- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,583

NHỮNG ĐỨA TRẺ ĐỒNG BƯNG

16 Tháng Bảy 201910:58 CH(Xem: 5858)
kt 1
Tranh Khánh Trường

NGƯỜI THỰC VẬT

 

Trời thơ rồi chết tứ tan
biển người tiếng nổi hiện hoàn thành tro
hoa tuột dốc bỏ hương đưa
chân đời lầy thụt còn mùa hôn mê.

 

BÀI DÂNG TẶNG KẺ THÙ

 

Dỗ ngọt mi trước khi vào giấc
cuộc thơm
đừng sợ tốn
hãy trút
lảo đảo
vợ đón sao dám chửi

nhà ngươi qua hẻm vắng một mình
có dự tính gì không
ta luôn ngu muội hơn mi
nghèo khó dưỡng nuôi từ tấm bé
gầy cây tre mép nước lở hết đất

kia mi loạn choạng
cô đơn sẽ giẫm lên bóng
còn hát
bài hát về ngực đẹp
còn chém lửa
múa man cao dâng
đường đến chết còn nhiều nắng mưa
hồi hưu ta năm hai không ba lăm

sao mi chửi gấu cái
giật giành miếng mật của rừng
lẻ ra vào họng đàn con

về nhà an toàn
trước khi chìm vào chìm vào vợ
thổi lên bản hợp xướng vĩ đại
vì mi bất tử.

 

 

NHỮNG ĐỨA TRẺ ĐỒNG BƯNG

Một đêm ở ấp văn hóa hồi xuân

 

m lạnh men rượu gạo
lội ruộng đồng sinh ra lũ trẻ
chúng nó giờ lao xe vun vút về thành phố
ếch nhái luôn quạnh hiu

giáo dục xã hôi nghĩa chủ dạy chúng chiêu trò bất lương
từ bọn vô học 
ông cha tôi chỉ tin đom đóm xa xăm cánh đồng lúa thơm

 

nép vào vô nghĩa
xe công nông cán lên bóng đàn cò
sao giữ sự trong trắng
khi chiêu trò bất lương giáo dục chúng

 

của cải quyến rủ đám tháo giày dạy thêm
đặc ân không giải quyết bằng đạo đức
mình đi hốt phân bò phơi khô bán cho người làm bông
một bao giá năm mươi năm

 

bọn tau lội đồng vợ không trả bằng tiền
mà bằng sự hư hỏng trên thân thể người phụ nữ
đầy mùi nắng gió

 

khái niệm độc ác bắt chúng phải học thuộc 
khờ dạy từ tiếp tay
chú mày phương đây tới từ xa
có buồn mưa đồng trắng xóa


kẻ quê luồn lách trên phố
ngoài quốc lộ năm ba xuống cấp
bọn ngồi trên quá tham ăn
giờ gan bị xơ xơ
chết sao êm ái nhất

 

biển ấu thơ quẩn quanh nhà
mùa xuân giỡn đùa inh ỏi
hạnh phúc của bọn lội đồng chúng tau.

 
Nguyễn Đăng Khương

 

TỒN

 

Bất ngờ sách thời 
người không tin mình
lặn miền vô hạn cực bé
mềm mại của lửa

cửa quát tháo tai mắt
bầu trời đôi chim
thảm khốc
nheo nhóc
trước phía trước

tri âm ảo
từng giây
nằm đây
ai là anh

lửa nung cơ thể cho tan mỡ
người mẫu ấy mỏng 
khắp nơi

công an không cho về quê hương
bãi bờ tuổi thơ

hốc mắt thẳm
xương hàm rắn bằng vòng đời
nhe răng.

 


Nguyễn Đăng Khương
SÁCH MAI

 

hạt trong rừng sách tôi đuổi theo hình chưa tượng
có thể là lí do 
như nam kỳ khởi nghĩa hay công lý cái nào dễ thở
khát thỏa mái
cụ nguyễn cắt ngang cụ lý làm thành ngã tư
ni cô dò dẫm bước

nhớ việc ngâm quả trứng luộc trong giấm ăn mỗi sáng để ngăn đường huyết
nhân tình sanh viên thì thào tai nhau
dán mắt vào lap top

mất nhiều ngày không mặt trời tôi quen tra cứu
để bước tới sách không dễ như người nông dân làm tình dập dồn rồi ngủ
mĩ kiều việt đón chuyến hai hai giờ

dài hơn đời người rừng ca
muốn giản như chị quét rác cụ tố
ngặt thức khi thiên hạ đang mơ

vẫn cây quen thuộc ở quê còng hay nguyệt quế
nhưng nó bị lấy mất gió
chẳng chút thoảng hương xanh

về cuối hàm giang anh ấp trứng gì
cá tôm cua hay ếch
phạm vi tài đề rũ mục.

 
Nguyễn Đăng Khương

LÌM KÌM

 

Bi đát tình huống nó sẽ xơi thịt ta
không bỏ sót chân lông kẻ tóc
trôi nổi vòng trong ngoài của pháp

tôi chỉ chọn một nghề đi mây uống gió
tài sản mặt sa mạc phớt lờ
kêu ca tiền nong nàng ấy

tôi nằm dưới gót tôi nghe
rôm rả kiến chuyện trò

vợ chồng xa nhau ai cũng ngoại tình đắm mê xác thịt rồi li dị
bà ấy có sui vậy mà đề đóm bài bạc lấy trai
không ai để da cho mà gặm
dạ chỉ ánh mắt em còn sạch

co ro trong tưởng tượng
bao điều nghịch dị bên ngoài

bi đát tình huống nó sẽ xơi thịt tôi
không bỏ sót chân lông kẻ tóc
trôi nổi vòng trong ngoài của luật.


Nguyễn Đăng Khương



VƯỢT

 

Đấy là cơn đau khớp sống ánh nắng giòn tan bất kể nơi nào trên mặt đất
lướt thướt linh hồn báo chí là rác rưởi cặn bã xã hội
tát vào mắt anh vào mắt đom đóm đi ngang màn hình
giảphồng trước kì thi chim vịt
đưa đít trụi lông hất quả trứng chim sâu

ánh mắt ấy ngọt lát dao ảo giác 
đọng thuyền chuối lớp sương trong mắt trời hướng vào mắt gương
tôi hướng vào hơi thởcố duy trì ngoi ngóp
chồn hoang giết chết con gà mái mẹ sau tiếng trưa thất thanh vườn hoang

ấy nỗi sợ hãi tiếng nói ngày xưa là người yêu bây giờ là nàng ta mấy ông lạnh óc
cuộc sống độc thân cố duy trì
niềm vui sướng tự do mọi cái cứ đi vào đoạn tuyệt
hình hài cá nhân nghệ sĩ mãi không vượt thoát

cuộc cãi vã lồng lộn những viên xí ngầu
tôi xa em cái chớp mắt
bàn tay mềm nắng ánh giòn tan.

 

Nguyễn Đăng Khương



IT VÀ IF

 

Giành giựt trước khi chui hang mùa đông
gấu cái bị oán hận
bởi vô số trận bão tuyết
nó không còn cơ hội quay lại với nắm tổ ong trên tay

con kiến ấy bước lên bậc nữa làm được gì chẳng biết
nhấp nhổm đít phải lửa
tham vọng nung chảy nó

buông tay cuốc vào mây
mềm mại ban mai của tốt
chết bên nào thì hơn
phiêu diêu trong não bàn cờ gỗ

thời của nó bằng it
sau lưỡng lự phân vân 
là if vậy.


Nguyễn Đăng Khương 


MONO

 

Không cùng cho sự lựa chọn
cầm cái yên dễ gãy 
phân tán mấy mươi năm nhỏ nhặt kiếp sống khốn quẫn

mường tượng đổ gục
ruồi muỗi luôn quấy rối
cổ thụ quay về mầm hạt

hỗn độn máu đề mục nghiệm xét
muốn cứu tế bào mono nó lại chết
cuộc trường sinh

vỗ tay trước biển
học chim ý đãi tránh họa
ngủ sau ăn sau bay chậm thấp không ngả bên này bên nọ
cứu giọt sương chết đuối
quay về với quê hương vĩ đại

sáng suốt trốn chạy
cho mọi ứng dụng khát.

 
Nguyễn Đăng Khương

BẠT

 

Vôi khớp nghĩ thầm âm hóa chuyển
đau thẳm sâu quay lại đời mình
tập quên cơn mê quái ác

mặt đất lười 
lo sợ rũ mục không cần tới
ở đấy hãy nằm im nghe

vô nghĩa lý bất tử
tràn từ tứ phương
banh vết tìm xương nát trong da thịt

loay hoay lối thoát
trên đường  vĩnh cửu
cái bóng dập bầm mặt gió

ăn nhạt giảm đạm 
tăng cường tần xuất đôi cánh
đoạn tuyệt tất dây mơ quá khứ.

 
Nguyễn Đăng Khương

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 991)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1069)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1778)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5804)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5790)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13154)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29994)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81094)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20216)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 299)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”