- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CON BƯỚM CHẾT TRONG SÁCH VÀ TÂM SỰ CỦA ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU

12 Tháng Sáu 20196:05 CH(Xem: 44772)


THANG 3- PHOTO UL
Tháng Ba - ảnh UL

 

Bài thơ chữ Hán Điệp tử thư trung (Con bướm chết trong sách) được xếp ở sát cuối phần Làm quan ở Bắc hà (1802-1804), trong Thanh Hiên thi tập.(1) Có thể nói đây là một trong những bài thơ hay nhất, và kỳ lạ bậc nhất của Tố Như, khi ông chưa tới tuổi “tam thập nhi lập.” Hay và kỳ lạ, song xưa nay nó mới chỉ được điểm qua, chưa hề được phân tích bình giải một cách thấu đáo. (Trong khi, bài Độc Tiểu Thanh ký xếp liền sau đó lại được khai thác khá kỹ trong hàng chục bài viết - ở các bậc phổ thông, đại học và nhiều diễn đàn văn chương). Có lẽ, bởi tính chất kỳ lạ và trừu tượng đến khó hiểu của nó?

     Hình ảnh con bướm chết khô trong trang sách vẫn được coi là biểu tượng của tình yêu sách vở, lòng đam mê văn chương của Nguyễn Du. Hiểu thế không có gì sai. Nhưng vì sao lại là con bướm chết khô? Con mọt sách và lửa đom đóm có liên can gì ở đây? Có điều gì khiến hồn phải tàn, rồi phải không lệ khóc cho văn chương? Cái duyên lưu lại với sách thực ra là gì?... Hàng loạt ký hiệu nghệ thuật quanh hình ảnh con bướm chết khô, trong hệ thống cảm xúc - tư tưởng của Nguyễn Du ở những bài thơ cùng loại, đã giúp chúng ta hiểu thêm được điều gì trong chiều sâu tâm hồn người nghệ sĩ lớn, cùng tuyên ngôn của ông về giá trị cuộc đời, về văn chương nghệ thuật...? Xem ra, tất cả những điều đó vẫn còn nhập nhoạng như ta nhìn sự thật bằng lửa đom đóm.

Điệp tử thư trung

Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương,

Tạ khước phong lưu vị thị cuồng.

Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch,

Tàn hồn vô lệ khốc văn chương.

Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng,

Huỳnh hoả nan hôi cẩm tú trường.

Văn đạo dã ưng cam nhất tử,

Dâm thư do thắng vị hoa mang.

蝶死書中 

芸窗曾幾染書香,

謝卻風流未是狂。

薄命有緣留簡籍,

殘魂無淚哭文章。

蠹魚易醒繁華夢,

螢火難灰錦繡腸。

聞道也應甘一死,

淫書猶勝為花忙。

Dịch nghĩa

                  Con bướm chết trong sách


Thư phòng bao lâu nay nhiễm hương thơm của sách,

Từ bỏ vị phong lưu không thể cho là dại.

Mệnh tuy bạc, nhưng cũng có duyên lưu lại với sách,

Hồn tàn không có nước mắt khóc văn chương.

Con mọt sách dễ tỉnh giấc mộng phồn hoa,

Lửa đom đóm khó đốt cháy được tấm lòng gấm vóc.

Được nghe đạo lý rồi chết cũng cam,

Ham mê sách còn hơn mải miết đắm đuối vì hoa.

             Vương Trọng dịch thơ:


Lâu rồi được sách ướp hương

Phong lưu từ bỏ chẳng cuồng dại đâu

Còn duyên, với sách lưu sau

Hồn tàn, không lệ khóc sầu văn chương

Mọt kêu dễ tỉnh giấc vàng

Lòng vàng, lửa đóm đố làm sao thiêu?

Được nghe đạo, chết cũng liều

Ham mê sách vở hơn nhiều mê hoa.

Chữ nghĩa thì đã bày ra cả đó rồi, dường không có chỗ nào uẩn khúc để từ Hán tự sang giải nghĩa tiếng Việt làm người đọc phải băn khoăn tranh luận nhiều, như bài Độc Tiểu Thanh ký. Vấn đề tưởng như chỉ là giải mã các hình ảnh vừa có thực, lại vừa mang ý nghĩa tượng trưng, có tính biểu tượng. Có nhiều con đường để khám phá bài thơ về các mặt Nội dung - Tư tưởng - Hình thức, và có một cách khá mới mẻ là phương pháp phê bình tâm lý (psychocritique) của Charles Mauron, cùng các khái niệm của phân tâm học như: “ám ảnh”, “mạng lưới”, nhất là “huyễn tưởng dai dẳng”- hay là HUYỀN THOẠI CÁ NHÂN, “là một ám ảnh luôn luôn ở phía sau tư duy của người sáng tạo”. (2) Phân tích bài thơ này, liên kết với một số bài thơ, câu thơ khác và chồng văn bản giữa chúng sẽ giúp cho việc học tập nghiên cứu thơ văn Nguyễn Du trong nhà trường thêm thuận lợi, và sau đó góp phần làm sáng tỏ “Huyền thoại cá nhân” của Nguyễn Du trên hành trình sáng tạo nghệ thuật.

     Trong bài thơ có hai hình ảnh trung tâm: Bướm và Sách; các hình ảnh khác sẽ là vệ tinh xoay quanh thi đề chính: Con bướm chết giữa trang sách.

     Văn thơ cổ có nhiều điển tích giấc mơ dùng làm thi liệu, trong đó có liên quan tới điển tích Trang Chu hóa bướm: Hồ điệp, Giấc bướm, Giấc hồ (Khúc đâu đầm ấm dương hòa/ Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh. Truyện Kiều; Giấc hồ nửa gối mơ màng/ Chiền đâu đã lọt tiếng chuông mái tường. Hoa tiên). Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm bay nhởn nhơ, khi chợt tỉnh dậy lại thấy mình là Trang Chu. “Không biết là có phải Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm hay là bướm nằm mộng thấy mình biến thành Trang Chu” (Nam hoa kinh). Sau này một nhà văn của Tự lực văn đoàn đã lấy cảm hứng “Hồn bướm mơ tiên” để viết thành cả một cuốn tiểu thuyết. Hình ảnh Giấc bướm có “từ trường” giàu khả năng liên kết với các hình ảnh như trướng huỳnh ( màn có ánh sáng đom đóm), song huỳnh (cửa sổ có ánh sáng đom đóm) dùng chỉ phòng học, rộng hơn là việc học tập (Nhặt thưa trăng rọi đầu cành/ Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu. Kiều; Lưu liên khi lại huỳnh song/ Gương nga đã gác non sông nửa vùng. Hoa tiên). Nằm trong hệ thống này còn có Vân song (thư phòng), Thư trai (phòng văn), Song hồ ( cửa sổ dán giấy), Song sa (cửa sổ treo rèm bằng sa), v.v. Theo các nhà khoa học Pháp làm Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, đối với phần đông nhân loại, Bướm tượng trưng cho sự hồi sinh, riêng trong tâm thức phương Đông nó còn mang ý nghĩa mùa thu, sự trường thọ, còn trong hệ biểu tượng Kitô giáo nó tượng trưng cho linh hồn đã trút bỏ được cái vỏ xác thịt của mình; phân tâm học hiện đại cũng nhìn thấy ở con bướm một biểu tượng về sự tái sinh.(3)

     Còn về Sách, trong ba tập thơ chữ Hán, Nguyễn Du đã có hàng chục lần nói tới Sách và đọc sách, lần nào cũng đầy cảm xúc, như nguồn nuôi dưỡng chủ yếu của tâm hồn ông, như người bạn thân thiết, nguồn an ủi lúc cô đơn bần hàn, thậm chí như một thứ định mệnh gắn với đời mình. Sách, với Nguyễn Du, có sự giao cảm giữa “người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa.” (Mộng Liên đường, Bài tựa Đoạn trường tân thanh)(4). Sách, vốn là biểu tượng của tri thức và sự minh triết, còn là biểu tượng của vũ trụ, với cuốn Sách Đời, Cây Đời trong sách Khải huyền (của Kinh thánh) mang những thông điệp của Chúa Trời.(5) Trong sách Khải huyền, Thiên sứ tay cầm cuốn sách nhỏ đưa cho người đời ăn, ngọt như mật nhưng rồi bụng lại đắng, bởi vì đọc sách rồi cần phải “nói lời tiên tri về nhiều dân tộc, nhiều nước, nhiều thứ tiếng nữa…”(6)- những lời “tiên tri” trĩu nặng lo âu và tình thương xót, khiến ta chợt nhớ đến hình ảnh Nhà Tiên tri của thi hào Nga A. Puskin; và Nguyễn Du của chúng ta, ở cùng thời đại “bạo tàn” ấy, khi lo mãi chuyện nhân thế nghìn năm trước khi chết (Thiên tuế trường ưu vị tử tiền. Mộ xuân mạn hứng), phải chăng cũng xuất phát từ sự gặp gỡ vô tình giữa hai trái tim nghệ sĩ vĩ đại: Đi khắp năm châu bốn bể gần xa / Đem lời nói đốt cháy lòng thiên hạ (Nhà Tiên tri -Thúy Toàn dịch).(7)

     Đây là bài thơ mượn hình ảnh con bướm đã chết để nói về mình, về đời, không phải là thơ vịnh con bướm (mà truyền thống thơ cổ Việt Nam thì hay ngâm vịnh, cái gì cũng có thể vịnh được: vịnh cái chổi, vịnh cái gương, cái lược…); đúng hơn là nhân có con bướm chết khô tìm thấy trong trang sách cũ mà chợt nảy sinh cảm hứng, rồi suy ngẫm. Nhưng nói với mình, nói về mình, thông qua sự quan sát con bướm chết mà tựa như đối thoại trực tiếp với nó… Bài thơ đậm màu siêu thực, kỳ ảo, Liêu trai, thực mộng lẫn lộn, song có lẽ chỉ bằng cách thức này nhà thơ mới bộc bạch được đến tận cùng điều muốn gửi gắm. Có thể nói, bài thơ Điệp tử thư trung là minh chứng hùng hồn cho một quy luật quan trọng của Mỹ học: “Sự cho vay, sự du nhập, sự nhập cảm của tâm hồn vào các hình thức không hồn chính là điều chủ yếu được bàn đến trong mỹ học.”(8) Và nếu theo Hêghen: “Từ lâu, nhiệm vụ quan trọng nhất của nghệ thuật vẫn là tìm những tình huống thú vị. Tức là những tình huống nào cho phép ta bộc lộ những hứng thú quan trọng và sâu sắc, cũng như cái nội dung chân thực của tâm hồn”(9) thì quả là Nguyễn Du đã tìm được một “tình huống thú vị”, và độc đáo nữa: con bướm chết trong trang sách. (Có nhà nghiên cứu cho rằng: chữ điệp với nghĩa con bướm có thể là một dị bản; nội dung bài thơ cho thấy chữ điệp ở đây rất có thể là điệp trong trùng điệp, tức nhan đề bài thơ nên được hiểu là chết nhiều lần trong sách.(10) Theo tôi, đó là một suy diễn khá chủ quan, và nếu quả thực như thế, bài thơ sẽ nghèo đi rất nhiều về hình tượng và cảm xúc, còn bài thơ có thể là lẫn của một tác giả nào đó chứ không phải là Nguyễn Du!)

      Chúng ta hãy đi vào câu chữ cụ thể.

      Câu thừa đề:

Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương - Thư phòng bao lâu nay nhiễm hương thơm của sách.

     Căn phòng của Nguyễn Du, như không ít lần ông miêu tả trong thơ trữ tình, rõ ràng là không sang trọng gì: Trước cửa nhà ẩn dật toàn là núi xanh. Cạnh gối, có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật… Suốt ngày, bếp không đỏ lửa (Xử sĩ môn tiền thanh giả san/ Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt/ /Táo đầu chung nhật vô yên hoả. Tạp ngâm2), nhưng lại là nơi trong sạch bụi bặm không thể lẫn vào (Bất dung trần cấu tạp thanh hư), và cũng là nơi lưu giữ “hương thơm” của Sách, được “nhiễm thư hương.” Không phải là hương thơm được tẩm ướp vào sách, đó là hương thơm toát ra từ một thứ văn chương mà “Tình là gốc, lời là cảnh, thanh là hoa, nghĩa là quả: cảm động lòng người trước hết không gì bằng tình, đầu tiên không gì bằng lời, tha thiết không gì bằng thanh, sâu xa không gì bằng nghĩa” (Bạch Cư Dị).(11) Vẻ đẹp của Đạo lý thông qua ngôn từ đó đem lại ý nghĩa lớn lao cho cuộc sống nhiều đau thương buồn khổ của Nguyễn Du. Cả đời ông đi tìm thứ văn chương ấy, chắt chiu, mài bút, khổ luyện, và đã trở thành một trong “An Nam ngũ tuyệt” của văn đàn một thời.

     Câu phá đề:

Tạ khước phong lưu vị thị cuồng- Từ bỏ vị phong lưu không thể cho là dại.

     Hai chữ Phong lưu (風流), theo từ điển Hán Việt Đào Duy Anh, trong văn cảnh này là: thói riêng, tinh thần riêng (của con bướm) giống như ngọn gió hay lang thang đây đó, như nước chảy trôi dạt không phương hướng (lưu phong dư vận). Phong lưu trong văn cảnh này còn có ngụ ý là cuộc sống giàu có, địa vị xã hội cao. Khác với các danh từ: thần thái, phong vận, phong tư, phong thái... (Còn chữ Phong 豐 , tức dáng sắc đẹp tốt - theo ĐDA, nếu kết hợp với Nhã 雅 trong Kinh Thi gọi là Phong nhã - người ta gọi những việc văn chương là Phong nhã; còn kết hợp Phong 豐 với Nhân 人 tức là Thi nhân).

     Như vậy, câu thứ hai, kết hợp với câu mở đầu cần hiểu: Việc buộc phải từ bỏ thói hay đi rong chơi nhởn nhơ (như con bướm) để sống trong cái không gian đẫm “thư hương” cao quý kia đâu phải là dại, theo cách luận Dại - Khôn của người đời, tựa như Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ - Người khôn người kiếm chỗ lao xao! Hơn nữa, sau nhiều năm tháng phiêu bạt giang hồ đầu sông cuối bãi, thi nhân cũng cần có lúc dừng lại, không chỉ để nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, mà để lắng lại, để sàng lọc lại biết bao tích lũy của tâm hồn - trong đó có không ít những câu hát thôn dã giúp ta hiểu được tiếng nói của kẻ trồng gai trồng dâuthỉnh thoảng nghe tiếng người khóc như buổi chiến tranh ngoài đồng nội (Thôn ca sơ học tang ma ngữ/ Dã khốc thời văn chiến phạt thanh.Thanh minh ngẫu hứng). Đó cũng là lúc, hết nghiệp chướng mới thấy tấm lòng xưa nhẹ nhõm: Tâm sự anh hùng đã nguội lạnh, không còn nghĩ đến chuyện rong ruổi, Đường danh lợi làm luỵ đến sự khóc cười. Người thì tiều tuỵ, nhưng xuân vẫn cứ đẹp (Anh hùng tâm sự hoang trì sính/Danh lợi doanh trường luỵ tiếu tần/ Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo. Xuân tiêu lữ thứ)…

     Hai câu thực:

Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch - Tàn hồn vô lệ khốc văn chương - Mệnh tuy bạc, nhưng cũng có duyên lưu lại với sách. Hồn tàn không có nước mắt mà khóc văn chương, hồn tàn khóc văn chương không nước mắt.

     Câu đầu thì cũng khá dễ hiểu: Con bướm tuy yểu mệnh, bạc mệnh nhưng lại được lưu lại như một tiêu bản giữa các trang sách, đúng là cái “hữu duyên”- như chính nhà thơ đối với văn chương lâu nay mà ông coi là Văn Đạo. Mỗi khi Giật mình mình lại thương mình xót xa (Kiều), Biết cùng ai bày tỏ niềm cảm xúc từ trong đáy lòng (Trung tình vô hạn bằng thùy tố. Hoàng Hạc lâu), ông đã có văn chương làm bầu bạn, làm nơi giải thoát. Bởi lẽ chưa từng có chuyện văn chương gây nghiệp chướng, miễn là không để cho bụi bặm lẫn vào nơi trong sạch (Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng/ Bất dung trần cấu tạp thanh hư. Ngọa bệnh). Cái hữu duyên này đối nghịch với mọi điều sinh nghiệt chướng cho ông mà ông gặp không ít trên đường đời. Con bướm thực may mắn khi được lưu cùng sách - cũng có nghĩa lưu cùng những giá trị bất hủ nằm trong sách. Nhưng câu thứ hai của Thực mới là “hóc”, có thể nói “hóc” vào bậc nhất trong thơ chữ Hán Nguyễn Du: Hồn tàn vì lẽ gì? Tại sao lại không có nước mắt để mà khóc văn chương nữa? Nước mắt của ai? Cái gì tạo ra sự khác biệt trong cái Khốc (khóc thương thống thiết thành tiếng) ở đây với cái Khấp ( khóc chỉ có nước mắt mà không ra tiếng) ở Độc Tiểu Thanh ký? Và ở đây có thể có hai cách hiểu: a. Theo truyền thống, phụ thuộc vào những người đã dịch nghĩa và dịch thơ: Không có nước mắt để khóc văn chương (Hồn tàn không lệ khóc văn chương),  b. Khóc cho văn chương mà không có nước mắt.

     Chúng tôi mạn phép phân tích theo cả hai cách hiểu, từ hai cách dịch nghĩa.

     a. Chúng ta hãy bình tĩnh len vào tâm sự của nhà thơ để dần hiểu ra ý tứ của ông. Trước hết, ta cần nhớ lại quan niệm của Mauron đã nói ở trên: sự “ám ảnh luôn luôn ở phía sau tư duy của người sáng tạo.” Tạm thời “nhập thân” vào con bướm chết, Nguyễn Du rút ra một điều giản dị: khi cái hồn của nó tàn phai, rời thể xác bay đi, mọi vẻ đẹp cuộc sống sẽ trở nên trống rỗng vô nghĩa đối với nó. Mà hồn đã tàn, thì không còn nước mắt nữa là điều hiển nhiên, nhất là nước mắt để khóc cho một thứ chông chênh khó nắm bắt, khó định giá dưới sự thẩm định của đời thường, như là văn chương! Điều ám ảnh lớn của Nguyễn Du bất chợt trở lại trước cái chết của con bướm vô tư lự, khiến ông phải một lần nữa tự vấn về ý nghĩa đời mình, về con đường văn nghiệp khổ ải mà ông đã lựa chọn, như chúng đã bao lần dày vò ông: Trăm nỗi u buồn chưa một lần được giải thoát (Bách chủng u hoài vị nhất sư. Bát muộn) -Tóc bạc làm tiêu ma chí khí của kẻ sĩ nghèo ( Bạch phát tiêu ma bần sĩ khí. Tặng Thực Đình)- Sống chưa nên danh vọng gì người đã suy yếu (Sinh vị thành danh thân dĩ suy.Tự thán II)- Qua nhiều năm biết cái già đã đến với mình (Niên thâm cánh giác lão tùy thân. U cư II)- Một đời chuyên về từ phú, biết là vô ích, Sách đàn đầy giá, chỉ mình làm ngu mình (Nhất sinh từ phú tri vô ích, Mãn giá cầm thư đồ tự ngu. Mạn hứng)- Văn chương nào đã dùng được việc gì cho ta? Đâu ngờ phải đói rét để người thương (Văn tự hà tằng vi ngã dụng/Cơ hàn bất giác thụ nhân liên. Khất thực)- Người có tài thường bị văn chương ghét ghen (Cao tài mỗi bị văn chương đố. Ninh Minh giang chu hành). Dễ hiểu vì sao có lần Nguyễn Du thoáng mơ ước được như Ông già thôn quê ngồi trong nhà trông thanh thản an nhàn quá. Được như thế, chắc chỉ vì bình sinh không đọc sách (Toạ gia thôn tẩu đa nhàn sự/Chỉ vị bình sinh bất độc thư. Lạng Sơn đạo trung)… Những bức tranh nhuốm màu u ám bi quan lướt qua tâm trí ông trước một sinh mệnh bé nhỏ đã rời xa dương thế. Nỗi buồn về cuộc đời vô cảm thực dụng đang tràn lan ngoài kia làm ông có lúc trách oan con bướm! Nếu tất cả mọi người sống nhởn nhơ vô tư lự như con bướm kia, thì chẳng đợi khi hồn tàn, cũng đâu có giọt lệ nào khóc cho văn chương, cho những khổ đau bất hạnh mà đời trông mong sự đồng cảm, cứu giúp! Điều ấy chỉ có ở người nghệ sĩ thực sự mà thôi! Nhưng tâm hồn nhân hậu của người nghệ sĩ đã dành cho con bướm một đặc ân mà nó không ngờ: mi mệnh bạc, chỉ còn cái xác khô thôi, nhưng lại có duyên lưu lại với sách vở!

     b. Nhưng, hiểu theo cách thứ hai, theo chúng tôi sẽ phù hợp hơn, với ngữ pháp Hán văn cổ và cách tiểu đối của các vế trong hai câu Thực: Bạc mệnh & Tàn hồn, Hữu duyên lưu giản tịch & Vô lệ khốc văn chương. Khóc (khốc) mà lại không thể ra nước mắt, đó mới là cái khóc đau đớn, cái khóc bi kịch. Hồn tàn rồi, dù con bướm may mắn vẫn còn lưu thể xác với sách, nó khóc cho văn chương trong tình thế bất lực, khóc vô lệ, bởi cái tinh khí của đời đã thoát khỏi nó kia mới chính là thứ nó cần để giao lưu hòa nhập với tinh anh của văn chương! Cái khốc này chính là của Nguyễn Du dành cho văn chương, đúng hơn là cho những khát vọng ông chưa thực hiện được cho văn chương cho đến giây phút ấy! Đó cũng là một điều ám ảnh dai dẳng đối với một người thấy mình đầu bạc từ khi còn trẻ tuổi!

     Từ đó, nhà thơ đi tới hai câu luận:

Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng/ Huỳnh hoả nan hôi cẩm tú trường -Con mọt sách dễ tỉnh giấc mộng phồn hoa, Lửa đom đóm khó đốt cháy được tấm lòng gấm vóc.

     Giấc mộng phồn hoa của Cuộc đời trăm năm thương thay chỉ là chớp mắt (Bách tuế vi nhân bi thuấn tức. Mạn hứng), vì thế con mọt gặm gỗ nhân may mắn được gặm sách cũng có thể dễ tỉnh phồn hoa mộng, cái phồn hoa của lợi lộc danh vọng tạo ra những ông phỗng đá hay phải dẫm đạp lên nhau trong Cõi người ta, của những Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm (Kiều), khiến nhà thơ không chỉ một lần tự nhủ: Sao bằng cứ tỉnh để xem việc đời, như cánh bèo trôi giạt rất đáng thương (Hà tự thanh tinh khan thế sự/ Phù bình nhiễu nhiễu cánh kham ai. Lưu Linh mộ). Bởi Xưa nay ai là người có thể phá bỏ cuộc mê này (Kim cổ thuỳ năng phá thử mê. Phản chiêu hồn), nếu không phải là người nghệ sĩ ưu thời mẫn thế?

     Người dám sống kiểu Ma đưa lối quỷ dẫn đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi (Kiều), cũng là người lúc cùng đường vẫn được trăng đến thăm (Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến). Nói Tấm lòng gấm vóc (cẩm tú trường) tức là nói tới tài văn chương (tú khẩu cẩm tâm), và là một cách kiêu hãnh tự xác định giá trị bản thân của người hiểu hơn ai hết làm thế nào để đạt tới “Nhất thế tài hoa” (Nguyễn Hành) của người sống trong môi trường nhiễm hương thơm của Sách từ nhỏ không lúc nào rời chí hướng của mình - kể cả khi thân phận tựa Ngọn cỏ bồng lìa gốc trước luồng gió tây thổi mạnh, không biết cuối cùng sẽ bay đến nơi đâu (Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp/ Tất cánh phiêu lưu hà xứ quy). Tự xác định được cái lẽ sống để “dĩ bất biến ứng vạn biến” đó trong mọi cảnh ngộ dù não lòng đến đâu, nhà thơ nghệ sĩ của chúng ta đã có được tấm lòng gấm vóc (cẩm tú trường) mà lửa đom đóm khó đốt cháy được! Lửa đom đóm ở đây có thể liên tưởng tới sự phù vân của danh lợi và những ước vọng tầm thường đôi khi cũng lụy tới nhà thơ.

     Từ việc Luận về Thời & Giá trị của cá nhân, tác giả đi tới Kết:
Văn đạo dã ưng cam nhất tử, Dâm thư do thắng vị hoa mang -Được nghe đạo lý rồi chết cũng cam, Ham mê sách còn hơn mải miết đắm đuối vì hoa.

     Mượn chữ “Văn đạo” trong sách Luận ngữ của Khổng tử (Sáng được nghe giảng đạo lý, chiều tối chết cũng hả), phù hợp với vòng đời ngắn ngủi của con bướm trong văn cảnh này, nhà thơ khẳng định cái giá trị của văn chương mà ông theo đuổi: văn chương Nghìn thuở nơi chín suối vẫn có mùi hương (Thiên cổ trùng tuyền thượng hữu hương. Âu Dương Văn Trung Công mộ), trong cái cuộc vui buồn trăm năm bao giờ mới hết? Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng vừa (Bách niên ai lạc hà thời liễu/ Tứ bích đồ thư bất yếm đa. Tạp ngâm1). Và ông trầm ngâm triết lý thông qua con bướm chết: giờ đây, mi đã nằm trong Sách, đã được hưởng cái Đẹp trong Sách, vì vậy chết cũng cam; và việc ham mê sách của mi còn đáng giá hơn nhiều lần chuyện đắm đuối vì hoa khi sống - đó là một cách diễn đạt cực tả nhằm nêu bật và khắc vào lòng người đọc ấn tượng sâu sắc cái ý nghĩa của sự sống với Giá trị văn chương mà Nguyễn Du tôn thờ.

     Chúng ta thử thao tác chồng văn bản bài thơ này với bài thơ Độc Tiểu Thanh ký: Nàng Tiểu Thanh được Nguyễn Du “liên tài” trước hết chính bởi tài hoa của nàng tạo nên thần thái riêng biệt đáng kính trọng. Nhưng điều trớ trêu đáng đau lòng là vẻ đẹp son phấn thì được người chồng nâng niu, quý mến cho đến cả sau khi chết; còn văn chương- biểu hiện của phẩm chất cao quý là tài năng, trí tuệ, tình cảm thì lại chịu phận hẩm hiu, bị rẻ rúng, phải nhờ vào tờ giấy dùng để gói quà may còn sót lại mà đến được với đời, xét ra còn thua cả con bướm chết khô ép trong sách: Trước cửa sổ, ta chỉ viếng một tờ giấy thôi… Nhan sắc có thần thái nên được thương tiếc cả sau khi chết. Văn chương mệnh hẩm nên phải nhờ vào phần còn sót lại (Độc điếu song tiền nhất chỉ thư// Chi phấn hữu thần liên tử hậu/ Văn chương vô mệnh lụy phần dư). Nguyễn Du liên hệ điều này với nghịch cảnh trớ trêu của mình và thốt lời than thở: Cổ kim hận sự thiên nan vấn/ Phong vận kỳ oan ngã tự cư/ Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Cái án phong lưu khách tự mang (phong vận kỳ oan ngã tự cư) suốt đời ấy cũng đồng nghĩa với có duyên lưu lại với sách, với lòng ham mê sách, không bị u mê đắm đuối vì hoa- biểu trưng cho sự phù du của danh lợi, để có thể miệt mài đắm đuối với thứ văn chương có giá trị thiên cổ như thi bá Đỗ Phủ (Thiên cổ văn chương thiên cổ sư. Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ1).

     Toàn bộ bài thơ Điệp tử thư trung với hệ thống thi liệu và câu chữ đối lập, đã tạo nên sự tương phản giữa sự lạnh lẽo, bụi bậm, cô quạnh, đơn độc (có tiếng mọt kêu đục gỗ) với sự nồng ấm của tư tưởng, của khát vọng ẩn giấu trong sự lựa chọn & sắp xếp thi liệu, sự tương phản đối lập giữa Cái chết và Sự sống, Sự trường tồn vĩnh cửu và cái Hữu hạn mong manh… Và điều đó “tạo ra hai cảm xúc đối lập”, “các mâu thuẫn xúc động” tác động sâu sắc tới nhiều thế hệ độc giả, theo quy luật của tâm lý học nghệ thuật, như nhà khoa học nghiên cứu về nghệ thuật người Nga L.X. Vưgôtxki đã viết: “Bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào- dù một bài thơ ngụ ngôn, một truyện ngắn hay vở bi kịch - đều chứa đựng trong mình một mâu thuẫn xúc động, đều dấy lên những cảm xúc đối lập nhau… và với điều này chúng ta đang tiến sát tới cái khái niệm Catacxit mà Arixtốt đã dùng làm cơ sở để giải thích bi kịch và đã nhiều lần nhắc tới khi nói về các loại hình nghệ thuật khác… nó thực hiện, “thông qua sự thương cảm và sợ hãi, việc thanh lọc những xúc động tương tự.”(12) Sự “thanh lọc” cảm xúc này cũng là một sức mạnh nghệ thuật lớn lao trong toàn bộ tác phẩm văn chương của Nguyễn Du nói chung, và của bài thơ Điệp tử thư trung nói riêng.


Mai An Nguyễn Anh Tuấn

____________________

1. Thơ trích trong bài lấy từ: Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Lê Thước Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch. NXB Văn học 2012

2. Charles Mauron: “Huyền thoại cá nhân thể hiện những quá trình tâm lý sâu xa, nó tiết lộ một chức năng tưởng tượng có liên quan tới thời gian mà người sáng tạo đã sống qua.”- Dẫn theo: Liễu Trương. Phân tâm học và Phê bình văn học, Nxb Phụ nữ 2011, tr.149

3. Jean Chevalier và Alain Gheerbrant. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. Nhiều người dịch, Nxb Đà Nẵng, in lần thứ ba, 2015, tr.113

4. Nguyễn Du. Về tác giả và tác phẩm. Trịnh Bá Đĩnh & Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn, giới thiệu. NXB Giáo dục 1999, tr.169

5. Jean Chevalier và Alain Gheerbrant. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Sđd, tr.791

6. Kinh Thánh, Bản truyền thống hiệu đính, Liên hiệp Thánh Kinh Hội ấn hành, Nxb Tôn giáo 2011 (Sách Khải huyền 10:10, 11)

7. Alexandr Puskin. Tuyển tập tác phẩm. Thơ, Trường ca. Nxb Văn học & TT văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây HN 1999

8. L.X. Vưgôtxki. Tâm lý học nghệ thuật. Nxb KHXH &Trường viết văn Nguyễn Du, HN 1995, tr.385

9. Hêghen. Mỹ học. Phan ngọc giới thiệu và dịch. (Tập I) Nxb Văn học HN1999, tr.18

10. Lê Quế. So sánh dị bản Truyện Kiều, Nxb Hội nhà văn, 2006. Tr.29.

11. Dẫn theo: Khâu Chấn Thanh. Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Mai Xuân Hải dịch, Nxb Văn học 2001, tr. (412)

12. L.X. Vưgôtxki. Tâm lý học nghệ thuật.  Sđd, tr.339

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2051)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2279)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2743)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3187)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3472)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4010)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3485)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4391)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 2778)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 2790)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8685)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15726)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14720)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15081)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2051)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2743)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4004)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5284)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 2777)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4384)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 3889)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4615)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3184)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3472)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3485)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4391)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2279)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 2790)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 2911)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3381)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11527)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 27926)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34380)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34389)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9076)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11371)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2051)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5284)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 4989)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5031)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4354)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6335)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5556)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7221)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.