- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

BIỂN CHẾT

05 Tháng Năm 20162:59 SA(Xem: 59232)
tangoulis-LAST TRIP
Last Trip - photo Tangoulis




Chiếc thuyền chèo đã trôi xa giữa lòng đại dương mênh mông. Năm ngày. Năm đêm. Con thuyền chòng chành như thân gỗ mục không định hướng rời xa cuộc sống loài người, đi dần về hướng mặt trời. Có nhiều hôm, những cơn bão nhẹ lướt tới, gió làm mặt biển xao động. Mưa miền nhiệt đới tưới mát cơn oi bức, trút xuống những cây nước khổng lồ làm nhòa đi tầm nhìn về bên kia thế giới. Và đêm nay, trăng tròn lủng lẳng treo giữa những đám mây, chiếu tia sáng lờ mờ, ma quái xuống biển đen đang lên cơn hấp hối. Tôi biết, giờ phán xét đã tới. Con thuyền ngả nghiêng theo những đợt sóng lớn. Tôi nằm ngửa mặt nhìn trời cười lên sằng sặc. Giờ phán xét đã đến.

Tôi là gã đàn ông trung niên đã sống non nửa đời người, chưa làm được điều gì thiết thực để tối thiểu còn cảm thấy mình có ích cho cuộc sống. Non phân nửa cái cuộc đời thảm hại đó có ít nhất 100 lần, tôi đã có ý định tự tử. Khi tôi đã khẳng định cuộc đời này không còn gì có thể níu giữ chân mình, nhưng tôi đã không làm điều chi để kết thúc nó một cách chóng vánh, sòng phẳng, thắt cổ chẳng hạn, như thế có nghĩa là tôi hèn, không dám đối mặt với cái chết. Hôm nay, tôi ra đi êm ả, nhưng không vì thế mà số phận của tôi mất đi cái dáng vẻ chết chóc đầy kịch tính.

Con thuyền đã trôi sâu vào đại dương mênh mông. Tôi nhắm nghiền đôi mắt. Nước biển lạnh lùa trên da thịt, mặn đắng. Biển níu chân rồi kéo tôi xuống, sau nhiều giây giằng co với nỗi chết, biển lại đẩy tôi lên. Thân thể tôi trôi lềnh bềnh, lắc lư theo từng đợt sóng. Mưa đã tạnh. Bão đã dứt. Ánh trăng dằng dặc treo trên đỉnh trời tỏa xuống một thứ ánh sáng cắt da thịt. Tôi nằm ngửa và chờ đợi cái chết đến với mình một cách thản nhiên, chầm chậm…

Tôi là gã đàn ông trung niên đã sống non nửa đời người, chưa làm được điều gì thiết thực để tối thiểu còn cảm thấy mình có ích cho cuộc sống. Tôi sinh ra vào năm mà người dân nước tôi gọi nó bằng cái tên đầy ấn tượng, Tết Mậu Thân. Tôi không nhớ rõ mình đã được sinh ra nơi nào, chỉ biết rằng, do người khác kể lại, tôi là một đứa trẻ lên bốn được cứu sống sau khi cha mẹ, anh chị em và hàng chục, hàng trăm gia đình khác đã bỏ mạng trong một ngôi làng nhỏ ven sông sau một trận đánh khốc liệt. Tôi lớn lên từ một viện mồ côi. Năm 1975, tôi bỏ viện đi lang thang được vài tháng rồi quay về chốn cũ. Tôi được chăm lo ăn học không đến nổi tệ, nhưng thiếu thốn mọi thứ cho đến khi tôi được 18 tuổi. Từ đó, tôi rời hẳn viện cô nhi sống vất vưởng trên hè phố và làm tất cả mọi việc chân tay để kiếm sống. Mang bộ mặt tái xanh kinh niên cùng với hai cánh tay khẳng khiu, đôi chân run rẩy và một thân hình ốm đói, tôi đại diện cho một tuýp người sống ở thời nào cũng chỉ là một kẻ bên lề. Nghèo mạt hạn, thiên hạ bỉ cực, nhưng tôi là người có nhân cách, không chịu thua cuộc trước bất cứ một thử thách nào của cuộc sống, nghĩa là, tôi có trách nhiệm với đời mình. Những lúc thất nghiệp và đói mờ con mắt, tôi vẫn cam chịu, lê thân hình còm nhom, động đậy tay chân làm những công việc tạp nhạp để có được vài hạt cơm ấm lòng. Như thế, tôi là người biết tự trọng, đúng không? Từ năm 1987, Sài Gòn bắt đầu có một cuộc chuyển mình. Nhiều người đã bắt kịp thời vụ làm một cuộc đổi đời ngoạn mục. Riêng tôi, vẫn nghèo và đói, luôn là kẻ đứng bên lề. Cuộc chơi của thiên hạ có tầm chiến lược. Những cặp mắt trơ tráo, man dại, những cái cúi đầu trầm uất bên cạnh những nụ cười mãn nguyện, những cánh tay giơ khỏi đầu, những bắp thịt chắc nịch mang những thân hình thế kỷ xông về phía trước. Trong đó, không có tôi, một kẻ ngoại đạo, khập khễnh bước những bước chân xiêu vẹo đầy tâm trạng.

Hơn mười năm đổi mới, Sài Gòn thay đổi hẳn bộ mặt, vừa xông xáo, năng động, tươi tắn, vừa trâng tráo, trơ trẽn và bụi bậm. Nhà cửa nhiều tầng trên các ngả đường như những hồn ma từ các ngôi mộ hoang ùn ùn đứng dậy. Các cửa hiệu khang trang chất đống những quan tài hàng hóa. Những con phố mới tấp nập ngựa xe, những dòng người ngược xuôi hối hả đưa đám tang những giấc mơ lên thiên đàng. Tôi không có chổ đứng trong sự hiện hữu đầy thách đố đó. Tôi cảm thấy bất an. Và nhìn thiên hạ qua lăng kính của một kẻ luôn đứng bên lề.

Tôi thuê một chiếc xích lô của một thương gia giàu để làm kế sinh nhai sau bao nỗ lực thay đổi cuộc đời đều bị thất bại. Hằng ngày, từ tờ mờ sáng, tôi đạp xích lô qua hết các ngõ ngách tâm hồn dân thành phố, đạp toát mồ hôi trán để có được một bữa cơm đạm bạc thay cho nỗi buồn ngổn ngang gặm nhấm cuộc đời. Hai mùa mưa nắng trôi qua. Sài Gòn lên cơn động kinh như các cô gái đang xuân nhịp nhàng những điệu nhảy quay cuồng bên trong các vũ trường. Tôi tồn tại chủ yếu là nhờ họ, những con bướm sống về đêm. Ban ngày, tôi đưa đón đủ hạng người. Về đêm, trên chiếc xích lô thô kệch, khách hàng của tôi là những cô gái nhảy tìm về với các động thiên thai. Sài Gòn quyến rũ về đêm. Ánh đèn màu tỏa nhiệt rọi xuống lòng đường những khuôn mặt mỏi mệt, thiếu ngủ của các cô vũ nữ. Mùa hè, Sài Gòn có những trận mưa đêm làm sạch đường phố, làm mát những cột điện là nơi tựa lưng của những cô gái điếm. Hai giờ sáng một ngày cuối tuần, mưa tầm tã dội lên mái ngói, thổi tốc váy những cô gái ăn đêm hối hả tìm về nơi cư ngụ. Tôi trải tấm pông-sô nhựa phủ lên chiếc xích lô rồi chui vào nằm tránh mưa (đã nhiều lần như thế). Tôi nằm nghe những giọt nước mắt của trời rơi lộp độp và tuôn nhẹ vào hồn một nỗi buồn trống vắng. Tôi vừa chợp mắt thì bên ngoài bỗng có tiếng động lao xao và những tiếng bước chân hối hả đi tới. Tấm pông-sô được vén lên, một khuôn mặt ướt đẫm nước mưa nhoè nhoẹt son phấn, hiện ra trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn đường làm tôi giật mình. "Mưa lớn quá. Anh cho em vào trú tạm một lúc, đến khi mưa tạnh rồi mình cùng về."Thân chủ của tôi co ro trong chiếc váy cụt ngủn.Tôi nhìn cô im lặng. Cô gái nở một nụ cười thân thiện, quăng nhẹ cái túi xách vào lòng chiếc xích lô rồi đưa hai bàn tay bấu vào thành xe trèo lên. Mưa vẫn ầm ì nặng hạt. Cô thản nhiên cởi tung quần áo ướt đẫm đang mặc trên người, thay thế bằng một bộ đồ ngủ hoa hoè được lấy ra từ cái túi xách. Trời vẫn mưa tầm tã. Gió thổi mạnh. Ngọn đèn đường chao đảo. Cơn lạnh thấm vào da thịt. Cô gái ngượng nghịu áp vào người tôi rên rỉ. Tiếng ho húng hắng hòa với tiếng mưa đêm tạo nên một cảm giác thê lương bao trùm. Tôi ghì cô gái vào lòng. Những xúc cảm nhè nhẹ bất chợt trổi dậy trong từng mạch máu. Chúng tôi nói chuyện và hôn nhau thật lâu. Rồi lần tay cởi tung quần áo trên người. Cô gái tốn khá nhiều thời gian để kích thích cho dương vật của tôi cương cứng lên được. Chiếc xích lô cử động lên xuống nhịp nhàng theo những động tác làm tình xung mãn. Trong lúc cảm giác thích thú của tôi gần lên đến tột đỉnh thì tấm pông-sô bị giật tung lên. Chúng tôi trần truồng nhìn nhau ngỡ ngàng. Mưa đã tạnh. Đường phố bắt đầu một ngày mới sớm sủa với những tiếng động lao xao của người qua lại. Đứng cạnh chiếc xích lô, 2 người công an nhìn chúng tôi trân trối đầy vẻ đe dọa, miệng quát tháo những câu hằn học. Chiếc xích lô bị niêm phong. Tôi và cô gái nhảy bị tống ngay vào trại giam vì mang cái tội làm ô uế thành phố.

Tôi là gã đàn ông trung niên đã sống non nửa đời người, chưa làm được điều gì thiết thực để tối thiểu còn cảm thấy mình có ích cho cuộc sống. Tôi ra tù. Sài Gòn lại có thêm nhiều sự biến đổi. Thành phố đang chuẩn bị đón Tết Nguyên đán. Sau ba tháng ở tù, tôi không còn lại gì. Căn chòi tranh được dựng lên tạm bợ cách đây khoảng hơn một năm ở một khu lao động nghèo đã bị phá vỡ. Một vùng đất rộng hơn một mẫu đã được san bằng và đang được cho dựng lên một cơ sở kinh doanh nào đó mà tôi không được biết. Tôi cũng chẳng cần biết.


Tôi ngồi hàng giờ trên chiếc ghế đá trước chợ Bến Thành, nhìn thiên hạ ngược xuôi qua lại. Sài Gòn tháng giêng nóng bức và bụi bậm, thỉnh thoảng, vài cơn gió thổi qua làm xao động nhè nhẹ những cành cây trơ trọi dưới ánh mặt trời. Cơn đói cồn cào trong dạ, nhưng tôi vẫn ngồi bất động hàng giờ nơi đó. Tôi chưa biết mình phải làm gì, nhưng nhất định không bao giờ tôi chịu hạ mình đi xin sự ban bố tình thương nhỏ nhoi của thiên hạ. Như thế, tôi là người biết tự trọng, đúng không?


"Chú cho cháu xin một ngàn để cháu ăn bánh." Thằng bé loắt choắt cứ ve vãn bên tôi từ sáng.
Trời ạ, tao cũng đang đói meo như mày. Đi chỗ khác mà xin tiền, nhanh lên, bám vào tao là chết cả lũ đó con ạ.


"Chú cho cháu xin một ngàn để cháu ăn bánh." Giọng thằng bé càng thêm khẩn cấp.  Âm thanh tạp nhạp cứ thế lập đi lập lại bên tai. Tôi nổi nóng, nhưng lại tội nghiệp thằng bé, nó chỉ khoảng bảy tám tuổi, hoàn cảnh của nó có khác chi mình.


"Cháu ạ, đi xin tiền người khác đi, chú cũng nghèo và đang đói như cháu. Chú không thể giúp cháu được."


Nghe bảo thế, thằng bé nhìn tôi từ đầu đến chân một lúc, tỏ vẻ ngạc nhiên rồi bĩu môi bỏ đi. Tôi vẫn ngồi bất động như thế suốt một buổi sáng.  Tôi tìm một nơi có bóng râm, đặt mình nằm xuống và cố vỗ giấc ngủ để quên đi cơn đói đang cồn cào trong dạ.

"Chú ơi, dậy đi chú. Cháu có bánh cho chú đây này."


Tôi cựa mình. Bàn tay nhỏ nhắn vẫn tiếp tục lay tôi dậy. "Chú ơi, dậy đi chú. Cháu có bánh cho chú đây này." Tôi mở choàng đôi mắt ngáy ngủ nhìn trừng trừng vào khuôn mặt lấm lem của thằng bé ăn xin buổi sáng. Tội nghiệp thằng nhỏ, nó kiên nhẫn nhìn tôi chờ đợi sự phẫn nộ sắp bùng nổ. Cơn giận dữ của tôi vừa bùng lên rồi tiêu tan ngay. "Chú ơi, cháu có bánh cho chú đây này." Thằng bé vẫn nài nỉ. Cơn đói làm tôi hoa mắt. Thằng bé đặt miếng bánh vào lòng bàn tay của tôi. Tôi cảm thấy bất lực, chần chừ nhìn chầm chập vào cặp mắt lém lỉnh của nó rồi rụt rè đưa miếng bánh lên miệng, nhai ngấu nghiến.

Sài Gòn bắt đầu lên đèn. Thằng bé ăn xin đưa tôi về chỗ của nó. Đó là một góc kín bên dưới một gầm cầu bắc ngang một con kênh bốc lên nồng nặc mùi hôi thối và dập dềnh rác rưởi. Tôi đã ngủ lại nơi đó một giấc ngủ đầu tiên ngon lành sau nhiều tháng trằn trọc bởi những cơn ác mộng bên trong bốn bức tường kín mít của trại giam. Sáng sớm, tôi vừa thức dậy thì thằng bé đã biến mất. Giữa trưa nó quay về với một túi xách đầy thức ăn trên tay. Nó bày thức ăn lên một tấm cạc tông. Tôi ngạc nhiên nhìn nó thật lâu, vẻ rắn rỏi, trưởng thành phát tiết lên cặp mắt trẻ thơ tinh nghịch làm tôi lo sợ. Nó bảo thức ăn nó tự mua bằng đồng tiền nó vừa xin được từ một người đàn bà tốt bụng. Sáng sớm nào nó cũng đi ăn xin như thế cho đến khi trời tối mịt.
Tôi nhận thằng bé làm con. Nó đối xử tử tế với tôi như đối với một người cha thất lạc nhiều năm vừa mới tìm gặp. Tôi đi tìm việc nhiều nơi để chứng tỏ mình là một người đàn ông chân chính, có trách nhiệm, ít nhất là với đứa con vừa nhặt được, tôi nghĩ thế. Nhưng, đã nhiều ngày qua vẫn không có một người nào chịu thu nhận. Thằng bé vẫn hằng ngày đi xin ăn và vẫn hằng ngày mang về cho tôi những bữa cơm thanh đạm, nhưng no lòng. Và tôi biết, tôi không thể tiếp tục để cho tình trạng cứ kéo dài mãi như thế. Một sáng, tôi bảo với nó:
"Hôm nay, con phải ở lại đây, cha sẽ thay con đi tìm thức ăn về cho hai cha con mình. Nhớ, con là con của cha, con phải nghe lời của cha, không được đi đâu cả."
Tôi đi, nhưng thật sự không biết mình phải làm cách nào có được vài ngàn để mua một suất cơm mang về cho thằng bé. Đi mãi cho đến chiều tối, bụng đói cồn cào. Tội nghiệp cho thằng nhỏ chờ tôi trở về từng giờ, từng phút. Tôi mệt mỏi lê bước, mắt dõi theo chiếc bóng còm nhom của mình đổ dài trên đường nhựa. Tâm trạng ngổn ngang những xót xa, phiền lụy. Tôi chưa biết mình phải làm gì, nhưng nhất định không bao giờ tôi chịu hạ mình đi xin sự ban bố tình thương nhỏ nhoi của thiên hạ. Như thế, tôi là người biết tự trọng, đúng không? Cuối cùng, tôi bỏ cuộc, trở về với hai bàn tay không. Thằng bé có lẽ vì quá đói lả người, nằm ngủ say bên trong tấm chăn nhàu nát. Hôm sau, tôi lại một mình ra đi từ sớm. Và chiều tối trở về cũng với hai bàn tay không.

"Cha mệt mỏi quá." Tôi bảo với nó. "Cha đã không lo được cho con và cũng chẳng giúp được gì cho chính mình. Cha vô dụng và đã không làm tròn bổn phận của cha. Từ nay, cha không muốn làm cha của con nữa. Cha sẽ ra đi và con hãy cố tự lo cho mình."

Thằng bé nghe xong ngã nhào vào lòng tôi khóc rưng rức. Nó bảo:
"Con không muốn xa cha. Cha con mình sẽ sống chết có nhau. Cha phải nghe lời con, cứ ở nhà, con sẽ đi kiếm tiền về nuôi cha."
"Cha mệt mỏi lắm rồi. Cha không muốn tiếp tục có trách nhiệm với con. Cha không muốn làm cha của con nữa.Con muốn làm thế nào thì làm."

"Thế thì con sẽ thay cha, làm những việc cần thiết mà người cha phải làm.”
Do dự một lát, tôi bảo:
"Ừ, thế cũng được. Tao cho mày được làm cha của tao đó. Đồ ngu" Tôi ậm ừ cho qua chuyện.
"Làm cha của cha, thì cha phải nghe lời con, cứ ở nhà, con sẽ đi kiếm tiền về nuôi cha, ok."

"Ok."
Thằng bé thì thào trong tiếng khóc nức nở, nhưng tỏ vẻ ranh mãnh và vui sướng. Tôi im lặng nhìn thằng con nuôi, tinh thần bấn loạn.
"Ngày mai, cha ở nhà đợi con." Nó lau nước mắt và nói giọng cả quyết.

Sáng sớm, tôi chưa thức giấc thì thằng nhỏ đã đi mất. Chiều về, ngoài thức ăn, nó còn mang cho tôi một cái kính mát và một cây gậy gỗ. Hôm sau, nó rủ tôi xuống phố. Mọi kế hoạch 'làm ăn' đều do thằng nhỏ quyết định, vì nó đang làm cha của tôi kia mà, đúng không? Nó bảo, tôi phải nghe lời nó thì hai cha con mới có một con đường sống mà vẫn không mất nhau. Tôi giả người mù, chống gậy đi theo thằng bé. Đeo cặp kính đen, tôi cảm thấy mình tự tin hơn để nhìn thẳng vào cuộc đời. Nhìn ngắm những cô gái đẹp, tôi thèm muốn được làm tình với tất cả mà không hề lo sợ bị một ai cho là mình khiếm nhã. Tôi có quyền ước mơ như thế. Tôi lẩn trong đám đông, cố bước những bước đi đàng hoàng lùi xa thằng bé để thiên hạ không ngộ nhận mình là kẻ ăn xin. Như thế, tôi là người biết tự trọng, đúng không? Một người phụ nữ trung niên giàu sang cặp tay một ông Tây đang từ trong một quán ăn bước ra. Đường sá tấp nập người bộ hành và xe cộ qua lại như mắc cửi. Tôi nghe lời thằng bé chặn đường hỏi chuyện người phụ nữ. Thằng nhỏ làm gì lúc đó, thật sự tôi không rõ. Tôi chỉ biết rằng, trong lúc nói chuyện với người đàn bà, tôi bỗng giật mình vì có tiếng la bắt kẻ móc túi của những người qua lại. Sau đó là tiếng còi toe toe của người công an đuổi theo kẻ trộm. Thằng nhỏ băng nhanh qua đường. Chiếc xe du lịch vừa trờ tới rồi tông vào thằng bé văng ra xa vài mét. Nó nằm bất động nơi có vũng máu chảy loang loáng trên mặt đường nhựa.

Cái chết của thằng con nuôi đã khiến cho tôi có cảm giác mình đang bị rơi xuống vực thẳm. Con đường từ chợ Bến Thành đến bệnh viện Chợ Rẫy không có những bồn hoa chắn lối đi. Vỉa hè nứt nẻ, khập khễnh những viên gạch ố vàng ngổn ngang lẫn với nhiều rác rưởi. Những căn nhà bê tông đứng xiêu vẹo bên những thân cây già cỗi. Những khung cửa sổ trống hoác nhìn xuống con đường ngược xuôi xe cộ. Một đám đông những hình thể con người cử động nhịp nhàng xung quanh không có chút gì dính dáng đến cuộc đời tôi. Con đường từ bệnh viện Chợ Rẫy đến gầm cầu không thắp sáng những ngọn đèn nê-ông. Không gian tối mò mò. Tôi chỉ thấy toàn xác chết. Tôi nằm vật vã nơi đó, một góc nhỏ thu hẹp dưới gầm cầu, nhiều ngày qua, nơi mà thằng bé đã nương náu tấm thân nhiều năm kể từ cái ngày nó rời bỏ quê hương miền Trung khô cằn sỏi đá của nó đến với mảnh đất Sài Gòn hoa lệ để kiếm sống. Và cũng từ nơi đó, nó đã vĩnh viễn ra đi.

Tôi là gã đàn ông trung niên đã sống non nửa đời người, chưa làm được điều gì thiết thực để tối thiểu còn cảm thấy mình có ích cho cuộc sống. Tôi trốn khỏi bệnh viện tâm thần Chợ Quán sau một tháng bị nhốt trong đó. Tôi được đưa vào cái bệnh viện ôn dịch này từ lúc nào tôi chả biết, và họ đã tiêm bao nhiêu thứ thuốc 'an thần' vào người tôi, tôi cũng chẳng hay. Ra viện, tôi chỉ thấy người tôi bần thần. Đầu óc nhiều khi như bị chập điện. Tôi vẫn còn mang một bộ mặt tái xanh kinh niên cùng với hai cánh tay khẳng khiu, đôi chân run rẩy và một thân hình ốm đói, tôi đại diện cho một tuýp người sống ở thời nào cũng chỉ là một kẻ bên lề. Nhưng đời sống của tôi có khả quan hơn một chút kể từ khi tôi tìm được một công việc tạm bợ có thể nuôi sống thân mình. Trong một ngày, nếu bán hết tập vé số, tôi có thể kiếm được vài chục ngàn. Buổi tối, với số tiền dành dụm ít ỏi, tôi vẫn có thể tự đãi cho mình một ly cà phê đen trong cái quán bên vỉa hè trên đường Đồng Khởi. Tại đây, tôi đã gặp cô gái. Cô ta còn trẻ, khuôn mặt toát lên một vẻ thánh thiện ma quái. Tôi thấy, đã nhiều đêm cô vẫn ngồi bất động ở một góc quán chật hẹp. Cô tỏ ra lạnh lùng với thế giới xung quanh, thỉnh thoảng nhìn tôi bằng cặp mắt có một chút thân thiện. Cô ngồi hàng giờ như thế. Ánh đèn đường chập choạng chiếu lên khuôn mặt biến dạng từng lúc khiến tôi bần thần. Cô chủ động đến bên cạnh, đôi tay bấu víu khoảng không như muốn níu chặt người tôi vào lòng. Đám đông những hình thể con người xung quanh không dính dáng gì đến cuộc sống của chúng tôi. Cô nắm lấy tay tôi đứng dậy. Tôi mất tự chủ, âm thầm bước theo cô gái. Chúng tôi đã đi trong đêm thật lâu, vượt qua một cánh đồng khô đến một căn nhà gỗ nằm cạnh một dòng sông có nhiều rác rưởi và mùi hôi thối. Bên trong le lói một ngọn đèn dầu. Chúng tôi trần truồng nằm ôm nhau trên chiếc giường tre đặt sát bên tấm vách. Cô gái tốn khá nhiều thời gian làm những động tác kích dục, nhưng dương vật của tôi vẫn không thể cương cứng lên được. Cô nắm bàn tay tôi đặt xuống âm hộ của nàng, tôi thấy nó vẫn khô khốc đến thảm hại, những sợi lông cong queo như muốn siết chặt các lóng tay làm tôi tê điếng. Bao nhiêu nỗ lực đã được đếm bằng những giọt mồ hôi tuôn ra làm trơn khuôn ngực của cô gái, nhưng không đủ ướt đậm cái vũng sâu dưới háng mà cô đang cố bành ra mời mọc. Chúng tôi rời nhau như hai khúc củi khô mục. Có tiếng cười khẩy. Tôi nhìn trừng trừng vào bóng đêm nhờ nhợ. Không có ai. Tiếng cười vẫn nấc lên, từng chặp, phả luồng hơi lạnh buốt tởm lợm lên hai thân thể trần truồng rã rượi. Tôi nhắm nghiền mắt lại. Trong mơ màng, tôi nghe văng vẳng trong đầu tiếng ai đó thì thầm:
"Tình yêu loài người là thế đó ông ạ. Những điều thiêng liêng đã không còn tồn tại. Những xúc cảm tự nhiên đã bị tắc nghẽn. Cô gái muốn trao hết cho ông những gì cô ấy có thể để chứng minh sự hiện hữu của mình. Nhưng, tất cả chỉ còn là niềm tuyệt vọng đớn đau. Đời sống hiện thực là sự bất lực của ông và là sự khô cạn vùng âm hộ đời cô ta. Hai người phải ra đi và không nên giữ lại những gì mà mình không có hoặc đã đánh mất."
Tôi ậm ừ rồi thiếp đi từ bao giờ. Sáng dậy, tôi thấy mình nằm trần truồng trên cánh đồng khô, và cô gái đã biến đâu mất. Đêm hôm đó, tôi trở lại cái quán bar nằm nơi vỉa hè trên đường Đồng Khởi. Tôi hỏi thăm tất cả mọi người có mặt thường xuyên nơi ấy, và không một ai có thể cho tôi biết đã từng gặp cô gái lạ tại đây. Thiên hạ bảo, chỉ nhìn thấy tôi ngồi nói chuyện một mình.

Con thuyền đã trôi sâu vào đại dương mênh mông. Tôi nhắm nghiền đôi mắt, nước biển lạnh lùa trên da thịt, mặn đắng. Biển níu chân rồi kéo tôi xuống, sau nhiều giây giằng co với nỗi chết, biển lại đẩy tôi lên. Thân thể tôi trôi lềnh bềnh, lắc lư theo từng đợt sóng. Mưa đã tạnh. Bão đã dứt. Ánh trăng dằng dặc treo trên đỉnh trời tỏa xuống một thứ ánh sáng cắt da thịt. Tôi nằm ngửa và chờ đợi cái chết đến với mình một cách thản nhiên, chầm chậm…

Muốn chết thật không phải dễ. Đã hai ngày qua, tôi vẫn trôi lềnh bềnh trên mặt biển mặn chát. Nằm ngửa mặt nhìn lên, tôi có cảm giác nếu giơ hai cánh tay lên cao, tôi có thể kéo bầu trời ập xuống sát đời mình, để che chở sự đơn độc, trống vắng bởi cái mênh mông kinh khiếp của biển, như một sự đe dọa. Những lúc mặt trời lên cao trên đỉnh đầu, tôi lại sợ hãi cái nóng khô khốc đốt cháy những lớp da trần trụi. Tôi lật người, úp mặt xuống biển để chờ đợi sự phán xét cuối cùng vỗ ầm ầm xuống cột sống. Những hôm biển lặng, trời trong mát mẽ, tôi nằm ngửa mặt nhìn trời cười lên sằng sặc. Nước biển tràn lên da thịt rát bỏng. Trên người tôi chỉ còn lại một mảnh vải che kín phần bụng, bên dưới, cái dương vật ngọ ngoạy lắc qua lắc lại theo nhịp đập của những đợt sóng. Gió phe phẩy đẩy những dòng nước biển mát rượi tràn lên bụng, ve vuốt thịt da và gây cho tôi một cảm giác mê hoặc, dương vật bỗng dưng cương cứng. Tôi buồn vì sức lực không còn, rồi bỗng vui vô kể. Tôi vui vì dương vật cương cứng có nghĩa là tôi còn rât yêu đời.

Biển mênh mông không bến bờ. Tôi nhắm nghiền đôi mắt, nước biển lạnh lùa trên da thịt, mặn đắng. Biển níu chân rồi kéo tôi xuống, sau nhiều giây giằng co với nỗi chết, biển lại đẩy tôi lên. Thân thể tôi trôi lềnh bềnh, lắc lư theo từng đợt sóng. Tôi nằm ngửa và chờ đợi cái chết đến với mình một cách thản nhiên, chầm chậm…

 

 

Lâm Nhược Trần

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 10511)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 16220)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 11513)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 9866)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 9120)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 202610:12 CH(Xem: 11676)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 11786)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
30 Tháng Mười Hai 20252:20 SA(Xem: 9465)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
30 Tháng Mười Hai 20252:15 SA(Xem: 11545)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
29 Tháng Mười Hai 20252:21 SA(Xem: 12229)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3851)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19663)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18645)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1645)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1803)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2320)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2427)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1465)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1960)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2005)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1378)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2420)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2635)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2384)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 249)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 820)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1011)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1126)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6417)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15901)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32161)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38865)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1491)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6914)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10712)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9906)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10029)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10836)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3464)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11157)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10363)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi