- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,813

THƠ CÓ NGÀY ĐI LẠC

09 Tháng Giêng 20198:38 CH(Xem: 10044)


NGUYEN THI KIM LAN -2018R
Nhà thơ Nguyễn Thi Kim Lan - 2018

GẶP NGƯỜI TRONG MỘNG ANH

 

Đưa tay em nắm bàn tay
Người yêu anh đã bao ngày dấu yêu
Lối xưa dù đã xanh rêu
Vẫn phong hương của những chiều anh mong


Bụi cúc tần khúc ngõ cong
Làn mưa bay với triền sông hôm nào
Gió mưa, biển động, sóng gào
Mỏng manh tình biếc ném vào nát tan


Xa người anh mới gặp em
Thơ xưa hong nắng bên thềm gửi trao
Khóc người trong giấc chiêm bao 
Thơ mang đau lạ thấm vào vui quen


Cầm tay người thuở chưa em
Đong đầy không chỉ tình riêng chúng mình.

 

 

Nguyễn Thị Kim Lan

Tháng 1.2019

 


BÀI THƠ VĂN XUÔI CUỐI

( Kính viết về K.T.)

 

 

Anh là hoạ sĩ, là nhà thơ, là nhà viết truyện. Anh lội đến miền nghệ thuật 
từ bùn máu chiến tranh. 
Thay vì học xướng âm học vẽ, như bao chúng ta, anh học bắn súng và học thù hằn. 
Không ai ra khỏi được bầu trời này. Ngay đến Chúa cũng treo mình trên đinh ác, đổ máu ròng trên những điều răn .

 

Anh đi khỏi trận chiến như ta nhưng rẽ về ngả khác. Anh học tẩy trần bằng thơ bằng nhạc, lam lũ bần hàn đi qua mang vác, kiềm toả căm thù đổi bằng bao dung. Mất mát thanh xuân hoá thành gấp gáp.

 

Rồi như đá vào ngày êm mát, bỗng mồ hôi thác lũ trùng trùng. Anh đổ bệnh trên xe về miền chết. Bất kể vân yêu cứ mướt mát xanh. Không thể pha màu không thể vẽ tranh. Không chạy ù vào sân vung rìu chém đá, ở bệnh viện đêm ngày mệt lả.


Anh viết bài thơ trên nỗi long lanh.
Nào có thể mang đi xa mãi, dẫu bạc
vàng dẫu mái tóc xanh. Đem hết cả nhựa con tim ròng chảy, anh vẽ yêu tràn nên bức anh!

 

Tôi đến sau nhặt lên trang sách. Hứng câu thơ sương giọt đầu cành. Biết là tấc lòng anh bỏ lại. Tối bón hồn mình yêu tiếp anh!

 

 

Nguyễn Thị Kim Lan

Tháng giêng 2019

 

NGÀY ĐI VẮNG

 

 

Chẳng có quyền gì hôm nay em được nghĩ đến mình 
Hôm qua tưởng niệm ở Việt Nam và Campuchia
Bao nhiêu người chết không 

còn tìm được cốt 
Tác giả Khúc hát sông quê đã ra đi sau những ngày ốm mệt
Dù ông khiến ta thao thiết 

mỗi hạt vừng 
Dù đã vỗ dạt dào ta bé dại lớn khôn 
Khi về đến ngực đời mà úp mặt
Phận mọn một con người 
Cái đa đoan của cả lớp người 
Đôi má heo hon của thơ ca tháp ngà hay tục luỵ.


Vào một ngày ủ ê như thế
Bỗng liêu xiêu trắng muốt bóng cò 
Bóng cò lặn lội
Không dành yêu em, anh không có tội 
Em ngược đò đầy em phải đa đoan
Mẹ cha xác xơ lội suối băng ngàn 
đem về nuôi con miếng bùi miếng đắng
Tổ quốc trẻ thơ có ngày đi lạc 
Yêu mà quặn nỗi mồ côi.

 

Anh không yêu em cứ thắm thiết

yêu người
Không thuộc về anh, em tìm ra bể 
Nhớ mẹ nhớ cha tím vườn hoa khế 
Đất nước máu ròng chung thuỷ mà 

ôm

 

Cây hồng xanh cứ thế mà thơm
Xanh cứ thể vì người mà kéo mật
Em vẫn lại vì anh mà vui hát 
Mưa soi trời đâu kể lẽ thiệt hơn


Nguyễn Thị Kim Lan

 

 

MI THỨ MÙA KHÔNG

 

Anh đến vào đêm giao thừa
Những giọt mưa rơi như phím đàn mê mải
Ngón lỡ chạm tay xoá mùa đông năm ngoái 
Có mùa nay không còn đang rối bời.

 

Em nhớ tiếng rơi nụ cười 
Đâu va vào mùi cà phê tàn đêm cổ tích
Em ở bên tường mưa run vì rét
Biết anh đang viết câu thơ hong ấm ngón mùa.

 

Quá nhiều tháng năm anh không biết em chờ 
Sao anh nghe giọt trong veo 

trên mái 
Sao cúi lượm tiếng đêm thơ dại 
Tiếng rơi bay lên bay lên.

 

Hai hôm nay trời đỡ lạnh hơn 
Nhưng lạ thay thà rằng cứ lạnh 
Tiếng mưa tan đi đâu đi đâu 
Những trang sách giở ra mấy mươi lần gấp lại.

 

Tên anh trên màn hình điện thoại 
Điện thoại nóng đến kiệt pin 
Cuộc tránh đi dùng dằng thành bại 
Rồi như kinh điển kiếm tìm.

 

Thật ra những được mất vô lường 
Thơm đến nỗi loài hoa không có thực 
Em thích nhớ chiều xưa anh thao thức 
Trao em bài mi thứ của mùa không.

Nguyễn Thị Kim Lan

 

 

 

 

NÀY EM, YÊU EM

( Tặng Lyna Tran, Thi Dung , Dung Văn yêu dấu)

 

 

Thì em hãy cứ quên anh nhé
Quên cuộc tình phai trong nắng ong
Cứ quên mùa cũ làn hương héo 
Cứ gửi buồn đau anh thức trông.

 

Thì em hãy cứ tin đi nhé
Tin những ngày sương ta đã trong
Tin con tim vỡ từng xanh mướt
Tin phiến đi trầm trên bước mong.

 

Thì em hãy cứ vui lên nhé
Đến uống tình anh vươn lá xanh
Hãy vin mùa ngọt anh dâng trái
Để khép mi hoen giấc mộng thanh!

 

Nguyễn Thị Kim Lan

 


BÙA YÊU

 (Tặng Ban Mai, Bảo Đan và các Thanh Xuân)

 

Này anh 
Hãy hứa cùng em
Nghe em xong lòng không bối rối
Nghe em xong đừng tin em vội
Nghe em xong nhớ bỏ đi ngay.

 

Nhắm mắt nào 
Em sẽ nói đây
Lời đầu tiên bằng non sắc lá
Anh hé mắt thì anh hư quá
Hồn không xanh em sẽ buồn anh.

 

Lời tiếp theo 
Nói qua âm thanh 
Hai tay nhớ bưng tai anh nhé 
Anh nghe không nụ mưa đang hé
Trên mấy tầng u uất bão giông.

 

Em lặng im rồi anh có biết không
Điều muốn nói em gõ vào mơ khát 
Bài ca đêm nồng nàn sóng biếc 
Viết xong rồi 
Em xoá hết
Bằng không!

 

Nguyễn Thị Kim Lan

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
10 Tháng Giêng 201910:44 SA
Khách
Tuyệt vời lắm em!
10 Tháng Giêng 20198:35 SA
Khách
Thơ cô Lan viết về tình yêu có cái mãnh liệt, trong trẻo của tuổi thanh xuân; có chút da diết, khắc khoải của nỗi cô đơn đi tìm sự đồng điệu; có sự đau đáu, day dứt trước nhân tình thế thái của một trái tim nhân hậu, bao dung. Đọc thơ cô, ở bất kì bài nào cũng có câu thơ, hình ảnh, chữ khiến ta bị ám ảnh khó quên!
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 995)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1072)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1780)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5820)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5803)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13159)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30006)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81112)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20220)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 340)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”