- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ƯỚC MỘNG CỦA CHÓ ĐÁ

11 Tháng Bảy 201911:38 CH(Xem: 47863)

ca-chet-anh LE MINH
Cá chết - ảnh Lê Minh

Cái thuở cha ông gạo tiền không có

Nhưng lại nuôi chó đá giữa hồn…

             (Phùng Khắc Bắc)

 

Gọi tên con gái đến lần thứ ba trong hương khói mịt mù, Thông như sụm người bên nấm mộ chưa xanh cỏ với nhiều vòng hoa trắng đã héo rụi. Tấm thân vạm vỡ rung lên trong những tiếng nấc quả không tương xứng chút nào với dáng vẻ võ biền, nếu như không bất chợt để lộ ra những múi mỡ đã tới thời kỳ chảy xệ ra trên cằm, dưới bụng khiến người ta phải thương hại...

Hồi lâu như thế, khi tiếng chuông chùa thu không lơ lửng, Thông mới gượng đứng dậy, đi thất thểu vào làng.

Nhiều năm qua, Thông không về quê. Chỉ có đận này, đưa tiễn đứa con gái yêu dại dột vắn số, ông mới có dịp thong thả thăm thú họ hàng xa, gặp gỡ đôi người bạn cũ thời ngất ngưởng lưng trâu hò hét khản cổ. Những lúc đó, ông xuất hiện như một ông Thiện khổng lồ ngoài chùa, nén nỗi đau riêng bày tỏ mối quan tâm đến sinh hoạt mọi mặt của cố hương- dĩ nhiên là đặc biệt chăm chú tới lĩnh vực văn hóa làng xã, do thói quen nghề nghiệp... Một cách tuần tự, theo đúng quy trình, ông đi từ thư ký Ủy ban lên Vụ trưởng, rồi Thứ trưởng của một Bộ nắm giữ cả linh hồn lẫn hình thái văn hóa của toàn xã hội. Ông chẳng về quê, bởi mối dây liên hệ còn rất ít ỏi, nếu không muốn nói là chẳng còn gì - ngoài họ mạc bắn canonmới tới. Mồ mả cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, ông đã dầy công quy tập về một công viên vĩnh hằng sang trọng cách Thủ đô chưa đầy 40 phút xe du lịch đời mới. Ông đưa thi hài con gái về quê là theo lời trăng trối bằng di bút của nó. Nhớ đến di bút con gái, ông lại tối xầm mặt mũi. Ông muốn quên đi, mà mỗi ngày chúng như càng in hằn trong tâm trí mệt mỏi và hoảng loạn của ông. Và điều quái quỷ nhất là, cái khung cảnh quê hương dường đã mờ mịt sương khói trong ông chẳng hiểu sao bỗng đựơc "vén mây giữa trời", như đựơc tắm gội bằng một thứ ánh sáng mới lạ ông chưa từng biết tới, kể cả trong thời thơ ấu...

Mấy hôm trước, đi theo đám tang con gái có cả một đội quân nhạc do ông mời về, khi diễu qua cổng chùa, ông chợt thấy ớn lạnh khắp người, và một luồng ánh sáng ký ức chộp xuống tựa tia chớp - lúc ông thoáng thấy đối diện chùa là một ngôi nhà cổ, ngoài cổng nằm lặng yên một con chó đá cũ. Hình như, tự thuở nào, kiếp nào xa xôi lắm, đã có một ai nói cho ông nghe về con chó đá này... Ông nghĩ suốt từ đấy ra tới nghĩa địa. Về tới Hà Nội cũng vắt tay lên trán nghĩ cả đêm. Nghĩ mãi không ra.

Hôm nay về quê, sau khi rời mộ con gái, Thông lại đi tới ngôi nhà nọ, như một thôi thúc bí ẩn không sao cưỡng nổi. Trong ánh chiều tà của làng quê nghèo, khi nỗi xót thương con chưa dịu lại, lần đầu tiên trong đời, ông thấu hiểu thế nào là sự cô đơn và tĩnh lặng của kiếp người. Bên con chó đá hiền lành sứt sẹo phơi mưa nắng tự bao giờ đương nhấm nháp cái ánh sáng mờ mờ nhân ảnh phủ khắp thân mình, ông chợt nhớ lại rõ mồn một giọng khê nồng thuốc lào của một người đàn ông: "Nếu bất đắc dĩ mà có con đường đâm thẳng vào nhà, hay là có đền chùa ở trước nhà, thì cần phải chôn ở trước nhà một con chó đá, hoặc treo một cái gương ở trên cửa chính để yểm tà khí, một học giả nước ta đã dạy thế đấy!" Những ánh chớp lóe sáng tựa đèn Flah của cánh nhà báo những lần ông tới hội nghị cùng Bộ trưởng hay một yếu nhân nào đó… Trước mắt Thông hiện lên dần một người đàn ông khắc khổ dáng nhà nho. Ông ta xoa đầu con mực nằm khoanh bên cạnh mình và tâm tình như với một người bạn: "Mi chỉ coi được phần dương thôi, muốn canh giữ phần âm thì ta phải ''nuôi'' chó đá, hiểu chưa?" Ngôi nhà ba gian có tường đá ong bao quanh, có cánh cửa bức bàn sao mà quen thuộc, thân thương thế! Cả dãy hàng hiên chạy suốt mặt tiền nữa, ở đó có mắc chiếc võng, trên đó, người đàn ông thường nằm đọc sách và ngâm nga những câu thơ của chính mình, bên cạnh là con mực nằm ngoan ngoãn. Trong căn buồng tối tăm chất đầy sách, có hai cọc sách dày bằng giấy bản toàn chữ Nho. Có lần người đàn ông lấy ra một cuốn sách, phủ nhẹ bụi khiến con mực lúc nào cũng cuốn chân ông phải thở phì và hộc khẽ lên một tiếng như trách yêu chủ. Ông chủ biết ý, xoa đầu nó: "Thôi nào, tao xin lỗi". Nó từng chứng kiến ông chủ thắp hương thành kính, rồi cầm một cuốn sách giấy bản ố vàng ấp lên ngực khấn khứa: "Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều..."

Qua những lời trò chuyện của con cái ông chủ với hàng xóm, mực biết rõ lai lịch ông: ông từng tham gia bộ đội huyện, bị thương, khi hòa bình lập lại, ông được đi an dưỡng, rồi chuyển ngành đi học trường HTX mua bán Trung ương. Đang học thì ông bị gọi về trong cuộc "Chỉnh đốn tổ chức và cải cách ruộng đất" kinh thiên động địa, bị giam lỏng tại đình để viết kiểm thảo về tội: tham gia Quốc dân đảng, gia đình thành phần bóc lột. Xét cho cùng, ông chủ vẫn còn hơn ối người bị oan sai khác: bị con đấu tố, bị đập đầu vào tường, bị đạn Muscơtông bắn phọt óc!...

Những ngày đó, mực hay chạy tới đình, ghé mắt qua chấn song gỗ tròn nhẵn bóng để nhìn trộm ông chủ thân yêu. Còn tới đêm, nhớ ông chủ, nó lại ra cổng, đứng cạnh con chó đá để sủa lên những tiếng thê thiết như chó con lạc mẹ. Có khi, nó đứng đối diện với con chó đá để sủa, như sủa thi với tiếng kêu im lặng mơ hồ bị tru di tự thuở nào của chó đá...

Đến khi được minh oan, ông chủ được cử đi làm công tác sửa sai. Mực đã nghe ông ngâm một mình những bài thơ hồi bị giam lỏng, sau khi trải qua những năm tháng bị giặc khủng bố, tề hành hạ:

...Gậy mình đập trúng lưng mình

Đem tình giai cấp ra tình thù ta

Cũng nhiều kẻ thừa cơ hám lợi

Đẩy người ngay vào tội bất trung

Đất bằng nổi sóng đùng đùng

Nghiến răng cam chịu nỗi lòng oan khiên…

Ông còn làm cả thơ chữ Hán, đọc sang sảng rung mạng nhện:

Thập niên kháng chiến kỷ công lao

Cải cách trung truy hóa địch tào

Ư trung oan khuất thùy năng thức

Duy hữu vì nhân tại tối cao

Rồi ông ngâm nga bài tự dịch thơ:

Mười năm kháng chiến quả công phu

Cải cách liền ngay hóa lũ thù

Oan này chừng có ai hay thấu

Chỉ có cha già ở tít mù!

Những lần đọc thơ đó chỉ có mực, không chỉ là kẻ trung thành tuyệt đối mà còn là kẻ tri âm. Rồi những điều "mục sở thị", cùng những lời thơ Cảm hoài nghĩ cảnh bể dâu đã qua và thói đời trước mắt bằng giọng run rẩy thiếu dinh dưỡng mà thừa ảo tưởng chân thành của ông chủ giúp mực được biết nhiều nỗi khổ nhục của gia chủ không kém bị oan sai: vợ chồng ông phải tần tảo kiếm ăn từng bữa, trong khi đó, thuế nông chỉ có ba tạ hai thì bị đánh lên năm tạ; thóc già nộp thuế bị chê non nắng, bắt đem ra phơi lại; thiếu hai lạng cũng bị bắt lấy đủ, đành cho con hớt hải chạy về nhà lấy hai lạng nếp dành Tết nộp cho xong chuyện... Những ngày giáp hạt, cả nhà ông méo mặt với bảy miệng ăn, chạy vạy gần xa hút chết... Nhưng sau những phiền muộn, lo âu, than vãn, lòng ông bao giờ cũng lượng cả bao dung, vẫn "Ơn Đảng, Bác trước nay là thế/ Như trời bể xiết kể cho cùng". Ông tự khuyên mình và khuyên người "Chớ đem lòng thù oán", mà ngược lại, "Sao bằng đoàn kết tương lân vui vầy". Mực cảm nhận hết được điều đó qua sự trìu mến cảm thương của chủ đối với mình. Mấy đứa trẻ nhà chủ cũng yêu quý mực, coi mực như một thành viên khăng khít của cái gia đình bấp bênh về sinh mệnh chính trị và kế sinh nhai song tròn đầy tình thương và đầy ắp tinh thần giáo dục cổ truyền. Chó khôn không chê chủ nghèo. Lẽ thường là thế. Nhưng mực còn tự hào là đã được sống trong một ngôi nhà có ông chủ mang khí phách nhà nho cao khiết, như ông từng độc thoại giữa nỗi uất hận:

Chỉ muốn nuôi dân luống đợi chờ

Cứu dân, trừ bạo chẳng lơ mơ

Di xú, di hương...thây những kẻ

Ta rồi để lại mấy vần thơ...

Tiếc thay, trong một đợt đói dài sau đợt oan sai, khi đến cả thóc ranh, thóc kẹ, thóc gằn cũng chẳng còn một hạt trong nhà, con lợn nhắt phải đem cân bán, thì mực ta cũng lả dần đi vì đói, rồi ốm chết. Mực đựơc đầu thai vào một gia đình cốt cán bần cố nông...

Thông như sực tỉnh giấc mộng Kê vàng. Mới đó mà đã hơn một Hoa Giáp! Hóa ra, kiếp trước của ông là một con chó mực nghèo và trung thành tại chính làng quê chôn nhau. Mắt ông bỗng cay sè, tâm hồn chấn động. Không phải vì một mối cảm động nào. Không phải vì sự nhục nhã. Không phải vì nỗi xót thương cho thân phận mình hay thân phận những người chủ tốt bụng... Đúng hơn, chính là bởi tất cả những cái đó nhào trộn dữ dội trong chiếc cối xay thời gian không phân biệt quá khứ, vị lai, hiện tại. Cũng chính từ chiếc cối xay chẳng rõ ai đã phát minh ra này, ông đã vô tình đúc rút được bài học nhân sinh cay đắng: sự trung thành cũng có khi trở thành trò cười cho thiên hạ, tệ hơn, hóa ra vô nghĩa. Tuy thế, sự trung thành gần như không pha trộn, lai tạp, đúng hơn là không suy xét của một con chó giữ nhà tựa như một tấm gương thanh khiết giúp nó nhận rõ biết bao là sự bất công, sự tương phản trong cái làng nó sống: giữa khi có những người như ông chủ ấp ủ bao điều tốt đẹp cho đồng loại, từng đổ máu cho đại nghiệp Quốc gia mà luôn luôn túng thiếu nợ nần, thì lại có không ít kẻ chỉ to mồm hô khẩu hiệu, nhơn nhơn vu khống và vơ vét nhanh như chảo chớp, trong nhà lúc nào cũng thịt thà bánh trái ê hề. Con cháu họ mặt mũi hý hửng, tươi tắn, khôn ngoan, không như lũ con của người chân thành ôm bồ chữ Thánh hiền và mớ lý tưởng cao siêu này, lúc nào cũng ngơ ngác vụng dại như cọng sắn khô, xanh mướt như tàu lá... Thế rồi, như một thứ bản năng dần nâng lên thành triết lý não lòng, Thông đã hoàn toàn sống trong ký ức lộn ngược của kiếp trước. Ông đã dần biết cách tạo ra hai mặt, ba mặt, thậm chí bốn mặt của Lòng Trung Thành, ngoài ra, còn biết lấy sự trung thành của con chó để lợi dụng, làm chiêu bài hữu hiệu trong nhiều tình huống. Gió chiều nào theo chiều ấy chỉ là lối sống quê mùa! Trung thành theo kiểu bám đuôi voi hít bã mía cũng cổ lỗ rồi! Và đầu thai ở kiếp người, một con chó lên đẳng cấp Người cần biến sự Trung Thành hóa ra một thứ nghệ thuật siêu đẳng, thế mới bõ làm kiếp người... Đó là những tiếng thầm thì, đúng hơn, những lời kêu gào tự đáy sâu tiềm thức suốt một cuộc đời thường trực tâm niệm "quyền lực là chiến trường" của Thông.

Thời đại học, Thông đã phát huy được tối đa lòng trung thành và bản năng đánh hơi của loài chó bằng việc hăng hái tham gia vào đội Thanh niên Cờ đỏ: Thông luôn được nêu gương thành tích tóm được quả tang những đôi trai gái sinh viên ôm hôn nhau ở xó tối, bụi cây; đặc biệt là sự thính nhạy phát hiện ra những bài thơ, câu thơ "có vấn đề" chép tay hoặc truyền tai, các tác phẩm văn học hay chính trị "ngoài luồng" không được đưa vào giáo trình chính thống để cung cúc báo cáo đều đặn lên chi bộ lớp, đảng bộ khoa - trường. Chó vốn không có khả năng diễn xuất; con người cũng chỉ số ít có được khả năng này, nhưng Thông thì được trời thương, ban cho trọn vẹn. Khi có bạn học bị kiểm điểm lên bờ xuống ruộng, rồi bị đuổi khỏi khoa vì tội lưu trữ, truyền bá văn chương nghệ thuật phản động bôi nhọ chế độ, chính Thông là người duy nhất trong cuộc gặp chia tay ôm chầm lấy người bị anh ta hại mà khóc rưng rức. Khóc thực, chứ không cần đến Glysêrin tạo nước mắt giả mà anh bạn đạo diễn của Thông sau này hay dùng tới (để cho khuôn mặt khi khóc đỡ méo mó phản cảm trong ống kính!). Thông còn biết cách bày tỏ lòng trung thành và năng khiếu diễn kịch trước cả các chị nấu bếp, khiến bao giờ anh ta cũng được dành riêng một miếng cơm cháy chảo gang to đùng - niềm mơ ước của đa số thanh niên sinh viên cái thời mà họ phải cố thực hiện tốc độ ăn tập thể bát/giây để khỏi ngất xỉu vì đói trên giảng đường.

Sau đó, Thông được cử đi thực tập sinh tại một trường đại học danh giá nước ngoài, nhờ "những thành tích xuất sắc" mà chỉ ban lãnh đạo nhà trường nội địa mới đánh giá được hết tầm quan trọng của chúng. Thời gian này, Thông bắt đầu làm thơ, như một hành động tự thưởng, hơn thế, một chuyện xả hơi. Xả hơi sau những cuộc mua bán điểm, và chạy chợ như hầu hết các lưu học sinh Việt để mong có đôi tệp Đô-la gài lưng phòng bị. Nhưng khác với những "bộ đội"(1) Việt bình thường ở các chợ hàng hóa trời Tây, Thông còn chú ý "đào công sự" cho sân sau, chuẩn bị chu đáo cho những cuộc "nhảy dù" vào thế giới quyền lực sau này khi có thời cơ. Và cũng không giống các nhà thơ khác, thơ ca đối với Thông thực ra chỉ là một phương tiện lăng-xê tên tuổi tốt nhất, và tạo điều kiện lý tưởng đánh vào tung thâm lãnh địa của những kẻ chuyên gây sự rắc rối trong những "vấn đề nhạy cảm". Nhưng chỉ cần ông "hắt hơi" ra một bài thơ, hay chỉ một ý thơ nào đó là đã có một vài nhà phê bình có số má săn đón để viết lời bình; rồi biết bao đàn em, nhà doanh nghiệp xoắn xuýt lấy làm vinh dự được tài trợ in thơ, được tổ chức trình diễn thơ - nhạc thật hoành tráng cho ông ở những nơi mà các thi sĩ, nhạc sĩ thứ thiệt còn lâu mới dám mơ tới. Có người đang năn nỉ gạ xin được làm phim truyện nhiều tập về cuộc đời của ông, với tư cách là một nhà văn hóa thời đổi mới có đóng góp nhiều cho Đất Nước...

Và sau bao cuộc chinh phạt tận tụy thậm chí "bảo hoàng hơn vua" vì sự nghiệp làm trong sạch tư tưởng xã hội, Thông đã đựơc hưởng hầu hết những gì mà tiền tài danh vọng đã mời gọi, hứa hẹn: biệt thự, xe Lesus, những chuyến công du - hội thảo xuyên châu Âu, châu Á, hàm giáo sư, bằng tiến sĩ, và lũ đàn em trung thành đang mở chiến dịch để Thông sẽ có cả danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân nữa. Dường như mọi chuyện đều hanh thông, suôn sẻ, mọi con đường tới đích đang rộng mở với Thông.

Nhưng, ở đời ai học được chữ ngờ!

Trong những ngày cả xã hội tựa một cơn bão từ lớn tích tụ hàng triệu nỗi lo âu, sợ hãi, tức tối, căm giận trước thảm cảnh cá chết biển chết khắp miền Trung, có một nhà báo trẻ đứng ra cùng một nhóm các nhà báo, kỹ sư, luật sư, MC, nghệ sĩ trẻ dựng lên cái gọi là "Diễn đàn tìm sự thật cá chết". Đúng là một lũ ngựa non háu đá, thích chơi trèo tự khẳng định mình mà làm tổn hại lợi ích quốc gia một cách khủng khiếp mà chúng không hề biết! Nhưng trước khi tìm ra được chút ít sự thật mà nhiều người đang mong đợi thì chúng bay cần phải được một bài học về sự lễ độ, thậm chí sẽ phải lao đao suốt đời vì đã không tuân thủ đạo đức nghề nghiệp giữa lúc vận mệnh quốc gia treo đầu đẳng! Thông bí mật chỉ đạo mở chiến dịch để truy quét, hạ bệ bọn trẻ dám liều mạng vuốt râu hùm kia. Đó là nghề nghiệp gia bản thành thạo của Thông. Dĩ nhiên, ông chẳng ra mặt. Chỉ cần ông vạch ra vài cái ý cơ bản là sẽ có lâu la răm rắp thực hiện một cách bài bản, có hệ thống lý luận vững chãi, nói chung là có học thức, trên cơ sở thả hỏa mù bằng tất cả những gì là mode thời thượng: phản biện với ngụy biện, tự do với dân chủ, tương tác truyền thông với hiệu ứng cánh bướm... Chỉ sau hai ngày, một thời gian tên lửa trong cái xứ sở cái gì cũng chậm như rùa, một chiến dịch như thế đã được tung ra trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng. Ông chỉ cần ngồi nhà bật laptop, nhâm nhi ly Napoleon thượng thặng mà khoái chí rung đùi, vuốt cằm (tiếc là Thông chẳng có sợi râu nào!).

Bỗng có một Status đập vào mắt Thông: "Này, ông Lý Thông! Chúng tôi biết là trong chiến dịch tồi tệ này, ông là người đứng sau múa gậy chỉ đạo. Chính ông và cả gia đình ông cũng đang bị đe dọa bởi một cái chết từ từ, thầm lặng nhưng khốc liệt đang treo trên đầu dân tộc này, thế mà sao ông chưa tỉnh ngộ, còn giơ bàn tay dính máu để đàn áp những thanh niên yêu nước thực sự, bằng chữ nghĩa cũng nhơ bẩn như tâm hồn ông? Thất vọng về ông quá! Đau xót cho những người có quyền lực như ông quá!"

Thông ném mạnh cái ly xuống đất, gầm lên, song tiếng gầm lại có gì the thé, tồi tội, đáng thương, tựa tiếng sủa của một con chó cưng quý tộc chỉ quen được vuốt ve chứ chưa bị mắng mỏ hoặc roi vọt bao giờ. Thông lập bập mở di động, rồi gào cho một đàn em luôn túc trực chờ lệnh ông: "Mày...Mày...Truy tìm ngay cái fây-búc có nic-nêm NTL! Nhanh...lên!"

Chỉ mấy ngày sau, Stt đó đã tràn ngập thế giới phẳng, và chiến dịch lịch sử do Thông khởi xướng, chỉ đạo mang danh mới của đám đông là "Chiến dịch Lý Thông". Tên tuổi ông nổi như cồn, và "đá" ném vào cái tên tuổi ấy nếu quy thành lượng vật chất chắc xây đủ mấy cái lâu đài!

Yến, con gái út của Thông đang chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông trung học. Cô bé bị hành hạ khốn khổ trước những cái nhìn khinh thị, chế diễu, và những lời xì xầm của bạn bè: "Này, bộ phim Lý Thông cướp công và hãm hại Thạch Sanh đời mới bao giờ lên sóng nhỉ?" - "Xem nào, công chúa của kẻ sắp biến thành bọ hung vì hãm hại người vô tội có gì khác người không"- "Cạch nó ra nhé, kẻo mang vạ vào thân. Bố nó là kẻ gắp lửa bỏ tay người đấy"-  "Ô, thế ra lớp mình cũng có hậu duệ của Gia-ve và Lý Thông cơ à?"... Bọn trẻ thời nay, dù có bị "bịt mắt bắt dê" để nhồi sọ bao điều ngớ ngẩn, hay bị lôi cuốn bằng đống trò kiểu "Tinh thần thể dục" của Nguyễn Công Hoan, cũng đã bắt đầu biết quan tâm đến thời cuộc theo cách cốt lõi và chân thực nhất có thể - chứ không chỉ theo định hướng của ông thầy và cha mẹ nữa.

Nhưng bọn trẻ của cái lớp 12A đó không ngờ nổi rằng, cùng với dư luận xã hội, chúng sẽ vô tình phạm một tội ác: đẩy Yến đến cái chết tức tưởi, thảm thương. Cô bé chịu đựng sao nổi hàng trăm ngàn mũi dùi chĩa vào cha mình, và cũng không thể nào chấp nhận nổi cha mình đã là kẻ đốn mạt như thế. Em tìm đến sự giải thoát tiêu cực như hầu hết những người có lòng tự trọng song yếu đuối và bất lực. Ước nguyện cuối cùng của em vỏn vẹn: "Bố mẹ tha lỗi cho con. Con là đứa con bất hiếu. Song con không thể chịu đựng nổi nữa. Bố đã làm gì mà để cả xã hội khinh ghét, phỉ nhổ như thế? Con tin là bố có lý do chính đáng của mình. Nhưng bằng trí óc non nớt, con lại nhận thấy những người lên án bố có lý - cái lý cần thiết cho cộng đồng. Mong bố thực sự nghĩ tới bọn trẻ chúng con... Vĩnh biệt bố mẹ. Khi con chết, bố mẹ hãy đưa con về quê. Con gái bất hạnh của bố mẹ".

Mẹ Yến đã gần phát điên, gào thét, cào cấu chồng kịch liệt. Còn Thông đã dìm mình trong hàng lít rượu tây rượu ta để mong xoa dịu vết đâm tử thương vào tim mà ý thức tỉnh táo duy nhất còn nổi lên được phều phào: "Trời ơi, ta đã bị quả báo thật rồi sao?".

Thông định rời con chó đá, ra mộ con gái để tâm sự, thành khẩn tạ lỗi với nó. Nhưng đôi chân ông đã trở nên nặng trịch. Không có giọt rượu nào nữa vào lúc này, sao tâm trí ông lại quay cuồng, điên đảo. Bỗng dưng, ông cảm nhận được đến tận cùng cái mát lạnh của nền đất nện quen thuộc ngày xưa... Bất chợt văng vẳng bên tai ông mấy câu hoài cảm của ông chủ cựu binh-nho gia: "Di xú, di hương... thây những kẻ/ Ta rồi để lại mấy vần thơ".Rồi, như hầu hết những người Việt thực sự xưa - nay vào lúc hệ trọng hay nguy nan nhất, ông bất giác hướng tâm về đức Phật: "Cầu xin đức Phật, cho con trở lại làm kiếp con mực ngày xưa... Một kiếp bình an, dù bần hàn song thanh thản, không có thù hằn, đố kỵ, độc ác, với lòng trung thành nguyên thủy thuần hậu nâng đỡ cho hồn người..."

Dường đấng cao xanh cũng hiểu được ước nguyện chân tình của Thông. Toàn thân ông dần hóa thành một con chó đá. Có điều, nó không mang dáng hình của con chó đá cũ, mà tạc vào không gian một con chó sói căng mình lên, nhe nanh uất hận tru về nơi hoang dã...

Các ngôi chùa Việt thường có hai tượng hộ pháp Kim cương Thiện - Ác. Tại một ngôi nhà cổ bình dị ở một làng quê vốn nghèo xác và đang kiệt quệ kia, giờ đây đang hiện diện hai con chó đá cũng mang biểu tượng Thiện - Ác như vậy để bảo vệ phần âm đức, và mong răn dạy cho người đời chút bài học về Tình thương và Ân nghĩa đang mất dần đi.

____________

1. Tiếng lóng chỉ những người Việt từng lăn lóc buôn bán ở các chợ hàng hóa tại các nước Đông Âu, Liên Xô (cũ)

 

Hà Nội, Những ngày Biển chết dọc miền Trung

 

Mai An NAT

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 147828)
d ấu vết bàn chân trên lối đi không màu nhiều nỗi buồn trong anh đã nhập viện không có chỗ nằm sao nỗi buồn không chết ngay trên đường nhập viện mà đòi theo cái chết khốn nạn đời anh
21 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 140176)
B iển tràn vào thành phố dải Phù Tang mặn chát lệ mùa khô ... Họ đã chết nhưng những nhành hoa Anh Đào vẫn thăng hoa nỗi khốn khó trước ngọn Phú Sĩ
20 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 131354)
T ôi trở về ngôi nhà của gia đình sau hơn hai mươi năm xa cách. Ngôi nhà chừng như không thay đổi mấy ở mặt tiền. Vẫn ba gian tường quét vôi trắng, điểm một vài khung cửa khép hờ, một chái bếp ở hiên sau và mảnh sân con vuông vức nơi lối ra vào. Dấu tích của thời gian chỉ ẩn hiện lờ mờ từng đốm ố trên vách tường cũ, đã ngả màu cháo lòng và loang lổ đây đó như những vệt mụt nhọt thâm sâu...
19 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 118230)
. . Với tôi, thơ không rao truyền một ngôn ngữ nào to tát: thơ chỉ là tâm sự, là “một chút riêng tư”trao gởi người thân, bạn bè, những kẻ đồng hành biết, và sẽ quen.” . . .
17 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 99336)
C húng tôi tiếp đón những người khách đầu tiên của chương trình 500 lịch sử phỏng vấn, với niềm hân hoan xen lẫn xúc động. Tưởng rằng sẽ rất bỡ ngỡ và khó khăn khi phỏng vấn một người lạ về những gì rất riêng tư, thế nhưng mọi việc đã trôi qua thật êm đềm, nỗi thương đau cũng như niềm hạnh phúc của từng người đã được chia sớt trong ân cần và thương cảm.
15 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 97010)
.. . M ắt thuyền của Nguyễn Xuân Tường Vy là một minh chứng về kiếm tìm và kiến tạo bản sắc của một cây bút. Mười hai tác phẩm của chị đã cho tôi những trải nghiệm thú vị. Khi dấn bước vào con đường văn chương chữ nghĩa, có lẽ ai cũng mong cho mình sẽ có được bước khởi đầu thuận lợi. Song con đường đến thành công thường luôn chứa đựng nhiều thử thách. Một khi được tôi luyện qua thử thách, mỗi cây bút sẽ trưởng thành hơn, vững vàng hơn: “ Có thể vượt qua thế giới lớn lao của loài người, không phải bằng cách tự xóa bỏ mình đi mà bằng cách mở rộng bản sắc của chính mình ” (R. Tagor)
15 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 113952)
N hư nhiều người, khi đọc bài “Tìm Thăm Nguyễn Hữu Đang” của Phùng Quán, chúng tôi rất xúc động. Cụ là một người xuất sắc về đủ mọi lãnh vực: văn chương, khoa học, chính trị, thông thạo nhiều thứ tiếng, mà suốt hơn 50 năm qua đã bị đọa đầy đến cùng cực...
11 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 148286)
Ơ i Hoài Khanh đang còn ở Biên Hoà tóc bạc phơ nhớ đêm giáng sinh nào lên Đà Lạt thăm Thiện Ơi Hoàng trúc Ly khuất mặt những câu thơ Thiện ngợi ca bởi Thiện là thi sĩ là hoạ sĩ lạ lùng kia đã đi qua rồi đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (7) Thiện đã về Thiện đã tới.
11 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 125067)
N hà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng, dịch giả, giáo sư, cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện vừa qua đời vào ngày 8 tháng 3 tức thứ ba vừa qua tại Houston Texas, hưởng thọ 71 tuổi, theo Cáo bạch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ cũng như sự xác nhận của gia đình.
11 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 116861)
G iấc mơ thổ kể chuyện một lũ người hoá điên vì ám ảnh quá khứ. Quá khứ ở trong mọi ý nghĩ, đè nặng lên từng số phận. Quá khứ hằn dấu lên ngôn ngữ, trong những lời nói đã trở thành thói quen, được phát ra như những khẩu hiệu trơ cứng, như trong câu của Quý với Vĩnh lúc đi săn rồng “ Khẩn trương lên giặc lái đến bây giờ ”. Quá khứ ở trong từng thức ăn, đồ uống, trong giải trí, trong thịt rồng, tim phượng, trong “rượu Armagnac Marquis de Caussade, đóng chai năm 71” , và trong “trận World Cup của năm 66” .
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3868)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13302)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19668)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18651)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1659)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1820)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2342)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2444)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1490)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2226)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1962)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2014)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1397)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2442)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2648)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2389)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 267)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 823)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1059)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1143)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6437)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15905)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32168)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38871)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1501)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13905)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6924)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10737)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9977)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10051)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10847)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3472)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11161)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10372)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi