- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Mượn “phế Tích Của Ảo Ảnh” Trịnh Y Thư Buông Lòng Tưởng Tượng Một Quê Hương

Thursday, December 28, 20174:02 PM(View: 46321)
TrinhYThu- phe tich-legiangTran

 


Phế tích của ảo ảnh, theo tôi, chuyển tải một ẩn dụ khao khát về nhân bản, những ai muốn đi tới tương lai, con đường đó phải dứt bặt những hồn ma bóng quế của quá khứ. Chúng chỉ là những phế tích và sẽ tạo nên ngằn ngại nếu kí ức là cái bóng dính theo bước chân bước lên đường về tương lai.


 


Tính lãng mạn của thi ca diễn tả cả hai thái cực, lúc hiện ra huy hoàng diễm lệ như bình minh như đầu xuân như tiếng sét ái tình; lúc tàn phai như rừng thu như hoàng hôn như tan vỡ tình yêu, đẫm buồn, sầu bi, thê lương. Mà mặt tích cực hay tiêu cực vẫn mang một vẻ đẹp lạ lùng.
Thơ có vẻ như phơi bày tâm thức của thi nhân, mà dường như cũng khiêu gợi có cái gì ẩn đằng sau ấy là những thơ mộng ao ước hơn; giống như chiếc áo lụa mỏng mai mờ ảo mặc trên người cô gái son trẻ khích thích đôi mắt nhìn vào kèm theo tưởng tượng bên trong là đồi nương liễu lài thơm tho mỹ miều diễm lệ.

 

Tập thơ “Phế Tích Của Ảo Ảnh” của Trịnh Y Thư, chủ đề này là tựa một bài thơ dài mười đoạn và cũng là bài mở đầu, sau đó gồm thêm 30 bài thơ, và thi tập được phân làm 3 chương, mỗi chương là những bài thơ tiêu biểu cho tiêu đề chương ấy. Bài viết này tập trung vào bài thơ chủ đề được mở đầu cho tập thơ, và hoàn toàn chỉ là sự tưởng tượng của người viết chứ không gán định nào về ý tưởng của tác giả gửi gấm trong bài thơ, xin lưu ý như thế. Bài thơ phân ra 10 đoạn, mỗi đoạn diễn tả một bối cảnh khác nhau, những câu thơ trích đoạn do người viết chọn theo ý thích nên hẳn nhiên không lột tả trọn vẹn ý tưởng của đoạn thơ ấy.

 

Bài thơ “Phế Tích Của Ảo Ảnh” dùng hai thể loại chính: tự do và thơ xuôi, tuy khá dài nhưng hấp dẫn người đọc qua chữ nghĩa văn chương mượt mà, chuyên chở tính ẩn dụ trong ý nghĩa “phế tích”, “ảo ảnh” của những gì đã trôi qua, kèm theo là những tư duy về chúng. Khởi đầu là câu chuyện của nhân vật “Tôi” trở về thăm quê hương Việt, mong tìm lại hương vị của quá khứ, hoặc có thể, những hương vị của quá khứ khiến cho nhân vật Tôi phát sinh nhiều trăn trở. Kế tiếp là diễn tả về một người lính già vừa tạ thế, hình ảnh tiêu biểu cho những con người sống với nỗi ám ảnh của chiến tranh mà họ đã rơi vào và xem đó là cuộc đời của họ. Sau cùng là tư duy của nhân vật Tôi trong hiện tại cuộc sống của ông, bày tỏ những cảm thức của bản thân về những phế tích của ảo ảnh. Bài thơ vì thế gây cho tôi có nhiều cảm giác và xúc cảm để tưởng tượng xa hơn, như là hình dung bên trong lớp áo tơ lụa của một xuân nữ căng tràn nhựa sống, một sự mơ mòng của một tâm hồn cũng tràn trề sinh lực về một bức tượng hay bức tranh khỏa thân tuyệt mỹ chứ không bằng ánh mắt chan ý tưởng tình dục.

 

Ai đó bảo rằng tâm hồn thi nhân tương đồng với tâm thức đạo sĩ. Osho thơ mộng gọi cái tâm thức này là “hang động của trái tim”. Tất cả mọi sinh thái theo nhà Phật, cho rằng đều là huyễn vọng hư ảo, như Kinh Pháp Cú nói rằng, “chúng ta là những gì mà chúng ta suy nghĩ”, thế giới bên ngoài đối với một cá nhân do tâm trí ấy nhận thức, từ đó cá nhân này sẽ sống theo cách mình chọn lựa. Tông phái Duy Thức cố gắng chứng minh thế giới ngoại cảnh chỉ là hư vọng do tâm tưởng, qua vài giai đoạn thu nhận của cơ phận đặc thù của cơ thể con người, mà tâm thức thấy chúng “hiện ra” như thật. Thiền định ở bậc cao sâu, các vị như thế cho biết, nhận ra tính vô ngã và cuối cùng là tính Không, triết lý rốt ráo của đạo Phật. Đó cũng hiển nhiên là tính “vô thường” của đời sống sinh hoại, của tiết điệu mùa màng, của lịch sử hưng phế, và ngay cả vũ trụ vô hạn, v.v...

 

Nói chen chút đạo lý vào, vì trong bài thơ “Phế Tích Của Ảo Ảnh” ký ức còn lưu giữ của nhân vật Tôi được xem như là bóng ma của quá khứ, là phế tích, là ảo ảnh, những thứ thuộc về quá khứ, tỉ như thần rùa, như cuộc chiến Nam-Bắc, hay mang tính cá nhân như kỷ niệm một thời, hình ảnh một Việt Nam trước kia v.v. đối với hiện tại chỉ còn là những ảo ảnh, còn tệ hơn thế đối với nhà thơ họ Trịnh, chỉ là loại phế-tích-của-ảo-ảnh mà thôi, và trong một ý nghĩa nào đó, chúng không còn có tác dụng hợp thời. Người Mỹ có câu nói “Don’t look back!”, trong chiều hướng khuyến khích ta nên bước tới tương lai đàng trước hơn là mất thì giờ nhìn lui về quá khứ đàng sau; vì thế quốc gia này thăng tiến nhanh chóng để trở thành một đế quốc hùng mạnh và tiên tiến. Nếu nhà đương quyền Việt Nam thực hành như thế, nếu người Việt như thế, nước Việt ắt đã nâng cao dân trí và không bị xem là một trong những quốc gia trì trệ nhất thế giới hiện nay.

 

*

 

Ai ly hương cũng cất trong lòng một quê cha quê mẹ. Nhà thơ Trịnh Y Thư đi du học trước giai đoạn nước Việt Nam lâm vào cuộc chiến Nam-Bắc trở nên khốc liệt và chấm dứt vào năm 1975. Theo tôi, chàng du học sinh họ Trịnh ắt mang theo trong lòng những hình ảnh về quê hương thật là đẹp, có thể còn đầy những ấn tượng an bình, hiền hòa… Dĩ nhiên, những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam do thông tin cung cấp tại Hoa Kỳ lúc chiến trường sôi máu đó cũng khiến cho anh chập chùng những ý nghĩ đau xót… Vì thế, quê hương đã réo gọi ông trở về thăm cố hương giống như bao trái tim nhớ nhung quê nhà, nên bài thơ “Phế Tích Của Ảo Ảnh” ngay phần mở đầu về lại quê hương, ông đã bày tỏ những cảm xúc chân tình, và bằng ngôn ngữ trí tuệ, văn chương, sự diễn đạt xúc tích, tiềm ẩn một nỗi lòng tha thiết nhưng đẫm buồn, qua dạng thi ca.

 

Bùi Giáng, người ở lại tận tụy với hai chữ “quê hương”, qua bài thơ "Cố Quận", có vài câu dưới đây:

 

Niềm vui cố quận lênh đênh

Niềm đau khách địa qua ghềnh cồng chua

Niềm vui cố quốc chiền chùa

Niềm đau xa vắng giậy mùa trở cơn

 

Phạm Công Thiện là người rời bỏ quê hương, sự ra đi mà ông ví giống như con trường giang mọi rợ, khi chảy khi bay, nhưng trong lòng ông, một người tưởng chừng “không còn cần thiết” phải biết quê hương là gì nữa, vẫn có hình bóng quê hương. Trong bài thơ “Trường giang mọi rợ” của ông, có nhiều địa danh quê hương được ông nhắc đến qua vài câu thơ như sau:

 

con sông Cửu Long chảy từ thượng tứ

Mỹ Tho buồn thây chết trôi sông

…

khi thượng đỉnh đìu hiu khi trác táng đến tận màn sân khấu

vẫn nhớ những buổi hát bội quê nhà

kèn trống cải lương đứa con nít ngó cô đào trang điểm

…

biển Nha Trang trời sinh cát hạ

đọc thơ Ba Tiêu cho Quách Tấn nghe

...

bồ câu buồn gáy lại năm xưa

mái chùa cũ Đà Lạt chiều tận thế.

 

Phạm Công Thiện từ khi rời đất nước chưa bao giờ về thăm quê nhà, ông cho thấy ông “yêu quê hương qua màn ảnh nhỏ” khi những video về du lịch được các đài truyền hình ở Việt Nam dùng để kích động lòng thương nhớ quê hương của Việt Kiều, ông xem một cách say sưa… Cho nên, Seamus Heaney của Ái Nhĩ Lan, người thi sĩ có tâm hồn đậm đà với quê hương, khi được trao giải Nobel văn chương 1995, Phạm Công Thiện đã hào hứng viết một tiểu luận về nhà thơ này, diễn tả thi ca của Seamus Heaney mang tính sắt son chung thủy với đất nước quê hương mình:

“…đặc điểm nổi bật nhất của Seamus Heaney là khôi phục lại tính thể của "thiên nhiên"… qua sự linh hiện sống dậy của những linh địa quê hương, những hình ảnh và tiếng nói đồng vọng… từ sông hồ và đồi cao lũng gió, từ những cơn mưa bất tận… đến những làng mạc đìu hiu chiều tối… Đặc điểm sáng ngời nhất của thi ca Seamus Heaney là lòng sắt son chung thủy với đất đai, sơn hà, hải hồ của quê hương”.

 

Tôi thả hồn bay bay tưởng tượng theo dòng thơ của thi nhân họ Trịnh ngay đoạn thơ đầu bài:

 

Rêu phong mái ngói ngày tôi trở lại

đốm chiều lập lòe ánh mắt

sâu kí ức mù đồng cỏ nương ngô

âm vang châu thổ

nghe như tiếng thở dài từ nghìn năm

bồi hồi dòng sông cạn.

 

Đó là cảm nhận tiên khởi của người tha nhân sau bao năm dài xa cách nay trở về nhìn lại mái nhà xưa, như là chặng cuối sau những bước dài cuộc viễn du của cậu sinh viên ngày đó, tuy nhiên, chặng cuối đường như lại bắt đầu cho điểm khởi hành, mà đoạn thơ liền theo đoạn thơ trên, ông bộc lộ một nỗi bức xúc, mà, tôi hàm đoán, khởi đầu của một sự nhức nhối về những hình ảnh ký ức, ký ức giống như một con sâu mù trước cảnh vật, âm vang châu thổ quê nhà dường như là tiếng thở dài từ nghìn năm; còn ánh ban mai của một đất nước chấm dứt chiến tranh thì hừng rỡ lên như mang dấu ấn tội đồ đối với một huyền sử thần kỳ của dân tộc Việt, qua thi ngữ của ông:

 

Sau những bước dài cuộc viễn du

chặng cuối là điểm khởi đầu

nhức nhối những bào ảnh

bóng tối thê lương

ban mai hừng rỡ như mang dấu ấn tội đồ

phát vãng từ thần kì huyền sử.

 

Những dòng thơ nối tiếp, nối tiếp, tôi nhặt ra những câu tôi cho rằng chuyên chở những ý tứ chính mà nhà thơ bùi ngùi thở dài:

…

chẳng thể rũ bỏ quá khứ

như ném vào bãi phế thải

…

làm sao tôi hiểu được hoàng hôn

dù lịch sử trở về từ vĩnh cửu.

…

Kí ức tôi đang rạn vữa

còn lại chỉ là sự lãng quên

…

Chỉ còn sự cô độc

ôi tôi yêu nó xiết bao

vang váng một linh hồn hôn muội

…

Nơi tôi đứng chiều nay

những mái nhà nâu

những chiếc cầu lung linh bóng nước

sẽ tan biến cả và còn lại

chỉ là phế tích của ảo ảnh – rớt rơi.

 

À, cuối đoạn 1 bài thơ, Trịnh thi sĩ đã lên cò bắn ra viên đạn “phế tích của ảo ảnh”, để từ đây là những dàn trải trong tâm hồn thi nhân.

…

bất chợt một góc trời điêu hao thành lũy

giữa muôn trùng cảnh lạ bến nước bủa giăng.

 

Tôi chờ đợi một tiếng kêu bằn bặt thổ ngơi

ẩn nhẫn như cơn mộng oan khiên phong vận

thoát thai thành một nghĩa cử tầm thường

bốn phía trời căm dù hờn tủi cũng đành.

…

như một kẻ hành hương lạ thất lạc

trong ngôi đền không có nổi một lư hương.

 

Đứng dưới rượng hoa già kí ức tràn về khiển trách

không không tôi không chấp nhận

lời nguyền rủa ấy xin đừng trút lên tôi

một mai làm người tôi sẽ gửi lời thâm tạ

như lá chúc thư trần tình cho phiên bản cuối.

…

 

“lời nguyền rủa ấy xin đừng trút lên tôi”? Nhà thơ ngụ ý gì với câu thơ này? Kí ức, biểu tượng này đại diện cho thứ chi chi? Lịch sử? Nỗi buồn dân tộc? Bên thua cuộc? Tràn về khiển trách chi mà ông đáp rằng một mai làm người tôi sẽ gửi lời thâm tạ / như lá chúc thư trần tình cho phiên bản cuối. Một mai là Một Việt Nam Mới? Phiên bản cuối là gì? Thể chế tự do dân chủ? Bao giờ? Làm người là sao? “thể tính Việt” phục hồi? người Việt trở về nhân tính Việt? Ở đây, tôi không nghĩ là rơi vào tâm trạng “thất phu hữu trách”, ray rứt cảm thấy bản thân một người công dân chịu trách nhiệm khi đất nước suy vong; không có kiểu biếm nhẽ tự vấn tội “tôi làm tôi mất nước” của nhà văn Lê Văn Phúc. Dù chưa nghĩ ra, còn phải đi theo hành trình của bài thơ để khám phá thêm, nhưng tôi tin rằng nhà thơ nói về một phạm trù nào đó sâu thẳm hơn. Tạm cho là như thế. Để rồi sau vài đoạn thơ, mở ra, bắt gặp:

 

…

Những âm hồn rỉ rén trở về – không không

đây không phải chỗ cho các ngươi khiếu oan

ôi thật kinh khiếp thế chỗ những cảm xúc chết

là kí ức của cảm xúc hoen quẹn da non.

 

Người con lịch sử khuôn mặt ngươi ở đâu

sau tấm biển quảng cáo nịt vú đàn bà

hay bên kia rừng trảng thâm u

bên dưới những nấm mồ oan khốc.

…

Kí ức như mộ phần người chết

hãy để nó vĩnh viễn nằm dưới đáy ngục sâu

đào lên chỉ thấy toàn hồn ma

và xương xẩu kinh người.

 

Bốn câu sau cùng ở trên để kết cho đoạn 2 bài thơ. Những âm hồn rỉ rén trở về, chúng thực sự đã là những cảm xúc chết, nhưng không kinh khiếp bằng cái cảm xúc mới tinh còn hoèn hoẹn như da non, cảm xúc đối diện với thực tại trước mắt của quê hương khi trở về nhìn thấy ư? Để rồi thảng thốt kêu lên “Người con lịch sử, ngươi ở đâu?” Ẩn dụ cho đại danh từ “người con” này là ai? Thế hệ trẻ? Hậu duệ của tiền nhân còn không? Câu hỏi vấn nạn này buộc lòng ta phải nghĩ ngợi, ai có tư duy về đất nước nên tra vấn. Thi sĩ họ Trịnh cũng tự hỏi rồi đưa ra vài ví von, có thứ đơn giản như hàng cau đánh sập sân từ đường sau một đêm mưa làm vỡ vụn những viên gạch khép nép từ nghìn thu mà sao nghe cả đất trời sụp đổ thê lương:

 

Họ là ai tôi tự hỏi

những bản văn tự không ấn dấu

xung quanh một bến nước

có tiếng hát phù trầm

quay quắt một đêm mưa

hàng cau đánh sập sân từ đường

vỡ vụn những viên gạch

khép nép nghìn thu.

…

Hồn ma còn sợ bóng tối không tôi tự hỏi

hiển nhiên họ không tự biện hộ được

khi lịch sử kì oan

buộc tội ngay lúc lâm minh

và sự lừa phỉnh phỉnh lừa chính nó.

 

Hồn ma là hồn tử sĩ? Hồn tử sĩ biện hộ được gì trước hồn thiêng sông núi? Oan khiên kỳ quái của một lịch sử mới lâm minh đã buộc tội kẻ chiến bại; và họ cũng là những nạn nhân của một sự lừa phỉnh từ những nhân vật nguyên thủ, tướng lãnh, đã ban phát lệnh tử thủ, quyết chiến, để rồi kẻ lừa phỉnh trốn chạy như một lũ hèn mạt. Nhà thơ sau đó bảo rằng:

…

không – họ chẳng nói gì

bởi tất cả những điều cần nói

đã được nói ra

từ trước đó lâu lắm rồi.

 

Lời quá rõ. Tuy nhiên, nhà thơ còn bày tỏ thêm cái cảm giác đối với một loại con người mà ông ví von gọi là “những con người khổng lồ biết bay” như sau:

 

Nhưng tôi quả run sợ bởi đó là bước khởi đầu

dù không biết gọi nó là gì lịch sử hay kì tích

của những con người khổng lồ biết bay

phủ trùm lên ý thức tội đồ tôi nhận ra

không ai chết cho kẻ khác

kể cả người bị đóng đinh trên núi Sọ.

 

Ông ngầm bảo rằng không ai làm việc gì mà không có mục đích, nếu không có mục đích tối hậu, ngay cả việc Chúa Jesus bị đóng đinh cũng không mang ý nghĩa gì, ai thản nhiên chết cho kẻ khác bao giờ? Những con người khổng lồ bay trên mây tạo nên kỳ tích lịch sử, đó là bước khởi đầu cho những thứ khiến cho nhà thơ run sợ, không phải bản thân ông, mà là ý thức rằng, cái thứ đó sẽ làm cho con người sống trong loại lịch sử như thế trở thành một đời sống kinh dị kinh hoàng… Đóng lại dòng tư tưởng của đoạn 3.

 

*

 

Những căng thẳng tư duy tạm dừng lại.

 

Bây giờ là tiêu biểu của thanh xuân, một chút tươi xanh bắt gặp trong chuyến đi tìm quá khứ vong thân của người đàn ông trở về xứ sở. Có lẽ, xã hội người Việt thời cổ sống theo chế độ mẫu hệ, rồi mặc dù đã chuyển đổi tập tục ấy, nhưng phụ nữ Việt được dùng tiêu biểu cho “MẸ VIỆT NAM” mãi đến ngày nay, hình ảnh “người mẹ Việt Nam” vẫn còn là một biểu tượng đậm nét để tôn vinh vai trò người phụ nữ, người vợ, người mẹ; dù thời thanh bình hay chiến tranh đều thể hiện sự tích cực yểm trợ tinh thần, cho đến đóng góp sức lao động, nuôi chồng, nuôi con, làm dâu, ngay cả làm chiến sĩ trong chiến tranh, kiệt nữ chống ngoại xâm, v.v…

 

Rồi chiến tranh tàn khốc tạo ra hình ảnh người Mẹ Việt Nam chỉ còn là những gương mặt cụ già khắc khổ chịu đựng. Điểm này, tôi đã từng có nghĩ ngộ nghĩnh, tại sao hình ảnh tiêu biểu Mẹ-Việt-Nam không là những thanh nữ xuân xinh, khỏe mạnh cả hai mặt thể xác lẫn tinh thần? Người phụ nữ như thế, thì sự truyền giống, thì sự giáo dục con cái, hay nhẫn đến góp phần tạo nên kinh tế vững vàng cho mái ấm gia đình, góp tay xây dựng một xã hội lành mạnh và phát triển, như thế, chắc chắn đất nước Việt sẽ nhanh tiến và hãnh diện về nữ giới của dân tộc mình. Con người thanh xuân là mầm xanh của đất nước, tuổi trẻ là thành trì của tổ quốc. Thiếu nữ xinh tươi khỏe mạnh là những vườn hoa trái tươi non, là suối nguồn mật ngọt; thanh niên sinh lực trí tuệ là những hạt giống của dân tộc, là đôi vai gánh vác sơn hà; măng non thay thế cho tre già cằn cỗi cần được nghỉ ngơi. Quy luật đào thải và tiến hóa nơi trái đất này đã là thế.

 

Tôi nhìn thấy gì trong đôi mắt lá răm

ở nơi có ánh chiều tháng Chạp

và những quả ổi mơn mởn xanh

            rầu rầu liếp mía

            con giẻ cùi phụ họa

            lời ru mái nhà nâu hiu hắt à ơi.

 

Miệng lúng liếng giọng luyến láy

những điều tôi không hiểu – chẳng sao cô gái ạ

            tôi vốn là kẻ lạ

            khát vọng hoài thai

            trên những rui mè

            ngôi nhà huyền sử

            thất lạc trong chuyến đi tìm

            quá khứ vong thân.

 

Bóng ma quá khứ không làm cô sợ hãi

miểng bom cắm trên hương thờ trở thành linh thiêng

…

Con nước chảy hoài bờ biên tái

một thoáng xanh về trong lệ xanh

tan đi giữa cõi mù sương ấy

hoa lê một nụ điểm trên cành.

 

Đoạn 4 bài thơ, toàn bộ mang một không khí, một không gian, buồn nhẹ nhàng đượm nét lâng lâng thơ mộng với phảng phất một cô gái trẻ có đôi mắt lá răm miệng cười lúng liếng, như những quả ổi mơn mỡn xanh, cô gái không biết gì về bóng ma quá khứ, hoặc quá khứ chỉ giống như hình người trên bàn thờ, cô bé thản nhiên, dù có nhìn thấy miểng bom thời chiến tranh xưa kia còn cắm trên lư hương, quá khứ ấy không làm cô sợ hãi gì hay có suy nghĩ theo kiểu nhà thơ. Sự tự nhiên của tuổi trong sáng thơ ngây mộc mạc dâng lên một sinh khí trẻ trung rạng rỡ tươi mát.

 

…

Từ con phố một chiều tôi đi tìm thần rùa…

Bác ơi ở đây làm gì có rùa cái nhà bác này rõ dở hơi…

thần rùa nghìn năm mất ngủ chẳng biết làm sao gặp được thế rồi có lúc tơ tưởng bộ ngực thanh tân nhuễnh nhoãng thừa cơ lúc đêm xuống bứt đại một cụm hoa tưởng rằng sẽ hiểu được cả chặng đường dằng dặc từ bóng tối nhập nhòa xác thân.

 

Bác ấy ơi bề bề trong này cực ngon bác vào ăn thử đi…

Nhưng cô ơi tôi có hẹn với thần rùa thật mà…

Không nhận ra mặt trái của thời gian tôi chỉ có thể làm một hành vi ngớ ngẩn chưa từng thấy là nhìn sững cây hoa sữa mà tưởng như đang ngồi ở ngã sáu phố hàng kèn ăn bát phở giá hai xu chỉ có bánh nước lỏm lẻm…

 

Nha nhá tối tôi vẫn ngồi đây mơ màng về thần rùa

có kẻ ra bảo tôi bác ơi tối rồi bác ngồi đây muỗi đốt chết

ngay lúc đó tôi vỡ lẽ huyền thoại là đồ ngoạn hảo của kẻ thống trị bày biện trong tòa dinh thự nguy nga của hắn từ nhiều năm để che đậy sự thật bởi đối nghịch với sự thật không phải điều trá ngụy mà chính là huyền thoại.

 

Ai cũng biết huyền sử thần rùa, và chuyện một ông rùa già chết vài năm trước đây. Đoạn 5 ở trên với thể thơ xuôi kể chuyện hẹn hò với thần rùa rồi có lúc tơ tưởng bộ ngực thanh tân nhuễnh nhoãng… để bất ngờ vỡ lẽ, và khép lại thơ mộng liễu lài, như một số câu của đoạn thơ thứ 5. Đoạn thơ 6 ghi lại những ý nghĩ trước khi giã biệt quê hương quay về phương trời mình đang sinh sống, với một số đoạn, câu, tiêu biểu:

 

Làm sao tôi yêu được cái không phải của tôi

khi kí ức nằm chung hộp thuốc gây ảo giác

                        những cảm xúc chết

                        tôi không biết đổ đi đâu

…

 

Thật buồn cười ý nghĩ tôi sẽ tìm được điều gì

ngày trở về đứng trên sân gạch

ngôi nhà trăm năm ấy

hàng cây không chịu nhận lời chuộc tội

khước từ ngay cả một lời van nài làm quen

cửa mở nhưng tôi chỉ biết ngồi bệt

dưới thềm nhà

uông uông cơn ảo vọng

một trần gian hóa thạch.

 

Ký ức của tôi, những thứ tôi tin rằng có giá trị đẹp đẽ, bây giờ bị đặt nằm chung trong hộp thuốc gây ảo là một loại kỳ tích lịch sử của những con người khổng lồ bay bổng thì sao tôi có thể yêu được cái không phải của tôi? Nên sẽ rất buồn cười nếu tôi sẽ tìm được điều gì với thuốc gây ảo giác, có chăng là thứ cảm giác uông uông cơn ảo vọng, cảm thấy một trần gian hóa thạch, còn ngay cả những cảm xúc chết, những phế tích của ảo ảnh, cũng chẳng biết tôi phải đổ đi đâu. Nhà thơ chợt ước ao:

 

tìm cho tôi con đường trở lại chiếc cầu ánh bạc

nơi tôi có cuộc hò hẹn

với quá khứ vong thân

nơi người chết và người sống

cầm tay nhau hể hả.

 

*

 

Chiến tranh, cuộc chiến nồi da sáo thịt, đã tạo nên một đại bi kịch đối với những chiến sĩ tham dự còn sống sót. Cuộc sống sau đó của họ như là những con người bị bỏ quên, nhưng với họ, ký ức của một thời oanh liệt thì không bao giờ phai tàn trong tâm trí, có người vượt qua được nỗi ám ảnh, có người rơi vào một cuộc sống trầm cảm, tâm lý xáo trộn, gọi là “hội chứng chiến tranh”. Nhà thơ Trịnh Y Thư đưa ra một đơn cử, người lính già và cái chết của người cựu chiến binh này. Một tiêu biểu đầy ẩn dụ. Nếu là người yêu thích văn chương, đều có đọc qua những tác phẩm lớn viết về chiến tranh, tù đày bởi chiến tranh, để từ đó nhận thức sâu sắc về tính nhân bản. Chiến tranh về ý thức hệ giữa cộng sản chủ nghĩa và tự do chủ nghĩa còn đậm nét tàn nhẫn, bi thống hơn. Quốc gia nào nhanh chóng dứt bỏ nỗi ám ảnh của chiến tranh, họ sẽ nhanh chóng bắt kịp sự tiến bộ văn minh của nhân loại tiên tiến. Việt Nam là một nước nhỏ nhưng có chiều dài lịch sử đầy rẫy chiến tranh. Bóng ma chiến tranh sau 1975 vẫn còn như quỷ ám đối với những con người dính líu hay từng sống trong thời buổi chiến tranh ấy cho đến tận mãi 50 năm sau. Nhà thơ dành cho hình ảnh chiến tranh một tư duy bức xúc, về nhân bản hơn là phê phán lịch sử.

 

Người lính già sống suốt đời với kí ức chiến tranh

chết trong căn nhà ọp ẹp thị trấn Lake Forest…

…

Anh đã lầm lỡ bước vào cuộc đời này

âm thanh cuồng nộ của thế kỉ

            chỉ làm anh lúng túng

...

…

Họ biến anh thành cỗ máy chỉ biết nghe mệnh lệnh

trong lúc rao giảng những lí tưởng cao vời

lí tưởng như thuốc phiện

nghe một lần anh như kẻ phiêu hốt say sưa

sẵn sàng chơi đùa cùng thần chết.

…

Cuộc chiến với kí ức

mới thực là cuộc chiến kinh hoàng

đốt cháy cả cuộc đời anh

…

Người lính già hôm nay đã chết

mặt trận yên tĩnh nhưng linh hồn anh không yên tĩnh

tôi nhìn anh lần cuối trong quan tài

bộ quân phục thẳng thớm như thể người ta vẫn ra lệnh

cho anh tiếp tục chiến đấu dưới đáy ngục sâu.

…

 

Ngoài những người cầm súng, còn có thành phần gọi là “tù nhân chính trị”, là những đầu óc còn nguy hiểm hơn viên đạn bắn ra. Chế độ Cộng Sản dứt khoát không dung tha cho loại đầu óc có thể tạo nên cuộc cách mạng chống lại họ. Những trí óc có chất xám là kẻ thù của những kẻ cai trị, họ bằng mọi cách, tiêu diệt, nhân nhượng lắm là tống khứ ra khỏi lãnh thổ của họ, đó là giải pháp hay nhất. Thi sĩ họ Trịnh vào phân đoạn 8, đưa ra một bi kịch hiện tại của nước Việt. Không những phụ nữ bị bạc đãi ngay trong xã hội trong nước, còn bị “xuất cảng” với nhiều danh gọi, một cách chính thức hay không chính thức. Bất cứ xã hội nào, khi hạ cấp vai trò nữ phái, xem nữ giới chỉ như thứ hàng hóa có thể mua sắm, hưởng thụ vô tư, thì con cái của những con người này đầy ắp nỗi tự ti mặc cảm v.v. Quốc gia ấy sẽ tạo nên một xã hội thôi chột đạo đức con người, băng hoại phẩm chất con người; vì con quỷ lý trí làm chủ nhân ông, còn trái tim nhân hậu trở thành nạn nhân, và như thế, dân trí của quốc gia đó được xây dựng bằng tính xảo quyệt hơn là thiện lành, đưa đến tiền đồ của đất nước sẽ suy vong… Bước vào đoạn 8 của bài thơ:

 

Bây giờ thì tôi hiểu thành phố phóng thích tù nhân chính trị nhưng lại tống xuất tất cả các cô gái điếm lên tàu xuất dương du học. Về đâu thì làm sao tôi biết…

 

Ông nhạc trưởng vung tay điều khiển giàn nhạc, nhưng không ai buồn để ý đến ông bởi cô gái điếm số mười một trần truồng đứng trên boong nhoài nửa người ra ngoài thành lan can vẫy vẫy cánh tay trần chào mọi người trong lúc các cô khác cũng trần truồng nhảy cẫng xung quanh la hét.

…

Sân khấu Lịch sử cũng có những kẻ đứng trên ban công vẫy chào đám đầu đen đứng nghển cổ bên dưới, nhưng bọn họ làm gì có được khuôn mặt xinh đẹp và bộ dáng tươi vui như các cô gái điếm này…

…

Thật là phiền hà tôi vẫn không sao tìm ra cái gã Quá khứ chết tiệt trong lúc con tàu chở các cô gái điếm đã bắt đầu nhổ neo. Các cô đi rồi tôi biết bám víu vào đâu? Thời đại hoang tưởng bắt đầu khi thế gian không còn gái điếm, khi những chủ thuyết đạo đức, những triết học rối mù thay thế cửa hàng bán thuốc và vật dụng khích dâm để tôi một mình bơ vơ giữa đêm trắng.

 

Tôi thẫn thờ nhìn theo con tàu chở các cô gái điếm từ từ biến mất khỏi đường chân trời. Hình ảnh cuối cùng còn lại trong tâm trí mà tôi còn nhớ cho đến tận bây giờ là đôi vú lủng liểng nhễ nhại của cô gái điếm số hai trăm linh sáu. Bên cạnh tôi hai đứa trẻ đánh giày ngồi tranh luận sôi nổi về bản Hiến pháp mới cho một nước Cộng hòa không có thật.

 

Sang đoạn 9 bài thơ, nhân vật Tôi đặt mình vào thời đại Soylent Green. Đó là tên cuốn phim dựa theo nội dung một tiểu thuyết khoa học giả tưởng có tựa Make Room! Make Room! của tác giả Harry Harrison, xuất bản năm 1966, được dựng thành phim vào năm 1973, câu chuyện vào thời tương lai, xảy ra năm 2022 tại New York lúc đó có 40 triệu cư dân sống trong tình trạng đầy hỗn loạn, nhà cửa đổ nát; những người vô gia cư tràn đầy đường phố; nhiều người thất nghiệp. Những người không công ăn việc làm hầu như không có thực phẩm. Việc làm ở những xưởng công nghệ khan hiếm, phần lớn dân số sống sót nhờ các khẩu phần thức ăn do Tổng công ty Soylent sản xuất. Sản phẩm mới nhất của họ là Soylent Green, một loại “bánh kẹp Xanh” được quảng cáo là chứa “sinh vật năng lượng cao” từ Thế Giới Đại Dương, giàu dinh dưỡng và ngon miệng hơn so với những loại có trước đó màu “Đỏ” và “Vàng” ít tố chất dưỡng sinh. Đấy là do trái đất lâm vào tình trạng ô nhiễm cực cùng, thực phẩm từ thiên nhiên cung cấp đã cạn kiệt… Con người rơi vào hoảng loạn, xã hội đầy tội phạm… Tất cả như là sự báo động lâm chung thời hoàng kim của địa cầu.

 

Ô hay! 3 “màu” thực phẩm Xanh, Đỏ, Vàng chợt ngẫu nhiên khiến lóe lên ý nghĩ về màu cờ “Đỏ” của Bắc Việt Nam Cộng Sản, màu cờ “Vàng” của Nam Việt Nam Tự Do, hai thứ “thực phẩm” này đều làm cho con người bị “hoại sinh” chứ không cung cấp chất “dưỡng sinh” cho dân tộc. Sau bao nỗi ê chề của một “quá trình” chấm dứt chiến tranh, “thụ hưởng” hòa bình chưa được bao ngày tháng, người Việt Nam tràn ra biển XANH, dân Việt lại dâng lên một màu “Xanh” hy vọng, một “ý thức Xanh”, một loại thực phẩm mới Soylent Green, một “màu cờ Xanh mới” chăng? Còn có người rục rịch muốn thay luôn cả bài quốc ca! Hỡi ơi, người Việt lưu vong tị nạn lại bị phỉnh lừa thêm lần nữa! Cái “khăn rằn” màu “Xanh”  “kháng chiến” cũng chỉ là cái bánh vẽ!!! Mà, trong một đoạn thơ phần kết, một cách trùng lặp, Trịnh thi sĩ than rằng:

 

ý thức xanh của tôi chỉ là món hàng giả mạo

          chỉ đánh lừa được

          những bản ngã yếu đuối

          chỉ là chuyện thần tiên

          cho những kẻ dại khờ

 

Đi vào đoạn thơ 9:

 

Khi tôi trở lại quả núi đã biến mất. Thật quá đỗi

lạ lùng, không thể tin có chuyện như thế trên đời,

một quả núi cao ba nghìn một trăm bốn mươi ba

mét mà có thể biến mất khỏi quả đất này…

…

Tôi quay sang hỏi cô gái đứng bên cạnh đường nào

lên đỉnh ngọn núi cao ba nghìn một trăm bốn mươi

ba mét, cô trố mắt nhìn tôi như thể tôi là kẻ đến từ

một hành tinh lạ. Cô bảo tôi đã từ lâu chữ núi không

có trong diễn ngôn của thành phố. Thời đại Soylent

Green đã đến mà tôi nào hay biết. Bất giác tôi cắm

đầu chạy thục mạng, chạy bất kì đi đâu miễn ra khỏi

chốn này, trên đầu tôi trung hòa tử Big Bang lả tả rơi

như tuyết đen làm mờ mịt cả bầu trời phế tích.

 

Đoạn 9 như là một ẩn dụ cảnh báo. Nhân vật tôi không còn chỗ dung thân, hai chữ lưu vong quá nhỏ bé, con người đang rơi vào tình trạng đánh mất Planet Earth trái đất mẹ. Tưởng tượng kinh hoàng hơn, trên đầu tôi trung hòa tử Big Bang lả tả rơi như tuyết đen làm mờ mịt cả bầu trời phế tích. Hắc động black hole ngoài vũ trụ trương lên nổ tung, bụi đen của nó rơi lả tả xuống tầng khí quyển địa cầu trông như một trời phế tích…

 

Những nhà khoa học vũ trụ đã nhiều phen lên tiếng thống thiết kêu gọi con người nên cùng nhau góp tay phục hồi lại màu XANH cho địa đàng trái đất. Đó là một “ý thức xanh”, xanh như loại thực phẩm xanh trong phim Soylent Green, thứ thực phẩm tạo cho con người ý thức về một thứ tội lỗi do con người gây ra đã không còn có thể cứu chuộc. Ý Thức Xanh còn mang ẩn dụ cho những sinh thái có mầm mống bị tận diệt, thí dụ như sinh thái của nước Việt, sinh thái của con người Việt, sinh thái của tâm thức Việt, chẳng hạn.

 

Chữ VIỆT trong ý nghĩa Việt Nam còn ẩn nghĩa VƯỢT: Vượt về phương Nam, mang trọn vẹn ý nghĩa đàn chim Lạc Hồng tộc Việt từ phương Bắc vượt về phương Nam khắc trên trống đồng, rồi trải qua 4000 năm tạo dựng nên một tổ quốc mà người Việt thừa hưởng ngày nay. Để rồi chỉ nửa thế kỷ sau khi thổ ngơi này khép lại cuộc nội chiến vào năm 1975, những người khổng lồ bay bổng bởi kỳ tích lịch sử này, và cũng chính bởi sự bay bổng của họ bằng đôi cánh Cộng Sản, họ lại biến thổ ngơi gọi là tổ quốc rơi vào một tình trạng mọi sinh thái đều đến mức báo động đỏ. Bầu trời ô nhiễm, biển ô nhiễm, sông ngòi ô nhiễm, rừng đẵn trống hoang, vườn cây ô nhiễm, ruộng đồng ô nhiễm, loài sống dưới nước nhiễm độc, thú rừng bị săn diệt, rau quả bị ướp độc, khô mắm bị ướp độc, thịt gia cầm bị ướp độc… và nguy hiểm nhất, con người bị ướp độc. (Xin mở ngoặc, xã hội dù như thế nào nhưng vẫn có những con người có trái tim thiện lành và có tâm thức trí tuệ, nên sẽ không bị ô nhiễm, và những con người ấy luôn có một vị trí được kính trọng). Nhiều tầng lớp con người giàu tiền, giàu thông minh, trí tuệ, đầy sinh lực, và cả phái nữ để truyền giống ˗ nếu phải nói như thế, lũ lượt và âm thầm bằng mọi phương cách, lìa bỏ thổ ngơi nước Việt đi ra ngoài thế giới tự do. Thử hỏi, cái đất nước đó rồi sẽ còn lại những gì ngoài số con người phải chịu trận ở lại sống còn trong niềm hy vọng gần như vô vọng???

 

Nhà thơ đúc kết bài thơ bằng sự trở về lại nơi chốn lưu vong nhưng có tự do thật sự dành cho con người. Ông diễn tả, qua một số câu thơ tiêu biểu trong đoạn 10, nói về một thứ ý thức xanh mang ý nghĩa khác:

…

Tôi là người về từ đại dương trầm tích

món vật tùy thân là tấm ảnh cũ nát nhàu

…

Ý thức xanh là chiến lược phòng thủ của tôi

để chống lại kẻ thù địch ngoa hiểm trong

           thời đại lãng quên này

           khi xung quanh tôi

           người người nắm tay nhau

           nhảy múa theo nhịp tiết bập bùng

           của lửa thiêu.

 

Ý thức xanh là lời mời gọi các linh hồn oan ương

nhưng không hề hối tiếc một thời đã sống

           họ về đây bảo tôi

           đã qua rồi

           tất cả đã qua rồi

           nước phù sa vẫn nhóc nhách

           chảy ngang con trổ

           luồn lách giữa những

           chân lúa đang hăm hở đơm bông.

…

Dẫu nuối tiếc giấc mơ tiền kiếp thì đấy cũng chỉ

là bào ảnh tường xanh trong ngoài màn sương trắng.

…

Năm tháng rồi sẽ trôi vào quá khứ đáng thương

ý thức xanh của tôi chỉ là món hàng giả mạo

          chỉ đánh lừa được

          những bản ngã yếu đuối

          chỉ là chuyện thần tiên

          cho những kẻ dại khờ

          cả tin vào quy luật

…

Chiều nay một mình tôi đứng trên sân ga

chờ con tàu đem tôi ra khỏi bầu trời phế tích

          không một kẻ tiễn đưa

          cho tôi nói lời từ biệt

          …

          rồi con tàu trôi nhanh trong đêm

          chẳng để lại dấu vết gì

          dù chỉ là một làn khói mỏng.

 

Ngày giã từ quê hương của nhân vật tôi là một buổi chiều nơi sân ga, cô độc, độc hành lên đường. Con tàu đêm mang người rời xa cố quận cũng là đưa người ra khỏi bầu trời phế tích. Ở lại là phế tích, ra đi là ký ức. Con tàu cũng như đời người, chuyến tàu đó rồi cũng chẳng để lại dấu vết chi. Dòng sống vẫn tiếp tục luân chuyển luân hồi. Đời sống dù nơi núi cao, dù nơi rừng sâu, dù nơi vùng biển bao la, dù nơi sa mạc mịt mùng gió cát, dù nơi xứ nhiệt đới hay thổ ngơi tuyết băng, đã thành nếp sống, và con người sống nơi đó cũng đã sống thành nếp. Chỉ còn một thiểu số sắc dân du mục di chuyển theo mùa màng. Những con người sống quen độ cao ngút ngàn cây số nơi vùng Hy Mã Lạp sơn, hầu như không thể di cư xuống vùng đất thấp đồng bằng hay ngang với mực nước biển, họ bảo rằng cơ thể họ sẽ không chịu nổi nơi một áp lực nặng nề của sức hút trái đất. Đó là về mặt sinh thái địa dư.

 

Cũng thế, mặc dù chế độ Cộng Sản cho thấy nơi đất nước ấy không có nhân quyền thực sự, nhưng con người đã sống quen. Giống như loài thú hoang dã trước kia tự do nơi rừng núi ngút ngàn nhưng nay đã sống quen và được cung cấp thực phẩm không cần phải đi tìm, nơi cái gọi là thảo cầm viên ấy, chúng có thể còn cảm thấy an toàn hơn chốn rừng sâu núi cao. Ngay đến loài chim loài cá, nếu sinh ra trong lồng trong chậu thì đó là quê hương, là khung trời của chúng. Con người khi rơi vào tình cảnh bị giam hãm mới bức xúc ta thán cho cái cảnh “cá chậu chim lồng”. Khi con người bị cầm tù mới thèm thuồng bầu trời tự do ngoài song sắt.

 

Con người là loài sinh vật quyết định được một thổ ngơi định cư. Trí óc con người biết so sánh để chọn lựa cái gì an toàn và cái gì bất toàn, mặc dù mơ ước và hy vọng của con người không đơn giản như ý nghĩ về mục tiêu ấy, nhưng con người dám trả giá bằng sinh lực, bằng mạng sống, và còn bằng một niềm tin huyền bí thiêng liêng. Sự vượt thoát ồ ạt của một giai đoạn người Việt VƯỢT trùng dương đào thoát khỏi địa ngục kinh hoàng của những con người Cộng Sản lên ngôi cai trị một miền Nam tự do, đã chứng minh trong một ý nghĩa nào đó về quyết định một cuộc đời cho bản thân và gia đình để có một tương lai và một cuộc đời đáng sống.

 

Hiện tượng đang xảy ra hiện thời, tuy không ồ ạt, nhưng người Việt sống trong nước Việt, những ai có suy nghĩ lợi lạc xa, hầu như đều tìm cách rời khỏi nước Việt. Như là những cánh chim thiên di, trong âm thầm lặng lẽ, những người khi tạo được phương tiện, đều cho con cái họ, rồi đến họ, rời xa tổ quốc. Đừng vội bảo họ là những con người không yêu quê hương, họ chỉ muốn thoát khỏi ách cai trị, mà, họ cho là khiến cho con người không có một tương lai trí tuệ, một tương lai thật sự được sống tự do và được làm người.

 

Phế tích của ảo ảnh, theo tôi, chuyển tải một ẩn dụ khao khát về nhân bản, những ai muốn đi tới tương lai, con đường đó phải dứt bặt những hồn ma bóng quế của quá khứ. Chúng chỉ là những phế tích và sẽ tạo nên ngằn ngại nếu kí ức là cái bóng dính theo bước chân bước lên đường về tương lai. Lịch sử là thứ được tạo nên bởi “bên thắng trận”, kẻ chiến thắng trở thành những con người khổng lồ biết bay, họ cất cánh bay trong khung trời ảo tưởng; còn kẻ thua cuộc, nếu dại dột chết dần mòn một đời trong phế tích của ảo ảnh, thì cũng là nô lệ của trí óc cố chấp.

 

Muốn thay đổi một xã hội thối nát, cần có thành phần trí thức và trí tuệ đứng lên hợp sức làm cuộc cách mạng. Giống như đối với một người ăn mặc lố bịch, làm sao thay đổi con người đó? Thay đổi là thay đổi tư duy của tâm trí đó, chứ không phải dùng ngón tay chỉ vào trang phục của người đó rồi tuyên bố đây là những thứ không hợp thời hay không đúng cách, thì đó chỉ là cách cho mọi người nhìn vào cái khoác bên ngoài của họ, thỏa mãn sự khinh ghét của quần chúng nhìn vào lớp son phấn bôi trét trên mặt mày hay lớp áo quần dị hợm che trùm thân thể. Thế rồi kẻ kia sẽ thay bằng những trang sức trang phục lừa bịp tinh vi hơn, đánh lừa được những ánh nhìn thù ghét, trong khi con người bên trong lớp áo quần đó vẫn nguyên trạng. Giống vậy, cuộc cách mạng nếu có, là làm thay đổi tâm thức của con người cộng sản; còn cứ chỉ ra những việc làm ác độc hay nhũng lạm, chi chi của họ đi nữa, chẳng khác nào tố cáo cái lớp áo bên ngoài, hay lột y áo đó ra rồi chà đạp chửi rủa lên thứ áo quần tội lỗi; chứ nào diệt bỏ được cái con người mặc y áo ấy. Họ vẫn bình chân như vại! Dù vạch áo xem lưng thì cũng chả thay đổi gì cả.

 

Tôi không cố ý hay có dụng ý khoác cho bài thơ “phế tích của ảo ảnh” chuyển tải ngầm một ý hướng chính trị nào. Theo tôi, bài thơ mang tính trăn trở tâm thức, xuyên qua những thực trạng mà tác giả trải nghiệm cũng như nhận thức về mặt xã hội và con người, những cảm nhận hiện tại và ký ức quá khứ, cả hai đều khiến cho tâm hồn thi sĩ dâng lên một điệu buồn vô ngôn khó tả. Bài thơ không những bộc lộ những cảm nhận khi về thăm lại quê nhà còn đồng thời hiện lên những ký ức quá khứ chỉ còn là phế tích. Sau đó là những tư duy dành cho chính nơi ông đang sống như một quê hương thứ hai, nơi này, “con người” cũng tàn tạ theo một kiểu cách của thời đại tân tiến văn minh, trong khi trái đất càng ngày càng lâm vào tình trạng báo động do con người đang tâm hủy hoại địa đàng của sinh loại. Tư duy mang tính trăn trở triết lý và ẩn hiện lấp ló tính vô thường của đạo học phương đông, những phạm trù sâu sắc và vi tế.

 

Dĩ nhiên, tất cả sự tưởng tượng và lạm bàn bằng mượn bài thơ của thi sĩ Trịnh Y Thư chỉ là sự phóng tưởng của người viết. Có thể nhà thơ sau khi đọc bài tản mạn phiếm bàn này, sẽ mỉm cười một cách hiền hòa rằng tôi không có bất kỳ ý tưởng nào như bài viết nói lung tung lang tang này, đây chỉ là một bài thơ thơ mộng, một câu chuyện tưởng tượng bằng ngôn ngữ thi ca, như một vở kịch câm hay như một phim câm của Charlot, sự diễn tả bằng hành động và nét mặt tùy cảm nhận của khán giả mà quy cho là hài kịch hay bi kịch. Thơ mang tính cảm xúc chứ không mang tính lý luận.

 

Dù nói thế nào, thì thi ngữ và ý ngữ của bài thơ Phế tích của ảo ảnh đã tác động đến cảm xúc của tôi, làm dâng tràn tuôn ra những tưởng tượng khi thả hồn bồng bềnh trôi theo hơi thở của bài thơ mà tưởng nhớ đến một quê hương chỉ còn nằm trong trí tưởng, trong giấc mơ, trong ký ức. Quê hương trong ký ức của tôi chỉ còn như một phế tích. Quê hương hiện tại tôi trở về đối diện dường như cũng là ảo ảnh. Quê hương trong tương lai ư? Ngay cả bằng ảo giác phong phú như xảo thuật điện ảnh Hollywood, tôi vẫn không tưởng tượng nổi một quê hương trong tương lai của tôi sẽ như thế nào. Made in USA? Made in China? Hay đã hóa thành một sa mạc hoang vu không có sinh vật vì mỗi hạt cát sa mạc này đều có chất độc chết người? Buồn thay! ...

 

Lê giang trần

11/13/2017, Mùa lễ Thanksgiving.

Send comment
Your Name
Your email address
Monday, October 13, 202510:11 PM(View: 13571)
Viện Bảo Tàng The Getty toạ lạc tại thành phố Los Angeles, CA, USA. đã tổ chức một buổi triển lãm hy hữu kéo dài từ tháng 6 đến 28 tháng 9 năm nay, 2025. Buổi triển lãm có tên là "Queer Lens" tập trung vào chủ đề Lịch Sử Nhiếp Ảnh của Người Đồng Tính là một cuộc trưng bày thật đặc biệt và vĩ đại của Viện Bảo Tàng to lớn và nổi tiếng ở Nam California, Hoa Kỳ này. Hơn 270 bức ảnh thể hiện những biểu hiện về giới tính và tình dục qua hai thế kỷ đã xuất hiện như một khiêu khích mà chỉ Viện Getty mới đủ can đảm để dàn dựng. Phải mất gần 6 năm để chuẩn bị, sưu tầm, cùng những cố gắng và nỗ lực của nhiều người, buổi triển lãm mới được ra đời.
Monday, October 13, 202511:02 AM(View: 12597)
Cuộc khủng hoảng môi trường xuyên biên giới này đã ảnh hưởng đến sông Mekong, và các chuyên gia cảnh báo rằng chất ô nhiễm có thể lan tới cả Biển Đông.
Monday, October 13, 20259:10 AM(View: 17752)
có thể hy vọng sẽ ghim vào thể xác để rồi xác định được phương vị tìm thấy trong cùng thẳm kiếp người lý lịch tôi thất tung từ lúc tổ tiên đã hòa tan vào bóng tối.
Monday, October 13, 20258:49 AM(View: 12677)
Nổi Buồn của Phản Kháng (The Melancholy of Resistance): Trong một thị trấn nhỏ tăm tối, lạnh lẽo, gần như bị bỏ quên ở vùng nông thôn Hungary, mọi thứ trôi qua trong sự trì trệ, u ám và vô nghĩa. Người dân sống lặp lại từng ngày, giữa rượu, tin đồn và nỗi sợ mơ hồ về điều gì đó sắp xảy ra — một sự tan rã nào đó mà không ai dám gọi tên.
Monday, October 13, 20258:28 AM(View: 13925)
Mùa Nobel đang nở rộ với các giải thưởng danh giá nhất trong nhiều lĩnh vực chuyên môn như Vật Lý, Hóa Học, Y Khoa, Văn Chương, Hòa Bình đang lần lượt được công bố. Sự thú vị tuyệt vời trong mùa phát giải Nobel là hầu hết người trúng giải đều thật sự xứng đáng là những nhân vật tinh hoa thời đại. Giải Nobel Văn Chương năm nay đang xoáy vào đề tài “hoang mạc tinh thần” hay “sa mạc vô tâm”... nói đến thân phận con người giữa vòng xoáy của sự cô độc trong cơn tuyệt vọng gần như tận thế của tâm hồn. Trước nỗi tuyệt vọng đầy cuồng nộ của phương Tây và nhẹ nhàng hơn ở phương Đông mình thử làm người cưỡi ngựa xem hoa, đi tìm vài giọt sương Thu trong cơn khát cháy...
Monday, October 13, 20258:14 AM(View: 16986)
khi mô rảnh anh nhớ về thăm huế kẻo huế chờ cây khế ngọt rụng bông bữa trước em có ngồi bên lu nước con lăng quăng quẩy nhẹ chút tang bồng
Friday, October 10, 202512:02 AM(View: 10642)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
Wednesday, October 1, 202511:43 PM(View: 15811)
Anh không còn nhìn ra em / Dưới mắt dày cui kính cận / Ánh sáng cứ lóa thất thần / Ngày thì dài bàn tay anh ngắn
Wednesday, October 1, 202511:14 PM(View: 11093)
Tôi gặp chị trong một dịp tụ họp cà phê ăn sáng với nhóm thi hữu văn chương tại thành phố HCM. Đó là chị Ngọc Mai với khuôn mặt đẹp, dáng người nữ tính, đôi mắt long lanh sáng đẹp như hút hồn người đối diện. Tên đẹp, người đẹp, nụ cười duyên dáng và giọng nói êm ái, ngọt ngào là ấn tượng đầu tiên của tôi về chị. Tôi nhìn chị đoán cỡ khoảng chưa ngoài tứ thập. Chị cười dịu dàng bảo: -Em cộng thêm ba mươi năm nữa mới gần đúng tuổi thật của chị! Tôi ngạc nhiên và không thể ngờ trước việc chị trẻ hơn tuổi nhiều đến thế! -Ôi vậy à! Nếu thế thì chị quá trẻ so với tuổi. Nếu chị không khai, khó ai mà đoán ra tuổi thật của chị! - Nhìn chị, em biết chắc chị hạnh phúc lắm mới trẻ được như vậy, chắc là lúc nhỏ được ba mẹ cưng, lập gia đình thì được chồng cưng, chị mới có dáng hình trẻ trung, gương mặt xinh tươi ánh lên vẻ yêu đời lạc quan đến vậy. -Ồ cảm ơn em! Nhưng chị thì không được như em nghĩ đâu! Thế rồi chị bắt đầu kể tóm tắt cuộc đời của chị cho tôi nghe, chị ngược dòng th
Wednesday, October 1, 202510:45 PM(View: 11353)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân mẫu của bạn Nguyễn Ngọc Bảo: /Cụ Bà Nguyễn Thị Hải (bà Qủa Phụ Nguyễn Ngọc Diễm) /Sinh năm 1933 tại Bắc Ninh, Việt Nam Đã mãn phần vào ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại Houston, Texas./ Hưởng thọ 93 tuổi
Friday, August 7, 2026(View: 3851)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Saturday, August 16, 2025(View: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, December 18, 2024(View: 19664)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Wednesday, December 18, 2024(View: 18645)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Sunday, October 18, 20266:14 PM(View: 1647)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Sunday, October 18, 20266:04 PM(View: 1810)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Friday, October 9, 20266:39 PM(View: 2325)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
Friday, October 9, 20266:09 PM(View: 2435)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(View: 1472)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(View: 2216)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(View: 1960)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(View: 2006)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Sunday, October 18, 20264:43 PM(View: 1385)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
Friday, October 9, 20265:49 PM(View: 2425)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Friday, October 2, 202612:54 AM(View: 2639)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Wednesday, September 23, 202610:53 PM(View: 2385)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Tuesday, October 27, 2026(View: 249)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Wednesday, October 21, 2026(View: 821)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Monday, October 19, 2026(View: 1014)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Monday, October 19, 2026(View: 1128)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
Friday, June 5, 2026(View: 6423)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, June 6, 2025(View: 15902)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Friday, December 22, 2023(View: 32166)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Wednesday, April 27, 2022(View: 38869)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(View: 1494)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(View: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(View: 6919)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(View: 10724)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(View: 9916)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(View: 10035)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(View: 10840)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Monday, September 14, 20262:19 AM(View: 3465)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
Friday, October 31, 202510:09 PM(View: 11158)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Saturday, October 25, 20251:53 AM(View: 10370)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi