- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,583

THƯ TÌNH TRÊN DÒNG KÊNH NGÃ BẢY

13 Tháng Sáu 201812:14 SA(Xem: 12670)
DoiBan - photoDH
Đôi bạn - ảnh ĐH


"Ghe chiếu Cà mau đã cắm sào trên dòng kênh ngã Bảy,
sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào?"...


Chiều nay xe lại chạy qua Hậu giang, qua thị xã Ngã Bảy giữa cơn mưa trắng trời, mù mịt, mưa buồn đến đứt ruột, hắt hiu.

Vậy mà bác tài còn vặn to radio cho giọng ca mùi mẫn của tài tử Út Trà ôn khuấy đảo cồn cào ruột gan, như thể cơn mưa trắng trời hiu quạnh ngoài kia chưa làm cho lòng người đủ thê thiết.

Thị xã Ngã Bảy là nơi gặp nhau của bảy dòng kênh Cái Côn, Búng Tàu, Mang Cá, Sóc Trăng, Lái Hiếu, Xẻo Môn, Xẻo Dong.

Từ thị xã Ngã Bảy vào đến thị trấn Trà Lồng qua mấy cây cầu nhỏ, có cây cầu tên rất ngộ và gây tò mò; "cầu Chín Muồi", ai đó trên xe cười hắt khi anh lơ xe rao to "cầu Chín muồi, bà con có ai ghé hông?" . Cầu chi mà tên gợi tình, chắc tình anh bán chiếu đã được cô nàng ngoái lại đây mà! Ai đó kể chuyện tiếu lâm: tên cây cầu này không hay bằng cầu "Nín thở" trên đường đi Tánh Linh, Bình Thuận, ai đi ngang đó cũng nín thở, vì chỉ cần thở khì một hơi mạnh là xụm cả cầu lẫn xe, xụm nguyên xâu! Cả xe cười rần rần. Chỉ có em ngồi lặng, môi không nhếch nỗi nửa miệng cười. 

Em không dừng lại ở bến phà Trà Lồng. Cái Bến phà rộng có 3 bước chân, con phà quay đầu ngang là vào bờ, quay đầu lại là sang bờ bên kia! Cả cái phà chỉ chở được 1 xe hơi, vé 1.000 đồng 1 người qua phà rẻ rề như cho không, chạy qua chạy lại coi lục bình chơi cũng chỉ có 2,000- đồng vé khứ hồi. Mà mùa này lục bình trôi lềnh khênh hết một khúc sông, như lục bình của cả dòng Hậu Giang dồn về mắc kẹt vào bến Trà Lồng!

Em không dừng lại ở bến Trà Lồng, mà con tim em, như đám lục bình trổ hoa tím màu rưng rưng chết lặng kia đã kẹt lại mãi ở bến Trà lồng. Linh hồn em thì lang thang qua cây cầu gổ dựng đứng ú tim bắt ngang lộ đất, qua vườn cau nhà ai lừng lững trổ hoa trắng ngát mùa nước nỗi, qua mấy ruộng lúa chét ngóc đầu lên trong nước lờ đờ, nhớ anh cầm ngang nhánh bông lúa thở dài:

- Đồng chết trắng trong mùa nước nỗi, chỉ rặt một loại lúa lép mọc hoang cho vịt bơi đàn đi ăn rĩa. Mà cả đồng chỉ có nắm lúa, ai đâu gặt hái tranh ăn với vịt mần chi!

Linh hồn em lang thang qua mấy ngôi mả trên gò đất nỗi giữa đồng nhô cao trong nước ngập. Dân mình bao đời vẫn vậy, sinh ra ở ruộng, sống với ruộng, chết cũng chôn ngay trên ruộng nhà, vừa gần gũi vừa quanh quẩn bên ruộng vườn không muốn rời, vừa được mỗi ngày ngó thấy người thương.

Ừa, được mỗi ngày ngó thấy người thương... Có lần em nói với anh:

- Mai này em chết, em chỉ muốn chôn ngay sau ruộng nhà mình. Để mỗi ngày đều được gần người mình thương.

- Dì Út nói chuyện bao đồng, còn tươi như lúa ngậm sửa mà đã tính chuyện mai chôn. Mùa khô còn đỡ, mùa nước lên, chỉ có ngôi mộ trơ trọi giữa ruộng nước mênh mông, thấy quạnh quẽ se lòng lắm. Người thương chắc cầm lòng không đặng!

Linh hồn lang thang qua hiu hắt chợ quê, như ai níu chân lại, đi không rời. Đi đâu xa rôi vẫn nhớ nhất chợ quê. Thức ăn tươi rói mới hái từ liếp rau sau nhà, rùa rắn tôm cá đồng từ bảy dòng sông tụ về, một nhắm rau sam chua, đọt bí nham nhám, bắp chuối sứ non, củ khoai từ lừ đừ, trái cà chua vườn nhỏ đèo đẹt, mấy trái me chín dốt, cọng đậu đũa tươi ngon, đọt rau lang mướt mắt, rau má đồng, rau đắng đất...tất cả đều được bày ra trên rỗ nhựa ,mẹt tre bắt mắt. Thêm em, cô nhỏ hồn nhiên khoe cái răng khểnh và giọng nói rặt Nam bộ quê đớt mời chào:

- Anh ăn gì em hôn? 

Anh kỹ sư nông nghiệp mới tốt nghiệp ra trường, mắt nhìn gom cả cánh đồng và khói đốt đồng, vừa mênh mông, vừa đau đáu.

Chị Hai hay thở dài:

- "Thằng chả" chỉ ham ăn cơm nhà, vác gạc chà hàng xóm! Được mỗi cái tính tình hiền lành như đất, không rựơu, chè, cờ bạc, gái gú như trai làng.

"Gạc chà hàng xóm" là giấc mơ ba vụ mùa một năm, trồng lúa theo mùa nước nỗi cho cả đồng bằng sông Cửu long. Là những ngày miệt mài chèo xuồng lang thang trên cánh đồng trắng mùa nước nỗi, nhìn quanh tứ bề chỉ có rập rờn bông điên điển vàng rộm, lúa chét ngã nghiêng và gò nỗi quạnh quẻ, mây trắng cuối trời bềnh bồng. Một chiều như thế anh dúi cho em cây kẹp ba lá:

- Dì Út tóc dài rồi, kẹp lên cho gọn ghẽ. Mà tóc đẹp như vầy đừng có ham đua đòi kiểu nọ kia, cắt ngắn lên mất duyên con gái.- rồi lãng tránh tia nhìn sững sờ của em- dì cũng đừng ngó lom lom anh nào bằng đôi mắt đó, tội cho người ta đi lạc.

Không biết rồi có ai sẽ đi lạc. Chỉ biết em bắt đầu những ngày tháng lạc hồn mơ mộng bâng quơ. Đêm dài trằn trọc nhọc nhằn những giấc mơ đứt khúc có đôi mắt mênh mang khói đồng và bờ vai lực lưỡng đàn ông đậm mùi hương đất ruộng.

Rồi cứ như thế mà em đi lạc khỏi Trà Lồng, sau cái chiều chị ngồi xõa tóc bên sàn nước, miệng cười tươi rói nắng:

-  Chị đã có em bé rồi Út!

- Với ai ? - em ngơ ngẩn hỏi.

- Với "thằng chả" chứ với ai. Út hỏi ngộ không! Chị tính rồi mai này làm đám cưới, Út làm phù dâu cho chị.

Rồi cứ như thế mà em chạy khỏi Trà Lồng. Con phà quay mình là bắt mũi qua bờ bên kia, ngó lại đã thấy tít mù mênh mang như thể cách cả biển rộng. 

Chị Hai dạo này cũng làm siêng up hình lên face, còn biết tag cả tên em, để "con nhỏ lang bang biết tin nhà". Tấm hình anh ẳm thằng nhỏ ngộ nghĩnh bụ bẫm, mắt cười tròn xoe bên anh như hai mặt trời nhỏ chói nắng. Hai mặt trời trong mắt em nhòe làm một. Ngó thương sao là thương.

Mà sao không thương đứt ruột , thằng nhỏ là cháu trai của em,  anh là chồng của chị Hai em.

Thương như chiều nay khi nắng còn dùng dằng chưa biết rớt về đâu trên kênh ngả Bãy hội tụ bảy dòng sông. Rồi mặt trời dừng lại trên Trà Lồng.

Có một người mãi theo cơn mưa trắng trời mà đi xa. Để mặt trời được ở lại trên đất Trà Lồng.

UYÊN LÊ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 991)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1069)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1778)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5804)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5790)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13154)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29994)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81094)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20216)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 299)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”