- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,447,543

THƯ TÌNH TRÊN DÒNG KÊNH NGÃ BẢY

13 Tháng Sáu 201812:14 SA(Xem: 8010)
DoiBan - photoDH
Đôi bạn - ảnh ĐH


"Ghe chiếu Cà mau đã cắm sào trên dòng kênh ngã Bảy,
sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào?"...


Chiều nay xe lại chạy qua Hậu giang, qua thị xã Ngã Bảy giữa cơn mưa trắng trời, mù mịt, mưa buồn đến đứt ruột, hắt hiu.

Vậy mà bác tài còn vặn to radio cho giọng ca mùi mẫn của tài tử Út Trà ôn khuấy đảo cồn cào ruột gan, như thể cơn mưa trắng trời hiu quạnh ngoài kia chưa làm cho lòng người đủ thê thiết.

Thị xã Ngã Bảy là nơi gặp nhau của bảy dòng kênh Cái Côn, Búng Tàu, Mang Cá, Sóc Trăng, Lái Hiếu, Xẻo Môn, Xẻo Dong.

Từ thị xã Ngã Bảy vào đến thị trấn Trà Lồng qua mấy cây cầu nhỏ, có cây cầu tên rất ngộ và gây tò mò; "cầu Chín Muồi", ai đó trên xe cười hắt khi anh lơ xe rao to "cầu Chín muồi, bà con có ai ghé hông?" . Cầu chi mà tên gợi tình, chắc tình anh bán chiếu đã được cô nàng ngoái lại đây mà! Ai đó kể chuyện tiếu lâm: tên cây cầu này không hay bằng cầu "Nín thở" trên đường đi Tánh Linh, Bình Thuận, ai đi ngang đó cũng nín thở, vì chỉ cần thở khì một hơi mạnh là xụm cả cầu lẫn xe, xụm nguyên xâu! Cả xe cười rần rần. Chỉ có em ngồi lặng, môi không nhếch nỗi nửa miệng cười. 

Em không dừng lại ở bến phà Trà Lồng. Cái Bến phà rộng có 3 bước chân, con phà quay đầu ngang là vào bờ, quay đầu lại là sang bờ bên kia! Cả cái phà chỉ chở được 1 xe hơi, vé 1.000 đồng 1 người qua phà rẻ rề như cho không, chạy qua chạy lại coi lục bình chơi cũng chỉ có 2,000- đồng vé khứ hồi. Mà mùa này lục bình trôi lềnh khênh hết một khúc sông, như lục bình của cả dòng Hậu Giang dồn về mắc kẹt vào bến Trà Lồng!

Em không dừng lại ở bến Trà Lồng, mà con tim em, như đám lục bình trổ hoa tím màu rưng rưng chết lặng kia đã kẹt lại mãi ở bến Trà lồng. Linh hồn em thì lang thang qua cây cầu gổ dựng đứng ú tim bắt ngang lộ đất, qua vườn cau nhà ai lừng lững trổ hoa trắng ngát mùa nước nỗi, qua mấy ruộng lúa chét ngóc đầu lên trong nước lờ đờ, nhớ anh cầm ngang nhánh bông lúa thở dài:

- Đồng chết trắng trong mùa nước nỗi, chỉ rặt một loại lúa lép mọc hoang cho vịt bơi đàn đi ăn rĩa. Mà cả đồng chỉ có nắm lúa, ai đâu gặt hái tranh ăn với vịt mần chi!

Linh hồn em lang thang qua mấy ngôi mả trên gò đất nỗi giữa đồng nhô cao trong nước ngập. Dân mình bao đời vẫn vậy, sinh ra ở ruộng, sống với ruộng, chết cũng chôn ngay trên ruộng nhà, vừa gần gũi vừa quanh quẩn bên ruộng vườn không muốn rời, vừa được mỗi ngày ngó thấy người thương.

Ừa, được mỗi ngày ngó thấy người thương... Có lần em nói với anh:

- Mai này em chết, em chỉ muốn chôn ngay sau ruộng nhà mình. Để mỗi ngày đều được gần người mình thương.

- Dì Út nói chuyện bao đồng, còn tươi như lúa ngậm sửa mà đã tính chuyện mai chôn. Mùa khô còn đỡ, mùa nước lên, chỉ có ngôi mộ trơ trọi giữa ruộng nước mênh mông, thấy quạnh quẽ se lòng lắm. Người thương chắc cầm lòng không đặng!

Linh hồn lang thang qua hiu hắt chợ quê, như ai níu chân lại, đi không rời. Đi đâu xa rôi vẫn nhớ nhất chợ quê. Thức ăn tươi rói mới hái từ liếp rau sau nhà, rùa rắn tôm cá đồng từ bảy dòng sông tụ về, một nhắm rau sam chua, đọt bí nham nhám, bắp chuối sứ non, củ khoai từ lừ đừ, trái cà chua vườn nhỏ đèo đẹt, mấy trái me chín dốt, cọng đậu đũa tươi ngon, đọt rau lang mướt mắt, rau má đồng, rau đắng đất...tất cả đều được bày ra trên rỗ nhựa ,mẹt tre bắt mắt. Thêm em, cô nhỏ hồn nhiên khoe cái răng khểnh và giọng nói rặt Nam bộ quê đớt mời chào:

- Anh ăn gì em hôn? 

Anh kỹ sư nông nghiệp mới tốt nghiệp ra trường, mắt nhìn gom cả cánh đồng và khói đốt đồng, vừa mênh mông, vừa đau đáu.

Chị Hai hay thở dài:

- "Thằng chả" chỉ ham ăn cơm nhà, vác gạc chà hàng xóm! Được mỗi cái tính tình hiền lành như đất, không rựơu, chè, cờ bạc, gái gú như trai làng.

"Gạc chà hàng xóm" là giấc mơ ba vụ mùa một năm, trồng lúa theo mùa nước nỗi cho cả đồng bằng sông Cửu long. Là những ngày miệt mài chèo xuồng lang thang trên cánh đồng trắng mùa nước nỗi, nhìn quanh tứ bề chỉ có rập rờn bông điên điển vàng rộm, lúa chét ngã nghiêng và gò nỗi quạnh quẻ, mây trắng cuối trời bềnh bồng. Một chiều như thế anh dúi cho em cây kẹp ba lá:

- Dì Út tóc dài rồi, kẹp lên cho gọn ghẽ. Mà tóc đẹp như vầy đừng có ham đua đòi kiểu nọ kia, cắt ngắn lên mất duyên con gái.- rồi lãng tránh tia nhìn sững sờ của em- dì cũng đừng ngó lom lom anh nào bằng đôi mắt đó, tội cho người ta đi lạc.

Không biết rồi có ai sẽ đi lạc. Chỉ biết em bắt đầu những ngày tháng lạc hồn mơ mộng bâng quơ. Đêm dài trằn trọc nhọc nhằn những giấc mơ đứt khúc có đôi mắt mênh mang khói đồng và bờ vai lực lưỡng đàn ông đậm mùi hương đất ruộng.

Rồi cứ như thế mà em đi lạc khỏi Trà Lồng, sau cái chiều chị ngồi xõa tóc bên sàn nước, miệng cười tươi rói nắng:

-  Chị đã có em bé rồi Út!

- Với ai ? - em ngơ ngẩn hỏi.

- Với "thằng chả" chứ với ai. Út hỏi ngộ không! Chị tính rồi mai này làm đám cưới, Út làm phù dâu cho chị.

Rồi cứ như thế mà em chạy khỏi Trà Lồng. Con phà quay mình là bắt mũi qua bờ bên kia, ngó lại đã thấy tít mù mênh mang như thể cách cả biển rộng. 

Chị Hai dạo này cũng làm siêng up hình lên face, còn biết tag cả tên em, để "con nhỏ lang bang biết tin nhà". Tấm hình anh ẳm thằng nhỏ ngộ nghĩnh bụ bẫm, mắt cười tròn xoe bên anh như hai mặt trời nhỏ chói nắng. Hai mặt trời trong mắt em nhòe làm một. Ngó thương sao là thương.

Mà sao không thương đứt ruột , thằng nhỏ là cháu trai của em,  anh là chồng của chị Hai em.

Thương như chiều nay khi nắng còn dùng dằng chưa biết rớt về đâu trên kênh ngả Bãy hội tụ bảy dòng sông. Rồi mặt trời dừng lại trên Trà Lồng.

Có một người mãi theo cơn mưa trắng trời mà đi xa. Để mặt trời được ở lại trên đất Trà Lồng.

UYÊN LÊ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1974)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 5859)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 2951)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 447)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 440)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 480)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.
14 Tháng Năm 20209:18 CH(Xem: 678)
đã qua hơn hai ngàn ba trăm bốn mươi lăm ngày đêm / thời gian không gian ngả màu / cái còn lại duy nhất / của anh của em / vẫn không ngừng mọc lên
14 Tháng Năm 20209:02 CH(Xem: 483)
Ầu ơ ru lại ầu ơ / Mẹ tôi gánh nước trăng mờ bến sông / Chưa khôn mẹ đã theo chồng / Chốn quê mẹ gửi bụi hồng níu chân / Dây trầu non nhánh ngoài sân / Mẹ theo cha bước duyên trần từ đây /
14 Tháng Năm 20208:50 CH(Xem: 455)
những hạt mưa lớn từ cơn u uất tháng tư mộng du / vấp vào giấc mơ đóng kín cửa / ngã sóng xoãi / vỡ tràn trên mặt kính /
14 Tháng Năm 20208:43 CH(Xem: 391)
Vẽ một đường mây trên vai áo / Ngó thấy bình minh giữa xế chiều / Bàn tay ai vẫy mùa dông bão / Đất ngữa nghiêng chìm theo gió reo.