhà bắt đầu rơi xuống, ban đầu chỉ là một đường nứt rất nhỏ giữa gian bếp với nhà chính. Bố bảo lũ chuột vào làm tổ, đục khoét trong đó nên mới to ra. Sau đó thì từng mảng vữa to đùng rơi xuống. Có lần nó đã rơi trúng đầu bố. Đầu tháng 10, mẹ có chửa. Chị út ra chợ phụ bán hàng. Bố dẫn về nhà bác Hoàng, người miền nam, cũng là hoạ sĩ, ra bắc công tác, nghỉ ngơi luôn ở nhà tôi. Bác đi một vòng tầng trên lẫn tầng dưới, xong vỗ vai bố, bảo:

“Cậu có tài đấy, nhưng cậu chưa rõ đôi điều. Vẽ trong cái hộp xi măng này ấy ? Còn khướt. Phải làm cho nó kiểu cách hơn chứ”.

Lật từng bức tranh có tôi làm mẫu trong đó ra, bác nhíu mày:

“Vẽ là một nghề, mà nghề thì phải có tính chất theo thị trường. Cái kiểu khơi gợi thương tâm về thằng bé tật nguyền này chỉ đem đi triển lãm được thôi. Chú vẽ mẫu nữ bao giờ chưa?”.

“Chưa” bố ngơ ngác.

“Đỉnh cao nghệ thuật ở đấy đấy”.

Tối đó, khi áp tai xuống đất, tôi nghe thấy rất rõ những câu nói mang sắc lửa đỏ: “Tao nguyền cả dòng họ nhà mày. Tao nguyền”.

Tiếng nói rõ ràng rành rọt hơn hẳn. Tôi chợt rùng mình. 100 ngày giỗ bà, trong lúc mẹ làm cơm bưng lên nhà trên thì bị trượt chân ngã, đồ cúng vung vãi cả. Mẹ thì mất em bé, từ đó mẹ không bao giờ ngước mặt nhìn lên tầng hai, việc ngày rằm chị út tự coi sóc cả. Bố rầu rĩ ra mặt: “Mẹ không cho rồi”. Bác Hoàng dẫn về nhà mấy cô người mẫu nữ, bố đóng cửa phòng, vẽ miệt mài, cơm nước nhiều khi không màng, chị út phải mang thức ăn đặt trước cửa phòng. 23 tết ông Táo, vừa tròn một năm nhà tôi xây mới, bác Hoàng về lại Nam.

***

Này, sao hoa chưa chịu nở.

Nở đi, nở bung ra đi, nở đi hoa

Trên cánh đồng kia lũ bướm đã lượn rồi

Nắng trắng xoá sao hoa chưa chịu nở

Để lũ nhện gầy mòn đánh lưới ánh trăng khuya

Này thôi trăng xin hãy nở đoá hoa

Cứ khi nào chuẩn bị vẽ là bố lại hát. Mãi rồi tôi mới thuộc. Đã lâu lắm tôi không được phép vào xem khi bố vẽ. Tôi nghe, tôi áp tai vào tường, nghe và bắt đầu tưởng tượng tới từng hành động của bố. Bố sẽ đứng dạng hai chân, trên môi là điếu thuốc, tay cầm bảng màu, mắt dán chặt vào tấm voan.

Uống một chén nhé. Uống cho hồng đôi má lên đi con, cho ánh mắt chuếnh choáng những tia nhìn khác lạ và làn da thì hực lên sắc lửa. Đừng cười như thế, con hãy cứ quắc mắt lên, nghiến chặt răng, phun phì phì. Chưa được, thêm chén nữa đi. Nữa

Tôi cảm nhận rõ hơi thở chị đầy ắp căn phòng và nước mắt chợt ứa ra. Có nỗi niềm gì đó len nhẹ trong lồng ngực tưng tức vì ghen tị. Tôi ngẩng đầu lên, không nghe, thế rồi lại áp tai xuống. Nước mắt vẫn rơi lã chã, lã chã. Tôi đứng vụt dậy, những giọt nước mắt xuôi thành dòng chảy xuống cằm. Tôi trèo lên bàn, leo lên tủ, cúi nhìn qua lỗ thông gió sang phòng bên.

Chị trong đấy, nằm nghiêng ở phía đối diện, môi he hé mở, tay xuôi theo nếp áo mỏng. Bố đang đứng trước khung tranh ở gần cửa, tay đặt trên cọ vẽ, chăm chú, thành khẩn. Đột nhiên bố ném bút. Ngòi bút cắm thẳng vào tường, bật ngửa ra trên sàn. Bố quay về phía ảnh bà trên bàn thờ ôm mặt khóc. Những nén nhang cháy gần hết. Khói tản đi tự bao giờ.

Không được. Mẹ ơi!... lừa. Không làm được. Mẹ ơi!...

Bố với lấy chai rượu, dốc ngược vào cổ họng, rượu dềnh ứa xuống, thấm ướt cổ áo. Bố từ từ ngồi bệt xuống đất, mồm lẩm nhẩm. Tôi nghe rõ tiếng nói, tiếng nói quen thuộc vẫn cất lên khi áp tai vào tường.

Này con ơi! Nở vung vãi những cánh hoa ra. Ta bảo con ơi, khì khì.. rót thêm nữa nào. Đêm nay trăng muộn. Ta chờ trăng. Yêu trăng. Này con nhìn xem nghiêng ngả trăng say, trăng chưa muốn ngủ. Rót thêm . . . nào con đừng ngủ. Trăng tràn ra, bò lổn nhổn, rạo rực một màu thuần khiết. Trăng nép vào sau lần áo con, cẩn thận, giấu mình, e lệ. Sau lần áo mỏng con ơi, trăng thở, trăng tràn, trăng chưa say. Đêm nay trăng thức muộn...”.

Chị và bố tự lúc nào. Đẹp đẽ, gắn kết. Từng giọt mồ hôi túa ra từ những lỗ chân lông lấm chấm, vương vãi trên làn da trần, kết lại xuôi chảy thành dòng. Mắt chị nhắm nghiền, cần cổ thẳng băng, ngực căng phồng, hiện rõ từng chiếc xương sườn dưới lớp da. Tóc chị xổ tung, xóng xoài trên nền đá hoa cương, hiện một màu đen bóng. Bố vươn cao mãi lên trong một sức dướn không giới hạn, bung phá những chuyển động phi tuyến tính, hoang tàng mài dũa. Chưa bao giờ tôi thấy bố sống động và uyển chuyển đến thế. Từng động tác hiện rõ dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn như hút mọi điểm nhìn đến u mê đi. Tôi cảm giác cái gì đó lớn dậy từ từ, từng chút một, nó thúc vào tôi những cú huých khó chịu đến gai người.

Mẹ vào lúc nào không ai biết, cả tôi nữa, tôi cũng không biết, có lẽ cả bà trên bàn thờ cũng không biết. Có bao giờ mẹ chịu lên tầng hai đâu, trừ những ngày cúng giỗ. Mẹ đứng đấy im lìm như tượng đá, chứng kiến những khám phá không ngừng của bố, tựa như mẹ cảm nhận được sự chuyển động khác thường này mà đi tìm vậy. Tôi tin chắc điều này dù không khi nào thấy mẹ áp tai vào nền nhà. Đến tận khi bố bắt đầu rên rỉ, gấp gáp thở, cả mẹ và tôi mới giật mình. Mẹ nhìn quanh phòng, hai tay rối bời khua lên trong không khí, có một cái gì đấy mắc lại trong tấm lưới của thời gian và mẹ đã nắm được. Bố rống lên rồi gập người đổ xuống, có những đốm đỏ như màu vẽ loang nhanh ra nền.

Từ đó tôi không nghe được âm thanh gì trong đất nữa, có thể do tôi đã trèo lên bàn, leo lên nóc tủ, nhìn qua lỗ thông gió nên ngôi nhà đưa ra hình phạt. Bố ngã bật ra nền đất, yếu ớt và vụng về, choãi tay ra đằng sau chống đỡ thân mình nhớp nháp mồ hôi, đầu ngóc cao, trân trối nhìn mẹ bứt từng túm tóc ném vương vãi ra sàn, mồm thốt ra tiếng ri ri bất tận của loài côn trùng không lưỡi.

Tôi không nhớ điều gì xảy ra tiếp theo đó. Hình như tôi nhỏm dậy định trèo xuống, thì cụng đầu vào trần nhà, rơi từ trên tủ xuống, bất tỉnh. Đến khi tôi tỉnh dậy thì nhà đã không còn bố nữa. Chị lớn đi mãi không về. Mẹ im lìm chẳng hé răng câu nào. Chị út suốt ngày ngồi nhìn lên ảnh của bà trên ban thờ. Tôi lần mò đi ra ngõ. Nắng chiếu hếch vào mặt, chói loà luồng sáng của lửa, tai tôi bùng nhùng tiếng tàu hoả chạy, rõ ràng, mạnh mẽ. Trong nhà, vết rạn giữa bếp với gian chính ngày càng rõ, những cục vữa to không rơi xuống nữa, mà từng giọt bụi, từng giọt một rơi xuống tan vỡ cả không gian. Từ đâu đó, tiếng mẹ tôi rống lên bi thiết. Và tôi lơ lửng trên cao đấy.

PHẠM NGỌC LƯƠNG. (Hà Nội 04.06)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 228)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 220)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 256)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 289)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 480)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 480)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 260)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 502)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 556)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 388)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 6974)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13925)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12795)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13338)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 228)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 220)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 256)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 479)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 260)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 556)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2622)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2768)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 491)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 559)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3435)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3847)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 289)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 388)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 512)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2793)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9568)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26032)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32377)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32712)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7341)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9712)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2385)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2410)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2480)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2818)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5020)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4324)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3956)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5075)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.