- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,177

MÙA XUÂN NẮNG ĐỔ

25 Tháng Giêng 201910:53 CH(Xem: 10220)


xuan - ul
Xuân - ảnh UL


MÙA XUÂN NẮNG ĐỔ

 

Nơi này chỉ có nắng thôi

Còn bao yêu dấu đã trôi theo người

Từ khi người bỏ cuộc chơi

Có con sáo nhỏ hót lời chia xa.

 

Nắng từ dạo ấy nhạt nhoà

Nỗi buồn trải suốt bao la tháng ngày

Mai vàng mấy độ lắt lay

Chỉ gió vờn thả hoa bay lửng lờ.

 

Mùa xuân tôi đứng ngẩn ngơ

Vu vơ hát mãi một câu mong chờ

Vươn dài chiếc bóng thẩn thờ

Ngậm ngùi nắng đổ chơ vơ bên thềm.

 

Biển Cát

 

 

GIAO THỪA

 

Đêm trừ tịch sao người không về để tôi mãi đợi

Trời cũng buồn nên cất hết những vì sao

Tôi ngước mắt lên chỉ thấy một màu thăm thẳm

Bóng tối phủ dày làm rượu sóng sánh đổ tràn tay.

 

Nhoà trong sương hương hoa đưa thoang thoảng

Mùi hương trầm hiu hắt tỏa mênh mang

Thời khắc giao thừa bâng khuâng khai bút

Dòng chữ ngập ngừng là nỗi nhớ thênh thang.

 

Mòn mỏi đi qua hết một thời tuổi trẻ

Nhặt đầy những ngậm ngùi trĩu nặng hành trang

Có bao nhiêu điều muốn quên nhưng vẫn nhớ

Để một ngày cuối năm sầu rưng rưng cố xứ quay đầu.

 

Về để nhớ để chờ một người không hẹn trước

Bao nhiêu lâu rồi mình lạc mất nhau

Dòng đời trôi chập chùng trăm nhánh rẽ

Người về một nhánh nào sao mãi mãi không tôi.

 

Đêm trừ tịch nghe buốt lòng trong nỗi nhớ

Chén rượu rót đầy chưa nhấp bỗng dưng say

Còn những muộn màng rưng rức một đời dài

Người không gặp làm sao tôi buông bỏ.

 

Biển Cát

 

 

KHÚC  XUÂN RƠI

 

I.

 

Cho tôi

Một nụ hôn này

Ngọt ngào

Giọt nước mắt đầy trên môi

Mây trên đầu

Vẫn cứ trôi

Một vòng ôm nhẹ

Lòng rời rã đau

Mai rồi

Lại lạc mất nhau

Những dòng sông chảy

Lao xao ngậm ngùi .

 

II.

 

Thì thầm

Là tiếng tôi ru

Có cơn mưa nhẹ

Mịt mù phố đêm

Nửa vầng trăng vỡ

Lặng im

Rơi trong quạnh quẽ

Lạnh chìm trong sương

Ngủ đi em

Giấc mộng thường

Lời ru tôi mãi

Vấn vương tội tình .

 

III.

 

Mưa ơi

Đổ hết nơi này

Để nơi xa đó

Chỉ đầy nắng thôi

Để em tôi

Thắp môi cười

Bờ vai vẫn ấm

Cho dù

Không tôi

Cuối năm

Vạt nắng bồi hồi

Tay buông

Nỗi nhớ

Bời rời

Qua tay.

 

Biển Cát

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 61241)
II. CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM (17/4 - 25/8/1945) Mặc dù chính phủ Trần Trọng Kim chỉ là một thứ “tai nạn lịch sử,” được khai sinh do nhu cầu quân sự của Nhật, chính phủ được Nhật bảo trợ này soi sáng mặt trái của đồng tiền cách mạng 1945 tại Việt Nam, mà cho tới năm 2010 còn bị che phủ bởi đủ loại tài liệu tuyên truyền.
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 65776)
(*).LTG: Bài này rút ra từ Phần II, “The End of An Era” [Đoạn Kết của Một Thời Đại], của Luận án Tiến sĩ [Ph.D.] sử học “Political and Social Change in Viet Nam between 1940 and 1946” đệ trình tại Đại học Wisconsin-Madison vào tháng 12/1984, dưới sự hướng dẫn của cố Giảng sư John R. W. Smail; và đã in trên Journal of Asian Studies [Tạp chí Nghiên Cứu Á Châu] vào tháng 2/1986, XLV: 2, pp. 293-328, với cùng tựa “The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Viet-Nam (March-August 1945).” Phần tư thế kỷ sau, nhân dịp sinh nhật thứ 68, và kỷ niệm 65 năm cách mạng 1945, hiệu đính lại lần chót hầu phổ biến rộng rãi hơn trong giới người trẻ Việt muốn đi tìm sự thực lịch sử.
28 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 72326)
Con tàu đã trở nên ọp ẹp, mấy mươi năm còn gì. Người ta nói đây là chuyến tàu tốt nhất hiện nay. Hành khách bực dọc phàn nàn tốt gì mà tốt, như đống sắt vụn, làm như họ là kẻ trên trời rơi xuống không bằng.
23 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 74754)
Tình yêu, cũng như chiến tranh, là hai đề tài muôn thuở của con người. Văn chương ngoại quốc nói về chiến tranh, viết về những trận chiến gần, xa trong lịch sử, chúng ta vẫn thích đọc. Vậy thì tại sao, người Việt Nam viết về chiến tranh Việt Nam lại nhàm chán?
20 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 79671)
... Tôi đã từng ăn thịt chuột. Tôi ăn vụng của em tôi. Bố cấm tôi nói cho ai biết. Bố đã cho thằng em tôi ăn bao nhiêu con chuột tôi cũng không nhớ nổi. Chỉ có điều bố thích như vậy. Bố nướng con chuột lên, thế thôi. Thằng em tôi cười hềnh hệch, nước dãi chảy dài, cầm con chuột gặm như một bắp ngô nướng. Những tảng máu chưa đông rịn đỏ hai mép. Tôi thấy đầu mình ung ung. Những hình ảnh như những mảnh vỡ lộn xộn va đập vào nhau liên hồi ...
20 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 76781)
Không ai biết cuộc sống của ai đang xáo trộn. Không ai biết ai đang nghĩ gì. Người chồng không bao giờ biết người vợ vừa gối đầu lên tay mình vừa dâm hoan với sếp của ả trong giấc mơ. Gã sếp đô con, bụng cuộn lên những bó cơ và làm tình thì miễn bàn. Người chồng không bao giờ biết âm hộ của ả nóng bừng như muốn nổ tung ra. Mà biết cũng chẳng thể chết ai vì ả là vợ của anh ta.
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 94322)
(Gởi anh Huy & chị Minh) Câu thơ còn trong trí nhớ Như mùa thu mỗi năm lại về Theo tuần hoàn trời đất Như đôi mắt em buồn giấu kín Chịu đựng An phận Cuộc đời mình mùa xuân đi qua Rất xa, rất xa...
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 78917)
Thành phố nằm bên một rẻo biển miền Trung yên bình và tĩnh lặng. Những ngày gầ n đây bổng nhiên được khuấy động bởi mấy chú cá mập, không hiểu vì sao lại lang thang vào bờ, chúng lượn lờ nơi bãi tắm trước khuôn viên trường, là bãi du lịch của thành phố. Thỉnh thoảng chúng lại ruỗi theo sóng nước cợt nhã với con người. Có hôm một chú cá mập con nhá vào mông ai đó, có hôm lại ngoạm vào giò của kẻ nào bơi đến gần. Bạn tôi phán: đất này “linh kiệt”. Tôi cười vui: Đất lành chim đậu, biển lành cá mập làm tổ .
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 79920)
Trong tình bằng hữu nhiều năm với Huy, được sự đồng ý của chị Cao Xuân Huy và hai cháu Chúc Dung & Xuân Dung, bài viết thiên về khía cạnh y khoa này, nói về một Cao Xuân Huy khác, người bệnh Cao Xuân Huy chênh vênh trên con dốc của tử sinh, đã can trường chống chỏi với bệnh tật cho tới những ngày và giờ phút cuối cùng và đã ra đi với tất cả “phẩm giá”. NGÔ THẾ VINH
19 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 68123)
Cao Xuân Huy có người cha đi kháng chiến, để lại vợ con trong thành. Rồi, 1954, ông ngoại bị đấu tố, người cậu cấp bách đem cháu, 7 tuổi, vào Nam. Mẹ ở lại Hà Nội đợi bố. Về, nhưng người cha kháng chiến, gốc tư sản, địa chủ, không thể "can thiệp" cho người mẹ khỏi diện "tự lực cánh sinh" (như đi "kinh tế mới"). Rồi họ chia nhau con cái: mẹ để lại con gái cho bố, vào Nam với con trai. Xa cách, mỗi người lập một gia đình khác, có các con khác. Huy được cậu và bà ngoại nuôi. Như một định mệnh, chuyện nhà Huy trùng hợp với chuyện đất nước, với truyền thuyết Sơn tinh Thủy tinh, với bao gia đình thời chia đôi Nam-Bắc.