- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,460,739

NGƯỜI ĐI TÌM SỐ PHẬN

19 Tháng Bảy 201911:12 CH(Xem: 3211)
DH14
photo ĐH



Về đi… về ngôi nhà số phận của tụi mình đi…

   Tôi cố nén những giọt nước mắt…Đó là ngôi nhà hai tầng nằm ngã ba phố chợ. Trước nhà có hai cây Phượng Vĩ già cỗi, dưới cội cây rêu xanh đặt dăm ba chiếc bàn đón khách uống ly đá chanh ngồi tránh cái oi bức trưa hè, hoặc nhâm nhi ly cà phê chiều tàn mà ngắm nghía cái xô bồ cuộc sống. Lan can lầu treo mươi chậu Lan. Nơi chúng tôi thường tụ tập với nhau, cùng học hành, cùng vui chơi và cả những giận hờn vu vơ tuổi mới lớn.

   Đó là một buổi chiều cuối hè, tôi đạp xe cà tàng lang thang qua các con phố, nhìn những cánh Phượng tan tác rơi, mỉm cười nghĩ về ngày tựu trường. Rẽ qua ngã ba phố chợ, nước lạnh từ trên cao bất thần dội xuống đầu, chiếc xe lạng quạng, tôi ngẩng đầu lên. Một mái tóc ngang vai, khuôn mặt bối rối, đôi mắt sợ hãi… Rồi biến mất. Tôi hân hoan bước vào lớp chuyên Toán cuối cấp, một cô bạn đang dọn vệ sinh, bốn mắt nhìn nhau ngạc nhiên, đôi môi hồng lắp bắp…Xin lỗi…Cô bạn tên Hoàng Hạc.

…Đêm ấy, Hoàng Hạc biết Phong sẽ đến, Phong sẽ chầm chậm đi dưới hàng cây Phượng Vĩ, dừng lại dưới cội Ngọc Lan ngước nhìn ánh trăng dịu dàng trong vắt, nhè nhẹ hái mấy đóa hoa tinh khiết thơm ngát. Phong lại chầm chậm đi trong không khí trong suốt và yên tĩnh của đêm hè, dừng lại dưới lan can lầu nhìn lên…Phong ơi! Hoàng Hạc cố tình nép đầu vào ngực Sơn mà trái tim đau nhói, nước mắt không ngừng rơi. Phong cũng như thế, phải không? Phong ơi! Đau lắm. Cha của tụi mình cùng cảnh ngộ, đều vùi thây trong rừng thiêng, nước độc. Hoàng Hạc không thể ở lại nơi này…

   Tôi trở về từ bốn bức tường giam, thản nhiên sống dưới ánh mắt dè dặt và thái độ sợ sệt của những người xung quanh, ung dung trong lượng từ tâm của trời đất. Mảnh đất góc rừng này là của Ông tôi khai phá, Cha Mẹ gầy dựng, và bây giờ là chốn nương thân của tôi. Vẫn còn đâu đây bóng Ông vác cuốc giữa mù sương tháng chạp rét mướt, bóng Cha bên chùm xoài lủng lẳng vàng dưới ánh nắng chói chang rực lửa trưa hè, bóng Mẹ khơi bếp lửa hồng bên chiều chạng vạng mùa đông.

   Đêm trở mình thức giấc nghe tiếng cú kêu, nghe tiếng rì rào trong lòng đất. Mảnh đất này có máu, mồ hôi, nước mắt và xương thịt của những người thân yêu, có cả một quãng đời thơ ấu bình yên và thấm đẫm yêu thương. Lúc Cha còn sống, có đôi chim xinh đẹp bay về mỗi độ mùa xuân, nhảy nhót trên tán cây xoài xanh mát trước hiên nhà. Một tiếng chim hót trong trẻo như hồi chuông, liền theo sau là một hồi mỏ dịu êm lốc cốc. Cha tôi gọi là chim chuông, chim mỏ. Khi Cha mất, đôi chim này cũng mất hút trong sự đợi chờ khoắc khoải của tôi. Có cảm giác như tôi và đất đai hòa vào nhau, đất chia sẻ sự trầm mặc, lòng kiên trì và sức nhẫn nại. Cha vẫn thường nói…Đất đai là bổn mạng người Nông dân…

…Không biết Hoàng Hạc có trốn thoát được trong cuộc đào sinh này hay vùi thây nơi biển cả. Ra đi sẽ rất nhớ Toàn, lúc nào cũng ân cần giúp đỡ bạn bè. Nhớ Vàng Thu đăm đắm Phong với đôi mắt dịu vợi. Hôm ấy, buổi học muộn quá, cả lớp đói rã ruột, Vàng Thu vốn yếu ớt nên ngất xỉu, Thầy bảo…Em nào mạnh bế bạn lên phòng Y Tế… Phong lúc nào cũng ngạo ngược… Em nghĩ thầy là người mạnh nhất… Cả lớp cười ồ, Thầy quắc mắt giận dữ, nhưng Phong tỉnh bơ bế Vàng Thu trong sự trêu chọc của bạn bè.

   Nhớ cái buổi chiều trốn lao động tập trung  cuối năm học, cả bọn vào rẫy đào khoai trộm, sẽ không bao giờ quên hương vị ngọt bùi của khoai nướng lan tỏa hoàng hôn. Đang ăn ngon lành, Phong la lên…Ông chủ…rồi kéo Hoàng Hạc bỏ chạy, cả bọn hoảng hốt chạy theo. Toàn la…Chờ tao với, chờ tao với…Cả bọn ngoảnh lại phá ra cười, Toàn vừa kéo quần vừa chạy, thì ra Toàn bỏ khoai vào hai túi quần bộ đội bạc phếch nhiều quá, hai đai quần được cột lại bằng dây chuối khô nên khi chạy bị bung ra, chiếc quần tụt xuống. Không có ông chủ nào cả, Toàn lầm bầm…Cái thằng Phong chết tiệt…

   Cả bọn ra về trong ánh nắng lịm tắt, Phong dịu dàng nắm tay Hoàng Hạc, nép vào ruộng mía ven đường, bàn tay sao mà ấm áp. Cái đêm hôm ấy thật ngọt ngào, trăng non ngọt ngào, ngọn gió cũng ngọt ngào, ngọt ngào đến mê người, Hoàng Hạc không bao giờ hối hận… Em đã trở thành người đàn bà của anh… Phong ơi!...

   Hàng tuần cô giáo Vàng Thu đạp xe hàng mấy cây số mang lương thực đến dù mưa hay nắng. Dọn dẹp nhà cửa, bếp núc gọn gàng. Dịu dàng kể cho tôi nghe những chuyện cười ra nước mắt của trường, của lớp, những sự thật đắng cay về các thầy cô giáo, những con người mang sứ mệnh cao quí! Cả hai không bao giờ nhắc đến một cái tên, đôi mắt Vàng Thu lúc nào cũng thăm thẳm đợi chờ, tôi nghe lòng đau nhói. Toàn thỉnh thoảng đến thăm, lúc nào cũng mang theo chai rượu Chivas lâu năm và mấy con tôm hùm sao, hai đứa thức cả đêm trò chuyện như những ngày còn đi học…Trong chếnh choáng hơi men, Toàn thừơng hay lảm nhảm…Chỉ khi nào về với tụi mày tao mới cảm thấy thoải mái, còn ở chốn quan trường thật là khó thở. Sợ trên, sợ dưới, nhìn ngang, nhìn dọc… haha, tao sẽ đưa vợ con sang Mỹ, còn tao sẽ đi sau.

   Lâu lắm rồi tôi, Toàn, Vàng Thu mới ngồi lại bên nhau. Đêm mùa Hè gió rười rượi mát, có tiếng vạc kêu sương, mảnh trăng thượng tuần nhợt nhạt. Toàn đăm chiêu uống từng ngụm rượu, Vàng Thu cúi đầu xõa mái tóc dài vào mông mênh đêm tối, chưa bao giờ tôi thấy Vàng Thu mảnh khảnh và yếu ớt đến vậy. Toàn thở dài…Tao đưa vợ con sang Mỹ định cư, cố công tìm Sơn và Hoàng Hạc. Sơn là kỹ sư cơ khí hàng không, Hoàng Hạc làm nail. Hoàng Hạc thường xuyên uống thuốc an thần, hàng tháng phải trị liệu tâm lý…Họ đã trải qua nhiều đau đớn.

   Vàng Thu rấm rức, tôi chợt trống rỗng, Toàn uống một chén rượu đầy.

…Hoàng hôn ứa máu, chiếc thuyền trong cuộc đào sinh cạn dầu, cạn lương thực  lênh đênh trôi dạt giữa đại dương mênh mông. Chỉ còn một ít nước cầm hơi, mấy chục sinh mạng la liệt trên sàn thuyền, cách cái chết một hơi thở… Hoàng Hạc đang hình dung khuôn mặt của Phong, cái vầng trán cao và nụ cười ngạo mạn. Nhiều người rất ghét  Phong vì họ không cảm nhận được trái tim dịu dàng ấm áp được giấu kỹ dưới cái vẻ ngông nghênh đến xấc xược. Có tiếng la hét… Cướp biển… Sơn đang nằm bên cạnh chồm dậy, một báng súng đập vào Sơn, Sơn ngã xuống sàn lênh loang máu. Một bóng người như quỉ dữ, một mùi tanh hôi tởm lợm chồm lên người. Hoàng Hạc lịm đi trong tiếng còi hụ giữa màn đêm.

   Nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm sau đó, Hoàng Hạc vẫn từng đêm giật mình thức giấc trong hoảng loạn, cái mùi quỉ dữ mãi ám ảnh trong giấc mơ. Sơn ân cần chăm sóc, Hoàng Hạc dựa vào Sơn, cả hai dựa vào nhau để xoa dịu đớn đau, để vượt qua những khó khăn thử thách trên xứ người… Xin lỗi Phong…

…Về đi Phong, về với ngôi nhà số phận của tụi mình đi…

   Hai cội Phượng già vẫn xanh rêu, ngôi nhà vẫn ưu tư như thuở nào. Toàn ngồi bên chiếc bàn sát lan can nhâm nhi chén trà, Vàng Thu nâng niu mấy chậu lan, Sơn với đôi kính cận trầm mặc cây rừng bên cạnh Hoàng Hạc khuôn mặt xanh xao nhưng không kém vẻ kiêu sa, quyến rũ của một thiếu phụ. Chúng tôi nhìn nhau nước mắt rưng rưng, Hoàng Hạc gục xuống, Sơn vội vàng giữ lấy ân cần trìu mến. Toàn và Vàng Thu giả vờ quay mặt nhìn xuống đường đang loang vệt nắng chiều. Thời gian như ngừng trôi trên những mái đầu chớm bạc. Tôi chợt cảm thấy mình xa lạ…

   Tôi đi qua nhiều làng mạc bị những cơn lũ tàn phá tan hoang, thương những đứa trẻ đầu trần, chân đất mang bụng đói đến trường. Hoảng sợ nhìn những chiếc cầu cheo leo sinh tử đưa đón người qua lại mưu sinh. Ngậm ngùi những thầy cô giáo phải bơi qua sông để gieo con chữ. Tôi đi qua những phố thị đèn hoa ồn ã, những quán bar mờ ảo bước chân các kiều nữ buôn bán tuổi thanh xuân. Chiếc xe hơi bóng lộn, chai rượu đắt tiền mà người nông dân cả cuộc đời có mơ cũng chẳng bao giờ thấy

   Có số phận hay không? Tôi không biết, chỉ biết chắc chắn có những điều xảy ra nằm ngoài sự tưởng tượng của con người, và con người không còn cách nào khác là phải chấp nhận.

Tôi đi tìm số phận của tôi…

   Vàng Thu vẫn lặng lẽ chăm sóc mảnh đất góc rừng, đốt bếp lửa hồng sưởi ấm mái tranh, lặng lẽ đợi chờ…

   Tôi và Vàng Thu ngồi dưới mái hiên nhà nhìn đôi chim ríu ran, tiếng chuông lảnh lót ngân xa tiếp theo sau là hồi mõ lốc cốc ấm áp. Hai con chim chao lượn trong sương khói chiều xuân.

   Có phải là Ông đang chống gậy trong ánh nắng vàng long lanh? Có phải là Cha, Mẹ đang uống chén trà sóng sánh cánh mai vàng ?

...Mảnh đất này là số phận của tôi…

   Tôi mỉm cười và đôi má Vàng Thu chợt hồng…

 

Trần Quang Phong                                                                     

CR Mùa hạ 2019

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2465)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6400)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3314)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 806)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 1009)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 723)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 888)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 796)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 1006)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 1000)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.