- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CON BƯỚM CHẾT TRONG SÁCH VÀ TÂM SỰ CỦA ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU

12 Tháng Sáu 20196:05 CH(Xem: 48032)


THANG 3- PHOTO UL
Tháng Ba - ảnh UL

 

Bài thơ chữ Hán Điệp tử thư trung (Con bướm chết trong sách) được xếp ở sát cuối phần Làm quan ở Bắc hà (1802-1804), trong Thanh Hiên thi tập.(1) Có thể nói đây là một trong những bài thơ hay nhất, và kỳ lạ bậc nhất của Tố Như, khi ông chưa tới tuổi “tam thập nhi lập.” Hay và kỳ lạ, song xưa nay nó mới chỉ được điểm qua, chưa hề được phân tích bình giải một cách thấu đáo. (Trong khi, bài Độc Tiểu Thanh ký xếp liền sau đó lại được khai thác khá kỹ trong hàng chục bài viết - ở các bậc phổ thông, đại học và nhiều diễn đàn văn chương). Có lẽ, bởi tính chất kỳ lạ và trừu tượng đến khó hiểu của nó?

     Hình ảnh con bướm chết khô trong trang sách vẫn được coi là biểu tượng của tình yêu sách vở, lòng đam mê văn chương của Nguyễn Du. Hiểu thế không có gì sai. Nhưng vì sao lại là con bướm chết khô? Con mọt sách và lửa đom đóm có liên can gì ở đây? Có điều gì khiến hồn phải tàn, rồi phải không lệ khóc cho văn chương? Cái duyên lưu lại với sách thực ra là gì?... Hàng loạt ký hiệu nghệ thuật quanh hình ảnh con bướm chết khô, trong hệ thống cảm xúc - tư tưởng của Nguyễn Du ở những bài thơ cùng loại, đã giúp chúng ta hiểu thêm được điều gì trong chiều sâu tâm hồn người nghệ sĩ lớn, cùng tuyên ngôn của ông về giá trị cuộc đời, về văn chương nghệ thuật...? Xem ra, tất cả những điều đó vẫn còn nhập nhoạng như ta nhìn sự thật bằng lửa đom đóm.

Điệp tử thư trung

Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương,

Tạ khước phong lưu vị thị cuồng.

Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch,

Tàn hồn vô lệ khốc văn chương.

Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng,

Huỳnh hoả nan hôi cẩm tú trường.

Văn đạo dã ưng cam nhất tử,

Dâm thư do thắng vị hoa mang.

蝶死書中 

芸窗曾幾染書香,

謝卻風流未是狂。

薄命有緣留簡籍,

殘魂無淚哭文章。

蠹魚易醒繁華夢,

螢火難灰錦繡腸。

聞道也應甘一死,

淫書猶勝為花忙。

Dịch nghĩa

                  Con bướm chết trong sách


Thư phòng bao lâu nay nhiễm hương thơm của sách,

Từ bỏ vị phong lưu không thể cho là dại.

Mệnh tuy bạc, nhưng cũng có duyên lưu lại với sách,

Hồn tàn không có nước mắt khóc văn chương.

Con mọt sách dễ tỉnh giấc mộng phồn hoa,

Lửa đom đóm khó đốt cháy được tấm lòng gấm vóc.

Được nghe đạo lý rồi chết cũng cam,

Ham mê sách còn hơn mải miết đắm đuối vì hoa.

             Vương Trọng dịch thơ:


Lâu rồi được sách ướp hương

Phong lưu từ bỏ chẳng cuồng dại đâu

Còn duyên, với sách lưu sau

Hồn tàn, không lệ khóc sầu văn chương

Mọt kêu dễ tỉnh giấc vàng

Lòng vàng, lửa đóm đố làm sao thiêu?

Được nghe đạo, chết cũng liều

Ham mê sách vở hơn nhiều mê hoa.

Chữ nghĩa thì đã bày ra cả đó rồi, dường không có chỗ nào uẩn khúc để từ Hán tự sang giải nghĩa tiếng Việt làm người đọc phải băn khoăn tranh luận nhiều, như bài Độc Tiểu Thanh ký. Vấn đề tưởng như chỉ là giải mã các hình ảnh vừa có thực, lại vừa mang ý nghĩa tượng trưng, có tính biểu tượng. Có nhiều con đường để khám phá bài thơ về các mặt Nội dung - Tư tưởng - Hình thức, và có một cách khá mới mẻ là phương pháp phê bình tâm lý (psychocritique) của Charles Mauron, cùng các khái niệm của phân tâm học như: “ám ảnh”, “mạng lưới”, nhất là “huyễn tưởng dai dẳng”- hay là HUYỀN THOẠI CÁ NHÂN, “là một ám ảnh luôn luôn ở phía sau tư duy của người sáng tạo”. (2) Phân tích bài thơ này, liên kết với một số bài thơ, câu thơ khác và chồng văn bản giữa chúng sẽ giúp cho việc học tập nghiên cứu thơ văn Nguyễn Du trong nhà trường thêm thuận lợi, và sau đó góp phần làm sáng tỏ “Huyền thoại cá nhân” của Nguyễn Du trên hành trình sáng tạo nghệ thuật.

     Trong bài thơ có hai hình ảnh trung tâm: Bướm và Sách; các hình ảnh khác sẽ là vệ tinh xoay quanh thi đề chính: Con bướm chết giữa trang sách.

     Văn thơ cổ có nhiều điển tích giấc mơ dùng làm thi liệu, trong đó có liên quan tới điển tích Trang Chu hóa bướm: Hồ điệp, Giấc bướm, Giấc hồ (Khúc đâu đầm ấm dương hòa/ Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh. Truyện Kiều; Giấc hồ nửa gối mơ màng/ Chiền đâu đã lọt tiếng chuông mái tường. Hoa tiên). Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm bay nhởn nhơ, khi chợt tỉnh dậy lại thấy mình là Trang Chu. “Không biết là có phải Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm hay là bướm nằm mộng thấy mình biến thành Trang Chu” (Nam hoa kinh). Sau này một nhà văn của Tự lực văn đoàn đã lấy cảm hứng “Hồn bướm mơ tiên” để viết thành cả một cuốn tiểu thuyết. Hình ảnh Giấc bướm có “từ trường” giàu khả năng liên kết với các hình ảnh như trướng huỳnh ( màn có ánh sáng đom đóm), song huỳnh (cửa sổ có ánh sáng đom đóm) dùng chỉ phòng học, rộng hơn là việc học tập (Nhặt thưa trăng rọi đầu cành/ Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu. Kiều; Lưu liên khi lại huỳnh song/ Gương nga đã gác non sông nửa vùng. Hoa tiên). Nằm trong hệ thống này còn có Vân song (thư phòng), Thư trai (phòng văn), Song hồ ( cửa sổ dán giấy), Song sa (cửa sổ treo rèm bằng sa), v.v. Theo các nhà khoa học Pháp làm Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, đối với phần đông nhân loại, Bướm tượng trưng cho sự hồi sinh, riêng trong tâm thức phương Đông nó còn mang ý nghĩa mùa thu, sự trường thọ, còn trong hệ biểu tượng Kitô giáo nó tượng trưng cho linh hồn đã trút bỏ được cái vỏ xác thịt của mình; phân tâm học hiện đại cũng nhìn thấy ở con bướm một biểu tượng về sự tái sinh.(3)

     Còn về Sách, trong ba tập thơ chữ Hán, Nguyễn Du đã có hàng chục lần nói tới Sách và đọc sách, lần nào cũng đầy cảm xúc, như nguồn nuôi dưỡng chủ yếu của tâm hồn ông, như người bạn thân thiết, nguồn an ủi lúc cô đơn bần hàn, thậm chí như một thứ định mệnh gắn với đời mình. Sách, với Nguyễn Du, có sự giao cảm giữa “người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa.” (Mộng Liên đường, Bài tựa Đoạn trường tân thanh)(4). Sách, vốn là biểu tượng của tri thức và sự minh triết, còn là biểu tượng của vũ trụ, với cuốn Sách Đời, Cây Đời trong sách Khải huyền (của Kinh thánh) mang những thông điệp của Chúa Trời.(5) Trong sách Khải huyền, Thiên sứ tay cầm cuốn sách nhỏ đưa cho người đời ăn, ngọt như mật nhưng rồi bụng lại đắng, bởi vì đọc sách rồi cần phải “nói lời tiên tri về nhiều dân tộc, nhiều nước, nhiều thứ tiếng nữa…”(6)- những lời “tiên tri” trĩu nặng lo âu và tình thương xót, khiến ta chợt nhớ đến hình ảnh Nhà Tiên tri của thi hào Nga A. Puskin; và Nguyễn Du của chúng ta, ở cùng thời đại “bạo tàn” ấy, khi lo mãi chuyện nhân thế nghìn năm trước khi chết (Thiên tuế trường ưu vị tử tiền. Mộ xuân mạn hứng), phải chăng cũng xuất phát từ sự gặp gỡ vô tình giữa hai trái tim nghệ sĩ vĩ đại: Đi khắp năm châu bốn bể gần xa / Đem lời nói đốt cháy lòng thiên hạ (Nhà Tiên tri -Thúy Toàn dịch).(7)

     Đây là bài thơ mượn hình ảnh con bướm đã chết để nói về mình, về đời, không phải là thơ vịnh con bướm (mà truyền thống thơ cổ Việt Nam thì hay ngâm vịnh, cái gì cũng có thể vịnh được: vịnh cái chổi, vịnh cái gương, cái lược…); đúng hơn là nhân có con bướm chết khô tìm thấy trong trang sách cũ mà chợt nảy sinh cảm hứng, rồi suy ngẫm. Nhưng nói với mình, nói về mình, thông qua sự quan sát con bướm chết mà tựa như đối thoại trực tiếp với nó… Bài thơ đậm màu siêu thực, kỳ ảo, Liêu trai, thực mộng lẫn lộn, song có lẽ chỉ bằng cách thức này nhà thơ mới bộc bạch được đến tận cùng điều muốn gửi gắm. Có thể nói, bài thơ Điệp tử thư trung là minh chứng hùng hồn cho một quy luật quan trọng của Mỹ học: “Sự cho vay, sự du nhập, sự nhập cảm của tâm hồn vào các hình thức không hồn chính là điều chủ yếu được bàn đến trong mỹ học.”(8) Và nếu theo Hêghen: “Từ lâu, nhiệm vụ quan trọng nhất của nghệ thuật vẫn là tìm những tình huống thú vị. Tức là những tình huống nào cho phép ta bộc lộ những hứng thú quan trọng và sâu sắc, cũng như cái nội dung chân thực của tâm hồn”(9) thì quả là Nguyễn Du đã tìm được một “tình huống thú vị”, và độc đáo nữa: con bướm chết trong trang sách. (Có nhà nghiên cứu cho rằng: chữ điệp với nghĩa con bướm có thể là một dị bản; nội dung bài thơ cho thấy chữ điệp ở đây rất có thể là điệp trong trùng điệp, tức nhan đề bài thơ nên được hiểu là chết nhiều lần trong sách.(10) Theo tôi, đó là một suy diễn khá chủ quan, và nếu quả thực như thế, bài thơ sẽ nghèo đi rất nhiều về hình tượng và cảm xúc, còn bài thơ có thể là lẫn của một tác giả nào đó chứ không phải là Nguyễn Du!)

      Chúng ta hãy đi vào câu chữ cụ thể.

      Câu thừa đề:

Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương - Thư phòng bao lâu nay nhiễm hương thơm của sách.

     Căn phòng của Nguyễn Du, như không ít lần ông miêu tả trong thơ trữ tình, rõ ràng là không sang trọng gì: Trước cửa nhà ẩn dật toàn là núi xanh. Cạnh gối, có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật… Suốt ngày, bếp không đỏ lửa (Xử sĩ môn tiền thanh giả san/ Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt/ /Táo đầu chung nhật vô yên hoả. Tạp ngâm2), nhưng lại là nơi trong sạch bụi bặm không thể lẫn vào (Bất dung trần cấu tạp thanh hư), và cũng là nơi lưu giữ “hương thơm” của Sách, được “nhiễm thư hương.” Không phải là hương thơm được tẩm ướp vào sách, đó là hương thơm toát ra từ một thứ văn chương mà “Tình là gốc, lời là cảnh, thanh là hoa, nghĩa là quả: cảm động lòng người trước hết không gì bằng tình, đầu tiên không gì bằng lời, tha thiết không gì bằng thanh, sâu xa không gì bằng nghĩa” (Bạch Cư Dị).(11) Vẻ đẹp của Đạo lý thông qua ngôn từ đó đem lại ý nghĩa lớn lao cho cuộc sống nhiều đau thương buồn khổ của Nguyễn Du. Cả đời ông đi tìm thứ văn chương ấy, chắt chiu, mài bút, khổ luyện, và đã trở thành một trong “An Nam ngũ tuyệt” của văn đàn một thời.

     Câu phá đề:

Tạ khước phong lưu vị thị cuồng- Từ bỏ vị phong lưu không thể cho là dại.

     Hai chữ Phong lưu (風流), theo từ điển Hán Việt Đào Duy Anh, trong văn cảnh này là: thói riêng, tinh thần riêng (của con bướm) giống như ngọn gió hay lang thang đây đó, như nước chảy trôi dạt không phương hướng (lưu phong dư vận). Phong lưu trong văn cảnh này còn có ngụ ý là cuộc sống giàu có, địa vị xã hội cao. Khác với các danh từ: thần thái, phong vận, phong tư, phong thái... (Còn chữ Phong 豐 , tức dáng sắc đẹp tốt - theo ĐDA, nếu kết hợp với Nhã 雅 trong Kinh Thi gọi là Phong nhã - người ta gọi những việc văn chương là Phong nhã; còn kết hợp Phong 豐 với Nhân 人 tức là Thi nhân).

     Như vậy, câu thứ hai, kết hợp với câu mở đầu cần hiểu: Việc buộc phải từ bỏ thói hay đi rong chơi nhởn nhơ (như con bướm) để sống trong cái không gian đẫm “thư hương” cao quý kia đâu phải là dại, theo cách luận Dại - Khôn của người đời, tựa như Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ - Người khôn người kiếm chỗ lao xao! Hơn nữa, sau nhiều năm tháng phiêu bạt giang hồ đầu sông cuối bãi, thi nhân cũng cần có lúc dừng lại, không chỉ để nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, mà để lắng lại, để sàng lọc lại biết bao tích lũy của tâm hồn - trong đó có không ít những câu hát thôn dã giúp ta hiểu được tiếng nói của kẻ trồng gai trồng dâu và thỉnh thoảng nghe tiếng người khóc như buổi chiến tranh ngoài đồng nội (Thôn ca sơ học tang ma ngữ/ Dã khốc thời văn chiến phạt thanh.Thanh minh ngẫu hứng). Đó cũng là lúc, hết nghiệp chướng mới thấy tấm lòng xưa nhẹ nhõm: Tâm sự anh hùng đã nguội lạnh, không còn nghĩ đến chuyện rong ruổi, Đường danh lợi làm luỵ đến sự khóc cười. Người thì tiều tuỵ, nhưng xuân vẫn cứ đẹp (Anh hùng tâm sự hoang trì sính/Danh lợi doanh trường luỵ tiếu tần/ Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo. Xuân tiêu lữ thứ)…

     Hai câu thực:

Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch - Tàn hồn vô lệ khốc văn chương - Mệnh tuy bạc, nhưng cũng có duyên lưu lại với sách. Hồn tàn không có nước mắt mà khóc văn chương, hồn tàn khóc văn chương không nước mắt.

     Câu đầu thì cũng khá dễ hiểu: Con bướm tuy yểu mệnh, bạc mệnh nhưng lại được lưu lại như một tiêu bản giữa các trang sách, đúng là cái “hữu duyên”- như chính nhà thơ đối với văn chương lâu nay mà ông coi là Văn Đạo. Mỗi khi Giật mình mình lại thương mình xót xa (Kiều), Biết cùng ai bày tỏ niềm cảm xúc từ trong đáy lòng (Trung tình vô hạn bằng thùy tố. Hoàng Hạc lâu), ông đã có văn chương làm bầu bạn, làm nơi giải thoát. Bởi lẽ chưa từng có chuyện văn chương gây nghiệp chướng, miễn là không để cho bụi bặm lẫn vào nơi trong sạch (Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng/ Bất dung trần cấu tạp thanh hư. Ngọa bệnh). Cái hữu duyên này đối nghịch với mọi điều sinh nghiệt chướng cho ông mà ông gặp không ít trên đường đời. Con bướm thực may mắn khi được lưu cùng sách - cũng có nghĩa lưu cùng những giá trị bất hủ nằm trong sách. Nhưng câu thứ hai của Thực mới là “hóc”, có thể nói “hóc” vào bậc nhất trong thơ chữ Hán Nguyễn Du: Hồn tàn vì lẽ gì? Tại sao lại không có nước mắt để mà khóc văn chương nữa? Nước mắt của ai? Cái gì tạo ra sự khác biệt trong cái Khốc (khóc thương thống thiết thành tiếng) ở đây với cái Khấp ( khóc chỉ có nước mắt mà không ra tiếng) ở Độc Tiểu Thanh ký? Và ở đây có thể có hai cách hiểu: a. Theo truyền thống, phụ thuộc vào những người đã dịch nghĩa và dịch thơ: Không có nước mắt để khóc văn chương (Hồn tàn không lệ khóc văn chương),  b. Khóc cho văn chương mà không có nước mắt.

     Chúng tôi mạn phép phân tích theo cả hai cách hiểu, từ hai cách dịch nghĩa.

     a. Chúng ta hãy bình tĩnh len vào tâm sự của nhà thơ để dần hiểu ra ý tứ của ông. Trước hết, ta cần nhớ lại quan niệm của Mauron đã nói ở trên: sự “ám ảnh luôn luôn ở phía sau tư duy của người sáng tạo.” Tạm thời “nhập thân” vào con bướm chết, Nguyễn Du rút ra một điều giản dị: khi cái hồn của nó tàn phai, rời thể xác bay đi, mọi vẻ đẹp cuộc sống sẽ trở nên trống rỗng vô nghĩa đối với nó. Mà hồn đã tàn, thì không còn nước mắt nữa là điều hiển nhiên, nhất là nước mắt để khóc cho một thứ chông chênh khó nắm bắt, khó định giá dưới sự thẩm định của đời thường, như là văn chương! Điều ám ảnh lớn của Nguyễn Du bất chợt trở lại trước cái chết của con bướm vô tư lự, khiến ông phải một lần nữa tự vấn về ý nghĩa đời mình, về con đường văn nghiệp khổ ải mà ông đã lựa chọn, như chúng đã bao lần dày vò ông: Trăm nỗi u buồn chưa một lần được giải thoát (Bách chủng u hoài vị nhất sư. Bát muộn) -Tóc bạc làm tiêu ma chí khí của kẻ sĩ nghèo ( Bạch phát tiêu ma bần sĩ khí. Tặng Thực Đình)- Sống chưa nên danh vọng gì người đã suy yếu (Sinh vị thành danh thân dĩ suy.Tự thán II)- Qua nhiều năm biết cái già đã đến với mình (Niên thâm cánh giác lão tùy thân. U cư II)- Một đời chuyên về từ phú, biết là vô ích, Sách đàn đầy giá, chỉ mình làm ngu mình (Nhất sinh từ phú tri vô ích, Mãn giá cầm thư đồ tự ngu. Mạn hứng)- Văn chương nào đã dùng được việc gì cho ta? Đâu ngờ phải đói rét để người thương (Văn tự hà tằng vi ngã dụng/Cơ hàn bất giác thụ nhân liên. Khất thực)- Người có tài thường bị văn chương ghét ghen (Cao tài mỗi bị văn chương đố. Ninh Minh giang chu hành). Dễ hiểu vì sao có lần Nguyễn Du thoáng mơ ước được như Ông già thôn quê ngồi trong nhà trông thanh thản an nhàn quá. Được như thế, chắc chỉ vì bình sinh không đọc sách (Toạ gia thôn tẩu đa nhàn sự/Chỉ vị bình sinh bất độc thư. Lạng Sơn đạo trung)… Những bức tranh nhuốm màu u ám bi quan lướt qua tâm trí ông trước một sinh mệnh bé nhỏ đã rời xa dương thế. Nỗi buồn về cuộc đời vô cảm thực dụng đang tràn lan ngoài kia làm ông có lúc trách oan con bướm! Nếu tất cả mọi người sống nhởn nhơ vô tư lự như con bướm kia, thì chẳng đợi khi hồn tàn, cũng đâu có giọt lệ nào khóc cho văn chương, cho những khổ đau bất hạnh mà đời trông mong sự đồng cảm, cứu giúp! Điều ấy chỉ có ở người nghệ sĩ thực sự mà thôi! Nhưng tâm hồn nhân hậu của người nghệ sĩ đã dành cho con bướm một đặc ân mà nó không ngờ: mi mệnh bạc, chỉ còn cái xác khô thôi, nhưng lại có duyên lưu lại với sách vở!

     b. Nhưng, hiểu theo cách thứ hai, theo chúng tôi sẽ phù hợp hơn, với ngữ pháp Hán văn cổ và cách tiểu đối của các vế trong hai câu Thực: Bạc mệnh & Tàn hồn, Hữu duyên lưu giản tịch & Vô lệ khốc văn chương. Khóc (khốc) mà lại không thể ra nước mắt, đó mới là cái khóc đau đớn, cái khóc bi kịch. Hồn tàn rồi, dù con bướm may mắn vẫn còn lưu thể xác với sách, nó khóc cho văn chương trong tình thế bất lực, khóc vô lệ, bởi cái tinh khí của đời đã thoát khỏi nó kia mới chính là thứ nó cần để giao lưu hòa nhập với tinh anh của văn chương! Cái khốc này chính là của Nguyễn Du dành cho văn chương, đúng hơn là cho những khát vọng ông chưa thực hiện được cho văn chương cho đến giây phút ấy! Đó cũng là một điều ám ảnh dai dẳng đối với một người thấy mình đầu bạc từ khi còn trẻ tuổi!

     Từ đó, nhà thơ đi tới hai câu luận:

Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng/ Huỳnh hoả nan hôi cẩm tú trường -Con mọt sách dễ tỉnh giấc mộng phồn hoa, Lửa đom đóm khó đốt cháy được tấm lòng gấm vóc.

     Giấc mộng phồn hoa của Cuộc đời trăm năm thương thay chỉ là chớp mắt (Bách tuế vi nhân bi thuấn tức. Mạn hứng), vì thế con mọt gặm gỗ nhân may mắn được gặm sách cũng có thể dễ tỉnh phồn hoa mộng, cái phồn hoa của lợi lộc danh vọng tạo ra những ông phỗng đá hay phải dẫm đạp lên nhau trong Cõi người ta, của những Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm (Kiều), khiến nhà thơ không chỉ một lần tự nhủ: Sao bằng cứ tỉnh để xem việc đời, như cánh bèo trôi giạt rất đáng thương (Hà tự thanh tinh khan thế sự/ Phù bình nhiễu nhiễu cánh kham ai. Lưu Linh mộ). Bởi Xưa nay ai là người có thể phá bỏ cuộc mê này (Kim cổ thuỳ năng phá thử mê. Phản chiêu hồn), nếu không phải là người nghệ sĩ ưu thời mẫn thế?

     Người dám sống kiểu Ma đưa lối quỷ dẫn đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi (Kiều), cũng là người lúc cùng đường vẫn được trăng đến thăm (Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến). Nói Tấm lòng gấm vóc (cẩm tú trường) tức là nói tới tài văn chương (tú khẩu cẩm tâm), và là một cách kiêu hãnh tự xác định giá trị bản thân của người hiểu hơn ai hết làm thế nào để đạt tới “Nhất thế tài hoa” (Nguyễn Hành) của người sống trong môi trường nhiễm hương thơm của Sách từ nhỏ không lúc nào rời chí hướng của mình - kể cả khi thân phận tựa Ngọn cỏ bồng lìa gốc trước luồng gió tây thổi mạnh, không biết cuối cùng sẽ bay đến nơi đâu (Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp/ Tất cánh phiêu lưu hà xứ quy). Tự xác định được cái lẽ sống để “dĩ bất biến ứng vạn biến” đó trong mọi cảnh ngộ dù não lòng đến đâu, nhà thơ nghệ sĩ của chúng ta đã có được tấm lòng gấm vóc (cẩm tú trường) mà lửa đom đóm khó đốt cháy được! Lửa đom đóm ở đây có thể liên tưởng tới sự phù vân của danh lợi và những ước vọng tầm thường đôi khi cũng lụy tới nhà thơ.

     Từ việc Luận về Thời & Giá trị của cá nhân, tác giả đi tới Kết:
Văn đạo dã ưng cam nhất tử, Dâm thư do thắng vị hoa mang -Được nghe đạo lý rồi chết cũng cam, Ham mê sách còn hơn mải miết đắm đuối vì hoa.

     Mượn chữ “Văn đạo” trong sách Luận ngữ của Khổng tử (Sáng được nghe giảng đạo lý, chiều tối chết cũng hả), phù hợp với vòng đời ngắn ngủi của con bướm trong văn cảnh này, nhà thơ khẳng định cái giá trị của văn chương mà ông theo đuổi: văn chương Nghìn thuở nơi chín suối vẫn có mùi hương (Thiên cổ trùng tuyền thượng hữu hương. Âu Dương Văn Trung Công mộ), trong cái cuộc vui buồn trăm năm bao giờ mới hết? Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng vừa (Bách niên ai lạc hà thời liễu/ Tứ bích đồ thư bất yếm đa. Tạp ngâm1). Và ông trầm ngâm triết lý thông qua con bướm chết: giờ đây, mi đã nằm trong Sách, đã được hưởng cái Đẹp trong Sách, vì vậy chết cũng cam; và việc ham mê sách của mi còn đáng giá hơn nhiều lần chuyện đắm đuối vì hoa khi sống - đó là một cách diễn đạt cực tả nhằm nêu bật và khắc vào lòng người đọc ấn tượng sâu sắc cái ý nghĩa của sự sống với Giá trị văn chương mà Nguyễn Du tôn thờ.

     Chúng ta thử thao tác chồng văn bản bài thơ này với bài thơ Độc Tiểu Thanh ký: Nàng Tiểu Thanh được Nguyễn Du “liên tài” trước hết chính bởi tài hoa của nàng tạo nên thần thái riêng biệt đáng kính trọng. Nhưng điều trớ trêu đáng đau lòng là vẻ đẹp son phấn thì được người chồng nâng niu, quý mến cho đến cả sau khi chết; còn văn chương- biểu hiện của phẩm chất cao quý là tài năng, trí tuệ, tình cảm thì lại chịu phận hẩm hiu, bị rẻ rúng, phải nhờ vào tờ giấy dùng để gói quà may còn sót lại mà đến được với đời, xét ra còn thua cả con bướm chết khô ép trong sách: Trước cửa sổ, ta chỉ viếng một tờ giấy thôi… Nhan sắc có thần thái nên được thương tiếc cả sau khi chết. Văn chương mệnh hẩm nên phải nhờ vào phần còn sót lại (Độc điếu song tiền nhất chỉ thư// Chi phấn hữu thần liên tử hậu/ Văn chương vô mệnh lụy phần dư). Nguyễn Du liên hệ điều này với nghịch cảnh trớ trêu của mình và thốt lời than thở: Cổ kim hận sự thiên nan vấn/ Phong vận kỳ oan ngã tự cư/ Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Cái án phong lưu khách tự mang (phong vận kỳ oan ngã tự cư) suốt đời ấy cũng đồng nghĩa với có duyên lưu lại với sách, với lòng ham mê sách, không bị u mê đắm đuối vì hoa- biểu trưng cho sự phù du của danh lợi, để có thể miệt mài đắm đuối với thứ văn chương có giá trị thiên cổ như thi bá Đỗ Phủ (Thiên cổ văn chương thiên cổ sư. Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ1).

     Toàn bộ bài thơ Điệp tử thư trung với hệ thống thi liệu và câu chữ đối lập, đã tạo nên sự tương phản giữa sự lạnh lẽo, bụi bậm, cô quạnh, đơn độc (có tiếng mọt kêu đục gỗ) với sự nồng ấm của tư tưởng, của khát vọng ẩn giấu trong sự lựa chọn & sắp xếp thi liệu, sự tương phản đối lập giữa Cái chết và Sự sống, Sự trường tồn vĩnh cửu và cái Hữu hạn mong manh… Và điều đó “tạo ra hai cảm xúc đối lập”, “các mâu thuẫn xúc động” tác động sâu sắc tới nhiều thế hệ độc giả, theo quy luật của tâm lý học nghệ thuật, như nhà khoa học nghiên cứu về nghệ thuật người Nga L.X. Vưgôtxki đã viết: “Bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào- dù một bài thơ ngụ ngôn, một truyện ngắn hay vở bi kịch - đều chứa đựng trong mình một mâu thuẫn xúc động, đều dấy lên những cảm xúc đối lập nhau… và với điều này chúng ta đang tiến sát tới cái khái niệm Catacxit mà Arixtốt đã dùng làm cơ sở để giải thích bi kịch và đã nhiều lần nhắc tới khi nói về các loại hình nghệ thuật khác… nó thực hiện, “thông qua sự thương cảm và sợ hãi, việc thanh lọc những xúc động tương tự.”(12) Sự “thanh lọc” cảm xúc này cũng là một sức mạnh nghệ thuật lớn lao trong toàn bộ tác phẩm văn chương của Nguyễn Du nói chung, và của bài thơ Điệp tử thư trung nói riêng.


Mai An Nguyễn Anh Tuấn

____________________

1. Thơ trích trong bài lấy từ: Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Lê Thước Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch. NXB Văn học 2012

2. Charles Mauron: “Huyền thoại cá nhân thể hiện những quá trình tâm lý sâu xa, nó tiết lộ một chức năng tưởng tượng có liên quan tới thời gian mà người sáng tạo đã sống qua.”- Dẫn theo: Liễu Trương. Phân tâm học và Phê bình văn học, Nxb Phụ nữ 2011, tr.149

3. Jean Chevalier và Alain Gheerbrant. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. Nhiều người dịch, Nxb Đà Nẵng, in lần thứ ba, 2015, tr.113

4. Nguyễn Du. Về tác giả và tác phẩm. Trịnh Bá Đĩnh & Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn, giới thiệu. NXB Giáo dục 1999, tr.169

5. Jean Chevalier và Alain Gheerbrant. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Sđd, tr.791

6. Kinh Thánh, Bản truyền thống hiệu đính, Liên hiệp Thánh Kinh Hội ấn hành, Nxb Tôn giáo 2011 (Sách Khải huyền 10:10, 11)

7. Alexandr Puskin. Tuyển tập tác phẩm. Thơ, Trường ca. Nxb Văn học & TT văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây HN 1999

8. L.X. Vưgôtxki. Tâm lý học nghệ thuật. Nxb KHXH &Trường viết văn Nguyễn Du, HN 1995, tr.385

9. Hêghen. Mỹ học. Phan ngọc giới thiệu và dịch. (Tập I) Nxb Văn học HN1999, tr.18

10. Lê Quế. So sánh dị bản Truyện Kiều, Nxb Hội nhà văn, 2006. Tr.29.

11. Dẫn theo: Khâu Chấn Thanh. Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Mai Xuân Hải dịch, Nxb Văn học 2001, tr. (412)

12. L.X. Vưgôtxki. Tâm lý học nghệ thuật.  Sđd, tr.339

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 120182)
Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, tháng 4/1975 như vết nước mắt loang dài của miền Trung ngắn dần đi khi dân chúng di tản vào Nam kiệt sức đến không còn nước mắt khóc cho những xác người ven đường.
21 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 112742)
Ông Nguyễn Hưng Quốc là người rất xục xạo đã lôi ra được những vấn đề văn học độc đáo. Cũng trong một bài viết blog, ông đã phát giác ra là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp rất thích cái thứ chúng ta thường thả vào bồn cầu! Ông viết : “Trong các truyện ngắn, ông (Nguyễn Huy Thiệp) cho chữ (cứt) ấy xuất hiện khá nhiều, một cách trần trụi, hung hãn, đầy bạo động.
21 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 90610)
Nói như Viện Hàn lâm Thụy điển vào đúng 13 giờ thứ năm 07/10/2010, theo lời thư kí Peter Englund khi ông công bố giải văn chương Nobel 2010 trao tặng cho (Jorje) Mario (Petro) Vargas Llosa, là như sau. Nhà văn xứ Pêru này trúng giải nhờ đã: « Thể hiện và phác họa toàn diện cơ cấu quyền lực và hình ảnh sắc cạnh chạm khắc nỗ lực kháng cự, tinh thần phẫn nộ và thành bại của cá nhơn con người. » Về mặt nghệ thuật: « Ông là nhà văn đã triển khai thuật kể chuyện theo phong cách quả tình kì ảo. » Về mặt con người của mình: « Qua tác phẩm, ta biết ngay ông là một con người say sưa trong hành xử. Hễ thấy mình phản ứng rập theo bổn sắc ấy, ông tỏ ra hết sức rung động và lấy làm vui vô cùng. »
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 118306)
Tôi đi ở cho tộc Trần từ lâu lắm. Từ cuối đời Lý. Lúc Trần Thị chỉ vừa cắt nhau. Đêm tháo thai, sống cảnh sinh nở đầu đời nên tâm hồn tôi ngập kinh hãi. Máu từ cửa mình vợ Trần Lý chảy xối, bắn phun tung tóe như bát canh rau dền rơi vãi trên đất. Thứ canh đỏ thẫm, lợn cợn những nhau, thịt, chất nhờn. Trần Thị giẫy, vùng, đôi tay chới với cào cấu vươn tới trong động tác nắm tìm sự sống. Đã biết đi vào đời là đi vào khổ đau, nhưng tôi cũng không ngờ khổ đau to lớn tàn phá đến rách bươm cửa mình vợ Trần Lý. Mỗi cái quẫy mình là mỗi một vũng máu, trào ra, trào cho đến đầy thau. Máu bê bết chẳng khác một pháp trường.
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 113623)
Ngày 11/03/2011 , Bẫy rồng bộ phim Việt Nam (action movie) được chờ đợi nhất sau thành công vang dội của Dòng máu anh hùng sẽ chính thức được trình chiếu . Bộ phim được hy vọng sẽ tạo ra một diện mạo mới cho dòng phim action Việt Nam và chứng tỏ sự trưởng thành cũng như sức mạnh của một đội ngũ những nhà làm phim mới, trẻ và nhiều sức sáng tạo.
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 132023)
Tôi lên Mã Pì Lèng dạy học. Từ dưới chân núi, tôi cứ nhằm theo chòm bản thấp thoáng trong mỏm đá, tán cây mà leo lên. Trời nóng như đốt nương, vượt dốc, cổ họng khô rát, tưởng như mồ hôi đã cạn kiệt không thể chảy ra được nữa, thì bất chợt gặp một dòng nước từ trên núi chảy xuống, tràn qua cả mặt đường đá. Tôi hồ hởi phanh ngực áo, bỏ ca-táp, cởi dép rọ, đứng một lúc cho mát dịu lại, rồi mới thong thả rửa tay, rửa chân, xúc miệng ba lần, uống một ngụm, xong rồi mới lau mình, gội đầu...
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 109076)
Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24/3/1916 tại quê ngoại, xã Phước Lộc, quận Sơn Tịnh, nhưng lớn lên tại quê nội thị xã Thu Xà, xã Nghiã Hoà. Hai nơi đều thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Mất ngày 17/1/ 1946, tại Thu Xà.
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 117822)
Nguyễn Thị Thảo An sinh ngày 03 tháng 2 năm 1960 tại Sài Gòn, tốt nghiệp đại học sư phạm Sài Gòn, hiện định cư tại Kennesaw Georgia, USA . Tác phẩm : *Tuyển Tập (in chung với 4 tác giả khác) *Bức Phù điêu Khắc Cạn (tập truyện, Văn Mới 2001)
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 111294)
LTS: Lê Vương Ngọc tên thật là Lê Đình Quỳnh, xuất thân là giáo sư tư thục Trung học các trường Hưng Yên, Hải Phòng thập niên 1950 và Sài gòn 1960. Ông nhìn vấn đề văn hoá như một “hobby” – Làm thơ, dịch sách, nghiên cứu, biên khảo nhiều về Phân tâm và Di truyền học – Theo quan niệm phê bình sáng tạo của Oscar Wilde…
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 112732)
Bạn có thấy đâu đó, người ta bày bán ba hình tượng ngồi riêng rẽ với hai bàn tay bịt kín hai mắt, bịt kín đôi tai, bịt kín miệng? Hay có lúc ba người ngồi chồng lên nhau theo thể hình tháp. Đứng nhìn lâu, có chút sảng khoái ở nghệ thuật mời chào. Nhưng đem về tập tành chủ nghĩa sống theo. Không thấy. Không nghe. Không nói. Bạn mới thấy nỗi niềm của từng nhịp thở ở đôi tay người.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3887)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13302)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19671)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18653)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1664)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1827)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2383)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2450)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1495)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2238)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1967)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2014)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1400)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2452)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2653)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2393)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 274)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 826)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1068)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1147)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6442)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15909)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32168)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38882)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1507)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13906)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6926)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10745)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9987)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10058)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10856)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3478)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11167)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10381)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi