- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,667

THƠ NGUYỄN THỊ KIM LAN

06 Tháng Giêng 20196:13 CH(Xem: 10597)



NgThiKimLan-f5
Nhà thơ Nguyễn Thị Kim Lan -2019


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Nguyễn Thị Kim Lan sống ở Hải Phòng. Tốt nghiệp đại học sư phạm Hà Nội khoa ngữ văn. Là chuyên viên Khoa Ngữ văn của Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng. Chủ biên và tác giả bộ sách giáo khoa Ngữ văn Hải Phòng và các tài liệu học tập khác.

Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu những thi phẩm của nhà thơ Nguyễn Thi Kim Lan.

Tạp Chí Hợp Lưu



 


NHƯ MỘT GIẤC MƠ


Khi em sinh ra
Hình như bà mụ thứ mười hai đã ngầm trao cho anh chìa khoá mở em
Đề phòng sau này em lạc.

Em tìm anh nơi này nơi khác
Ở sâu trời
Ở chót vót biển cao
Khi sớm chiều, khi giữa chiêm bao
Lúc sông dâng , khi thuyền mắc cạn.

Em tìm anh ngược con gió bấc
Ngộ nhận Hawking, từ hố đen đến
song sinh.
Như một bài thơ từ thuở trắng tinh,
Em trải nắng sáng trên câu chữ
Đêm không ngủ giữ nồng hơi thở
Chỉ sợ thiếp đi lúc anh hiện ra.

Anh bỗng gọi em mai hừng hôm qua
Cởi chiếc áo ủ em tiếng nấc
Trong vạn kỉ ngày sau xa khuất
Anh đợi em
Anh đợi dấu vân em.

Ta xa vạn ngày ta lại thân quen
Anh thiếp ngủ trời sao xanh biếc
Anh thức giấc, huyền đêm tan hết
Em đi rồi
Gió ngang mi hoen.

 

Nguyễn Thị Kim Lan

 



ĐI QUA MÙA KHÔNG ANH

(Tặng Dung)


Em ra đường mùa đông
Vì mấy điều không thể bỏ
Thương trong ánh đèn đường
Những người khốn khó
Hát trong khi lòng buồn rầu
Để xin được đồng tiền của sự mủi lòng đúng cách
Em đi qua nghe xong bài hát
Nước mắt thì đầm đìa mà không thả đồng tiền nào vào hòm từ thiện
Em không làm vì ngại ngần lòng thương phù phiếm
Cho ai để được yên lòng.

Em thích ra đường vào mùa đông
Cây giữ hương suốt mùa để thơm dâng hiến
Đêm giáng sinh mà trăng rằm
lại hiện
Như cả những hai lần ta được hôn nhau
Anh yêu em em có biết đâu
Giờ em nhớ anh chỉ lòng em khôn xiết
Con đường từ cầu tầu ra bến nước
Không một rét mướt đường mưa
Người thợ trên cầu tàu ngồi ngắm trăng khuya
Qua một đêm không thấy tay mình dầu mỡ.

Đêm mùa đông lòng em đổ vỡ
Biết rằng em nhớ anh
Một chiều đến mười lần em vào trang anh mà soi xét
Thấy anh làm thơ về nỗi buồn khác
Nước mắt em chảy dài

Thôi, ta còn có ngày mai
Em tỉnh dậy sau cơn say vô cớ
Bật màn hình nhắn anh: Em nhớ
Rồi đi qua mùa đông không anh!

Nguyễn Thị Kim Lan

 

ĐÊM

Khi em đến , anh xuân đã tươi
Đã tương tư đã biết yêu rồi
Giọt thơ nắng hong buồn vai ấm
Áo của giai nhân, lụa mây trôi

Anh hát anh đàn em bé xíu thôi
Anh mở cửa xoay chiều em không biếc
Anh dịu hiền khát khao tha thiết
Gió biết em thương giấu hộ em lời


Như mọi con người em có cuộc đời
Anh xoay xở thơ bên kia tường lửa
Câu hát anh đủ già không vang nữa
Gió hoà âm mang đến tiếng em cười


Em nghe ngày và đêm tới mặt trời
Dài rộng đủ để ôm anh vạm vỡ
Em còn thức khi anh đã ngủ
Đêm tựa nhung tựa tiếng ru nôi


Em sẽ yêu anh khi em chết thật rồi
Hồn xanh trẻ treo trên đầu ngọn tháp
Anh ngủ say nghiêng còn em khẽ hát
Ru mộng lành cho yêu vạn xa xôi.


Nguyễn Thị Kim Lan

 


NGÀY BIỂN LẶNG

Một ngày không xa
em bình thản nói cười
thấy anh đi cùng người khác

cố hình dung mình từng cười
từng khóc
héo hon cội rễ buồn đau
khi anh bỏ đi rồi
đi đã thật lâu

một ngày
khi tất cả về nhau
nhoà vào vô nghĩa
qua nghìn dâu bể
em mỉm cười hiểu rằng
yêu anh là học xa chia.

Nguyễn Thị Kim Lan

 


KHÔNG HỐI TIẾC

Cho một ngày chẳng thể giấu vào đâu
Nhan sắc mọn dưới mặt trời ngày hạ
Gầy guộc bấy mùa màng tiêu thương quá
Vàng ngọc trốn rồi em chẳng dối được đâu

Em tìm anh suốt chín ngọn suối sâu
Mười đỉnh dốc mặt trời như cạn lửa
Con chim xanh lạc lời nguyền đôi lứa
Hót năm ròng tháng rãi để tìm nhau

Cho một ngày chẳng thể giấu nỗi đau
Bao mất mát của mùa yêu ngút ngát
Giống như thế đợi ngày anh nghe hát
Ngực máu ròng em nhổ chiếc gai sâu

Câu ngọt câu đằm câu trước câu sau
Câu cay đắng trộn mặn lòng trong trắng
Câu viết lại khát thầm trên năm tháng
Em hát rồi em lại lội sông sâu

Có nghĩa gì dù chậm hay mau
Lời ta hẹn đinh ninh đằm trang sách
Từ cái lúc gặp anh rồi em khác
Anh vô ngần anh chẳng biết gì đâu!

NGUYỄN THỊ KIM LAN

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
30 Tháng Sáu 20198:10 SA
Khách
Tôi đã đọc thơ Kim Lan, đã gặp gỡ Kim Lan (theo cả hai, nghĩa đen và nghĩa bóng). Cảm nhân của tôi về chị là đặc biệt. Đoc thơ chị là đi vào một thế giới nội tâm phong phú, chung riêng hoà quyện...giống như một trải nghiệm, thám hiểm miền đất lạ mà không giống một tua du lịch có sẵn. Xin cảm ơn Dòng chảy HỢP LƯU và KIM LAN.
08 Tháng Giêng 20192:55 CH
Khách
Tôi yêu thích tạp chí này bởi sự thân mật, cởi mở; bởi tạp chí lấy niềm đam mê cái đẹp và cái thiện làm mục đích. Trân trọng cảm ơn tấm chân tình của TCHL.
07 Tháng Giêng 201912:10 CH
Khách
Hay thật. Đọc thơ chị Nguyễn Kim Lan bao giờ cũng nồng nàn cảm xúc và độc lạ trong câu từ. Thơ từ lâu thật xa lạ với mọi người, với cả chính mình. Nhưng đọc thơ chị không bao giờ chán. Gặp chính mình mà lại không phải mình. Ở thơ chị có mỗi chúng ta lại có một hình mẫu nào đó mà ta gắng vươn tới. Mong những áng thơ như này lan tỏa mạnh mẽ hơn. Cảm ơn Hopluu
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1057)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1133)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1822)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5864)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5833)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13181)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30060)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81192)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20235)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 317)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối