- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,856

Người mang nước: tập thơ của Như Quỳnh de Prelle

28 Tháng Tư 201812:46 SA(Xem: 11240)


nhuquynh


Người mang nước
tập thơ của Như Quỳnh de Prelle
Nhà xuất bản Sống (4/2018, Hoa Kỳ)

 

 

Lời tác giả:

 

Người mang nước gồm 3 phần Nỗi buồn trên cây, Nhiệt đới buồn và Babel như một tuyển tập thơ suốt từ thời thanh xuân 20 cho đến thời điểm hiện tại.

Tiếng Việt là ngôn ngữ tôi viết và sáng tác khi tôi không còn thường xuyên ở quê hương Đất Mẹ. Ngôn ngữ ấy cho tôi khám phá và hiểu biết hơn về những địa lý khác nhau trên trái đất này giữa những giọng nói khác nhau, giữa những ngôn ngữ khác…. Ngôn ngữ ấy cho tôi kiệt cùng của chữ, của tình, của những tan biến, mất mát, trong sự vô vọng có khi hy vọng chỉ như một tia nắng, hay một mầm non. Tôi đã hiểu hơn đời sống thường ngày, hiểu hơn con người không xa lạ, dù bất kể nơi nào, ở đâu, những nơi tôi dừng lại, tôi đi qua. Nghệ thuật thường ngày trở thành luồng dẫn điện truyền cảm hứng cho những nhận thức, cảm quan cuả qua những sự sống đơn giản, bình thường mà thành thi ca. 

Như Quỳnh de Prelle

 



Thi ca và thời tiết

 

mùa đông 016

như một bài thơ thất thường

ngẫu hứng

tuyết hiếm hoi

cạn kiệt

thời tiết chuyển biến sang như xuân

nắng lên ấm áp

thiếu những bông hoa xinh

hương thơm của đất trời

 

thòi tiết là một ví dụ

cho những biến dổi

như thi ca

nhận ra những dấu hiệu của dự báo

sự vận động tự nhiên

trong các quy luật

thoát khỏi ý thức chủ quan

của loài người

 

những biến đổi cũng là hậu quả của loài người

tàn phá thiên nhiên

sự sống trên trái đất

như bài thơ chạm vào nỗi đau

sự thay thế

tột cùng

của một ý thức cá nhân

là thi ca

với chủ nhân của nó

là một ai đó

đại diện cho chính họ

nhìn thấy nỗi đau chung

 

một bài thơ thất thường

thường buồn hơn vui

bản chất của chúng ta là nỗi buồn sâu thẳm

sự rạn nứt trong cái tinh tế mỏng manh

niềm vui đi qua nhanh

trong sự tràn ngập

làm cho con người nhớ mãi

khát khao

 

mùa đông năm nay

thất thường

như một bài thơ

như tính chất dự báo của thi ca

như hậu quả của loài người

như một ví dụ

chúng ta luôn biến đổi

thay thế nhau

những trạng thái

sự tồn tại

 

thi ca là thời tiết

cho con người chạm vào nỗi đau

sự mất mát

niềm hy vọng

trong bóng tối và cả ánh sáng

 

mùa đông là thi ca

thất thường như thời tiết

 mênh mang như người đàn bà ngoài 30

đằm sâu

duyên dáng

 

 

 

Cơn bão tháng 3

 

làm vườn hoa ở ban công của nàng bị dập nát

đất nâu được gió đưa ra khỏi những chiếc hộp gỗ

cơn bão tháng 3 ướt nhoà ô cửa kính

gió đập vào tường thành những gào thét

 

cơn bão tháng 3 là những tiếng nổ

ở phi trường

và nhà gare tàu điện ngầm

bởi bàn tay bọn cực đoan khủng bố

những tị hiềm với văn minh nhân loại

 

cơn bão tháng 3 còn lại trên thịt da

những vết đau

cả những cái xác tan tành không chứng nhận được ID của ai

trên những bông hoa và nến

ngập tràn nước mắt

máu chôn ở đâu

 

 

Tôi nhìn thấy thành phố đang chậm trôi

trên những ngày tang tóc

của những nạn nhân vô danh

của những tiếng nổ

sự lặng im

nín thinh

 

Tôi nghe thấy tiếng gió thổi mùa bão về

rung chuyển những hàng cây

những ô cửa

những chậu hoa ngoài ban công

tiếng chim lạc nhau

trong mưa ướt lệ nhoà

 

Tôi ngắm bầu trời của thành phố

lặng yên

những chiếc máy bay nằm nguyên ở phi trường

với bao linh hồn lang thang

không quê hương

không gia đình

 

Tôi chạm vào nỗi đau của loài người

dường như thua cuộc

trước cái ác

sự tị hiềm khác biệt

của mặc cảm và tự ti

của những ngang nhiên ngạo mạn

 

Tôi chạm vào tôi

thân thể rã rời

như chiếc lá lìa cành

như cành lìa thân cây

máu tôi vẫn chảy miết

chưa đông cứng lại

chưa đặc quánh

 

Và tôi thương thành phố của tôi

nơi bình yên

 

của những bông hoa màu xanh tím

trong cánh rừng ngoại ô

vào tháng 4 muộn đang về

 

Tôi thương

thương nơi này

là nhà

là tình yêu vĩnh hằng

 

 

 

 

Những bông hoa màu nước mắt

 

Trong suốt

không màu

vị cay cay chua chua

cuả những người đàn bà

sinh con

không biết mặt cha

 

Những bông hoa màu nước mắt

kéo dài bao thế kỷ qua

từ chiến tranh loạn lạc

đến thời bình

của những người đàn bà

sinh con luôn thiếu mặt cha

 

Người đàn ông ở đâu sao mà trống vắng

người đàn ông ra mặt trận

trên những ngọn đồi cao nằm gác súng

trên những cung đường máu lửa

nước mắt của những bông hoa

cạn dần

 

Những bông hoa màu nước mắt

của thế giới đổi thay

lên ngôi bình đẳng

đàn ông vẫn thiếu vắng

bên cạnh những người đàn bà cô độc

những đứa con không bao giờ biết mặt cha

dù nhìn thấy nhưng không ai thừa nhận

 

Những bông hoa màu nước mắt

trong đêm

những cay đắng tuôn dài

trên hình hài đứa trẻ

tình yêu không vẹn nguyên

dù người đàn bà đóng vai trò người đàn ông như một

 

Một thế hệ lớn lên

từ những bông hoa không màu ấy

đăng đắng cay cay

đôi lúc ngọt mềm

như môi

lúc thì không mùi không vị

 

Nước mắt của nhân gian

vẫn là tình yêu và thân phận

khát vọng không thành

cứ độc đơn

thiếu trống

một nửa thế gian

những đứa trẻ lớn lên

 

 

Cái chết của tôi

 

Tôi đang chết để được sinh ra một lần khác

Giấc ngủ như muốn quên đi, muốn không tồn tại.

Tôi đã diễn đạt sai hay tôi đang bị hiểu lầm chính tôi

Và tôi đã chết

đã chết thật sự

lần đầu tiên trong cuộc đời này

 

Tôi sẽ mang đi gì với cái chết

Tinh thần cũ kỹ cuả tôi

Tâm hồn trong sáng của tôi

trẻ con và đơn giản

sự ích kỷ

vô thường

 

Cái chết cuả tôi

Tôi yêu nó bao nhiêu

trân trọng bao nhiêu

vì hôm nay tôi khác

tôi đổi thay

 

Tôi không còn của ngày hôm qua

và tôi sẽ sống những ngày tới

trên cái chết kia

lặng lẽ

 

Tôi đã chết và được sinh ra ở một cuộc đời khác

Tột cùng đau khổ, nát tan, tột cùng sự đau đớn, tôi chưa bao giờ nhìn thấy thế, cảm nhận thế

Cái chết của tôi

Thời khắc này

Cái chết của tôi

 

 

 

Sinh nhật BB tháng 2

 

Vỡ tan rồi

Không còn nữa

một thây ma

Không còn nữa

cả linh hồn quỷ dữ

Không còn nữa tiếng người

 

Vỡ tan rồi

bầu trời đầy mây đêm lặng lẽ

đôi bàn tay em khóc trong tuyết

một buổi chiều

khi em chạm vào phím đàn

chảy máu từng cung âm

 

Vỡ tan rồi

ngay cả tình yêu và anh không thể cứu rỗi em

bao che bảo vệ em

không gì có thể

 

Tận thẳm sâu

em đã thành một con sâu mọt

tự đục lỗ cho mình

tìm cái chết

trong sự vữa

không thể sinh sôi đầy hơn

không thể đầy sức sống hơn

không thể

và không còn nữa

 

Vỡ tan rồi

một mùa đông

em đã tự chôn mình

trong rừng khô ẩm ướt

mùa tang trập trùng

bao kín cả tình yêu

lòng thương xót

 

Em đã chết giữa trùng trùng thương nhớ

giữa sự vữa không thể sinh sôi không thể lấp đầy

 

 

 Như Quỳnh de Prelle

 

                                                                                                                    

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1112)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1180)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1861)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5902)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5881)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13213)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30123)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81244)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20264)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 44)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down