- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TRỪ TÀ

11 Tháng Tư 20162:47 SA(Xem: 56199)


                                  

photo- Hung Vo
Photo by Hung Vo


Mưa, nước từ trên cao ầm ập rót xuống, xô ào ạt vào miệng cống tưởng chừng muốn khuấy tung mọi thứ đang chôn giấu âm ỉ trong lòng đất. Nhà dột, đâu đâu cũng ẩm ướt và chai lọ lỉnh kỉnh để hứng mưa. Nó trốn lên gác lở nhìn mưa, nó nhớ mùa mưa xưa cha nó bỏ đi chưa kịp nhìn nó lấy một lần. Nó lớn lên và quanh quẩn với má từ mùa mưa này vắt sang mùa mưa khác. Nó ở gần với má riết nên quên luôn khuôn mặt người cha đã sinh ra mình. Nó nghĩ vậy khi úp mặt vào lưng má mỗi tối. Cái hơi ấm dìu dịu lan tỏa lên khuôn mặt, kèm theo mùi mồ hôi mằn mặn. Khi nó sờ vào có dấu thẹo lớn ở ngay phía bả vai. Má nó giấu kín vết sẹo ấy như bí mật về sự ra đi của chồng. Cho đến khi ai cũng bĩu môi, đay nghiến: “Đồ cái thứ không cha.” Quanh khu nhà, bạn học cùng lớp chẳng ai thèm chơi với nó. Lúc ấy, sự quay quắt chợt ùa về hằn học: “Tại sao cha lại bỏ rơi nó?”

Cái hồ nước sau nhà là chứng tích tình yêu giữa cha và má. Vì nghe cậu kể lại, cha dành dụm xây cho má cái hồ nước. Cứ mỗi ngày cuối tuần họ lại xả nước cũ ra thay nước mới vào. Cái hồ luôn luôn trong veo, không cặn hay rêu gì dưới đáy. Cậu út nói với cháu mình: “Cái đáy có màu xanh ẩm của xi măng. Tao còn bắt gặp đôi mắt của người con gái được giấu dưới đó.” Nhưng rất lâu rồi má không thèm đoái hoài gì đến cái hồ. Má mua năm cái thùng phi về để thay thế việc chứa nước cho cả nhà. Má nó quên luôn sự tồn tại của cái hồ như một phần ký ức mòn mỏi, ì ạch và buồn tẻ. Cảm giác tù đọng làm cho căn nhà nhiều muỗi lên. Mầy lần má nó muốn phá cái hồ đi. Nhưng đắn đo sao đó lại thôi. Riết cũng quen, ai cũng xem cái hồ như nhân vật thứ tư trong nhà. Hồ là minh chứng, là sự soi chiếu của cơn mưa để tạo âm thanh tong tỏng nghe buồn vời vợi.

Buổi tối, nó nằm bên cạnh má, tò mò hỏi: “Tại sao mọi người lại nói con không cha? Con nghe cậu út kể chính cha là người xây cái hồ ở phía sau bếp phải không má?” Má không nhìn đứa con bé bỏng của mình, quay mặt vào tường: “Im đi. Cậu út mày thì biết gì mà kể với lể. Ngủ đi. Mai còn đi học sớm.”

Nó không hỏi nữa, buồn rầu nhìn về phía cái bếp lạnh tanh, mái tôn lụp xụp, che tạm bằng gạch nung nằm khuất cuối nhà. Cái bếp gắn đến một câu chuyện đau thương trong gia đình ai cũng tránh nói đến. Bắt đầu từ đôi mắt, ai cũng nói trong nhà đôi mắt của má giống ngoại nhất. Đôi mắt đen sao mà buồn, là báo hiệu của điềm gở. Ngày má lấy cha, dì Huệ bị ma quở mắt mũi cứ trợn ngược lên đòi làm cô dâu thay chị. Hết đám cưới thì cơn hành xác không còn. Má vui khôn xiết. Dì Huệ buồn tủi lầm lì chẳng nói chuyện với ai. Ai cũng biết dì Huệ giấu tình yêu ở trong lòng không dám nói. Rồi một ngày mưa dì Huệ treo cổ tự tử ở ngay trong bếp nhà chị gái mình. Sau cái chết của dì cha cũng đổi tính đổi nết. Uống rượu suốt ngày, say, nói với vợ: “Do cô hại chết em gái mình chứ ai?” Mỗi đêm ai đi ngang qua bếp cũng nổi da gà. Gió từ kẽ nào chui ra thốc mạnh vào người. Cơn gió mang linh hồn dì Huệ.

Mùa mưa, nhóm bếp củi nấu cơm khói bay mù mịt, mắt má ứa nước. Nó cứ nghĩ má nó khóc vì tiếc nuối gì đó.

*

**


Ngày ngày gió thổi vòng quanh nhà. Chỗ hồ nước cặn đóng đã lâu nhìn gớm ghiếc. Nó hay ra phía sau nhìn dòng nước đục ngầu từ cái hồ để soi khuôn mặt mình. Không bao giờ thấy được khuôn mặt rõ ràng. Cái mũi thì méo xệch, miệng cười như ảo ảnh. Vài cành củi khô từ nóc nhà rơi xuống nhìn như chuột chết. Cố rướn mắt nhìn xuống đáy hồ nhưng vô vọng vì lớp cặn đóng dày. Từng lớp bùn đất chồng lên nhau như tấm thảm đen cất giấu bí mật sâu thẳm.

Cậu út hay kể chuyện ma quỷ về căn nhà. Bất cứ yêu thương ai mà dẫn về căn nhà đều gặp chuyện chẳng lành. “Không dang dở thì cũng chẳng hạnh phúc.” Lời của cậu út văng vẳng bên cái hồ buổi tối như lời nguyền rủa của kẻ nhập đồng nói về sự mơ hồ nào đấy. Nhìn vào mắt của cậu thấy sự lẻ loi, cô sầu tràn lên ứa cả ra. Nghe đâu lâu rồi cậu út dẫn một cô gái về nhà chơi. Sau buổi tối hai người ngồi bên hồ trò chuyện cô gái bỏ xứ lấy chồng. Cậu út ở vậy đến giờ.

Buổi tối, bão đổ về, nước như trút hết xuống căn nhà của nó. Khoảng sân rộng ôm khoảng trời lạnh của mưa. Nửa đêm nó đau bụng, không dám đi ra nhà vệ sinh sau nhà. Nhìn vào khoảng tối om, loang lổ bởi ánh đèn tờ mờ nó sợ. Khoảng tối nhốt chặt lấy nó hòa cùng lời kể của cậu út. Trong giấc ngủ chập chờn nửa đêm về sáng nó nghe thấy tiếng mèo cắn nhau. Âm thanh rùng rợn, mèo kêu như tiếng trẻ con khóc. Sáng ra xác mèo chết trôi dập dềnh trên mặt hồ. Cái xác như cục bông thấm đẫm nước. Chưa bao giờ nó nghĩ một con mèo chết đuối lại đáng sợ đến vậy. Mèo là loài không biết bơi.

Vì mèo chết nhiều quá hơn một lần nó giục má thay nước trong hồ. Má lắc đầu, chẳng thèm để ý. Lúc nó năn nỉ dữ dội, gần như van xin:“Má, rất nhiều linh hồn con mèo đã chết nằm ở dưới đáy hồ. Con rất sợ.” Má nó quay phắt lại như giận dữ: “Gì mà sợ chứ? Cứ để yên đó cho tao.” Rồi má bỏ vào giường nằm khóc một mình. Tiếng khóc không lớn, không nhỏ. Tiếng khóc rứt cơn ngủ say của nó ra khỏi cái giường bé xíu. Nó lén đến bên quàng tay ôm sau lưng má. Khi đó, má giả vờ không hay biết gì. Chuyện cái hồ tuyệt đối không bao giờ được nhắc lại nữa.

Vài ba ngày cậu út lại qua nhà vớt xác mèo lên. Nó nhìn con mèo tội nghiệp, nằm sõng soài, duỗi thẳng hai chân, mắt mở trừng trừng. Cái xác được cậu út bỏ trong bịch nilông. Nó tò mò đến gần hỏi: “Tại sao má con lại không thích thay nước trong hồ hả cậu?” Cậu út mỉm cười, xoa đầu: “Mày còn nhỏ đừng tọc mạch chuyện người lớn.”

Cậu út mang xác con mèo quăng vào cái thùng rác màu xanh trước cổng. Nó đứng trân trân nhìn theo, đôi mắt mèo mở to oan ức đọng lại trong mắt. Nó nghe nói: “Nếu không nhắm mắt thì linh hồn vẫn còn đâu đó trong hồ nước.” Đêm đó nó nằm mơ thấy con mèo về đòi bộ lông của mình. Sáng thức giấc, hỏi má: “Vậy lông mèo cũng như áo mặc của mình phải không?” Má thức giấc quay sang nhìn nó: “Không, người ta phải thay áo để mặc cái áo khác vào. Lông mèo già đi và rụng cho đến chết.”

*

**

Nó vào lớp sáu, gia đình chật vật hơn trước. Đồng phục cũ không dùng được phải bỏ đi. Đầu năm nhập học tốn rất nhiều tiền. Má nấu thêm nồi chè nữa mang đi bán. Âm thanh lục đục của vá múc chè va vào thành nồi lanh ca, lanh canh. Chè má nấu ngọt lịm, lâu lâu lại có thêm mùi hanh của khói. Đồng thời buổi tối má phải thức muộn hơn để dọn dẹp, chuẩn bị đồ bán cho ngày sau. Bóng má liêu xiêu đổ dài lên bếp bị cắt xén bởi những viên gạch cũ màu. Cô ba hàng xóm sang nhà mang theo xấp vải để may áo cho nó đi học. Má cầm xấp vải trên tay chạy thẳng vào phòng ngủ. Nước mắt tự dưng nhòe ra. Nó bước theo má nhìn xuyên qua khe cửa: “Con học giỏi làm má buồn sao?” Má quay sang nhìn nó: “Má vui quá không kìm được nước mắt.”

Hằng ngày đi học về nó tức tốc cởi áo ra giặt phơi trên dây vắt ngang hồ. Nước từ áo nhễu từng giọt nhỏ lên mặt nước đục ngầu. Đáy hồ cặn nhiều hơn, rêu xanh mọc đeo bám bốn xung quanh thành. Mặt hồ giờ có thêm khuôn mặt của áo sơ mi mỗi ngày. Nó thầm nghĩ: “Chắc cái hồ chán lắm. Hết mặt mèo, giờ đến mặt áo. Cái nào cũng nhăn nheo.”

Cậu út thì bỏ việc bảo vệ nhà máy dọn về ở cùng, kê thêm tấm phản ngoài phòng khách để ngủ. Chốc chốc lại cất giọng hát dẻo quẹo: “ Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không duyên. Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành. Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang. Yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi…” Hàng xóm đồn đại nhiều về cậu út. Có người nói: “Nghèo quá nên không lấy được vợ.” Có người lại bảo: “Yêu con bé ở tận đẩu tận đâu. Người ta đi lấy chồng mà vẫn còn ôm mộng.”Có người ác miệng: “Gia đình này bị ma ám nên chẳng ai hạnh phúc.” Nó biết cậu út yêu một người con gái đã có chồng. Bởi có lần vô tình đọc được bức thư của cậu. Giấy cũ, mực nhòe, chữ viết nguệch ngoạc. Nội dung: “Út thương, hãy quên em đi vì em đã có chồng. Em sẽ nhớ anh, kiếp này chúng ta không duyên. Hẹn kiếp sau.” Má im lặng trước những lời đồn về cậu. Mỗi ngày đi bán về má đều chừa hai phần chè cho cậu và nó.  Thỉnh thoảng, đến cữ nhớ má lại sụt sùi khóc. Không hiểu sao một người đang yêu thương vợ tha thiết bỗng dưng đổi tính, đổi nết, bỏ theo xe tải rồi vào rừng sống. Cho đến hôm má sinh cha cũng không về, cũng không thư từ, gửi gắm.

“Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn…”

Cậu đang hát nó bước đến gần hỏi: “Sao vậy cậu?” Cậu út quay lưng, gạt nước mắt, nhìn nó lắc đầu: “Còn nhỏ xen vào chuyện người lớn làm chi. Mầy đi học về ăn cơm má để dành phần kìa. Kệ tao.” Nó buồn thiu đi từng bước vào giường nằm đợi má về. Nó ngủ với má từ nhỏ, cái giường nhỏ dần đi, nó phải thu mình ngủ mỗi khi mùa mưa đến và mùa lạnh về. Trời lạnh rất thích. Nằm ở trong chăn nhìn bước chân của má và cậu út di chuyển lên xuống. Bước chân của má thì nhanh thoăn thoắt giống như có ai rượt đuổi. Bước chân của cậu thì lề mề, chậm chạp.

*

**

Mùa mưa da trời xám xịt, hôm ấy má để dành cho nó bịch chè phần thưởng cho điểm chín môn văn. Má nó nhận được thư. Bác bưu điện già cất giọng quen thuộc: “Nhà có thư nè.” Má đang lúi húi dưới bếp chạy thoắt ra cổng. Chưa bao giờ nó thấy sự hồi hộp hiện rõ lên đôi mắt đen thẫm của má. Má cầm bức thư chạy thẳng vào buồng ngủ. Má giở thư ra, không biết trong có bùa ngải gì mà nước mắt chảy ròng ròng.

Má vò bức thư. Vùi đầu vào gối.

Cái gối mỏng làm nước mắt má loang ra phía ngoài. Những dòng chữ của cha cứ quay mòng mòng trong đầu. “Em à, chờ anh thêm một thời gian nữa đi!” Rồi bức thư kế tiếp: “Chắc anh không về được rồi!” Bức thư nữa: “Anh đang ở trong một mùa mưa rất cô đơn.” Má cứ chờ cha qua nhiều dòng chữ như vậy. Để rồi hôm nay bức thư cuối cùng kết thúc sự chờ đợi của má. Như nhát dao cứa vào tay để máu ồ ạt chảy. “Anh không thể về được nữa. Đừng chờ và tìm cho mình người xứng đáng hơn anh.”

*

**

Ngày tận cùng của tháng bảy trong nhà nó giông tố nổi lên. Cậu út không kiếm được việc làm bất lực về nhà trong đêm khi đã say khướt. Cậu giận dữ, quát lên với má: “Em chán cuộc sống như vậy lắm. Em quyết rồi chị đừng cản em nữa!” Má khóc: “Em đã đi thì chị không cản. Nhưng quan trọng người ta có yêu em không?” “Yêu chứ. Người ta vừa ly dị chồng xong. Chị có biết không? Có yêu thì em mới đi. Còn chị, đã bao giờ dám đi tìm ảnh về chưa?” Má vào buồng rút dưới gối cái bọc bằng nilong mang ra đưa cậu.

“Đây, đọc đi!”

Cậu út cầm, mở từng phong thư ra coi. Đôi mắt bắt đầu ứa đầy nước. Tại sao có thể như thể được. Ảnh từng nói với em: “Đi chuyến này phải đổi đời để lo cho con, cho vợ. Chốn rừng thiêng nước độc. Em cứ tưởng đã chết mất xác. Ai có ngờ, đã đành lòng bỏ chị đi lấy một người khác ư! Trời ơi! Khốn nạn” Rồi cậu bỏ ra ngoài. Nó lắng nghe bước chân văng vẳng trong cơn mưa. Nó không biết trời đang buồn hay người u sầu?

Ngày hôm sau, nó không còn thấy cậu út đưa mắt buồn nhìn về phía cái hồ nước đục. Nó chạy tới ngăn bàn tìm bức thư cũ của cậu nhưng không còn. Cậu út bỏ đi thật rồi. Nhưng đi đâu? Đến bên người yêu ư? Không một tin tức. Không một nhắn gửi. Mưa. Và mất tích. Từng gương mặt chìm vào lòng hồ. Người đi chợ sớm kháo nhau người ta vớt được cái xác đàn ông trôi lềnh bềnh trên sông. Nó cứ khấn niệm trong lòng người chết không phải cậu út nó.

Má xả hết nước trong hồ, thay nước mới để giải thoát lời nguyền rủa của cha, dì Huệ, cậu út và những con mèo có đôi mắt mở to. Từng dòng cặn lưu cữu bao năm chảy ra trôi vào trong cống. Tia nắng chiếu thẳng xuống, nó nhìn xuống đáy hồ thấy dòng chữ khắc: “Kỷ niệm, ngày 12 tháng 10 năm 1983.”

Vết sẹo vẫn còn bám chặt trên vai bí mật thì thầm. Má đã chôn chặt cơn đau trong lòng, không còn khóc nhiều mỗi đêm. Nó cũng không muốn khơi lại những gì buồn bã. Cái hồ từ ngày được thay nước không còn con mèo nào trượt chân ngã xuống.

Một mùa mưa nữa lại đến nó được ra phòng khách ngủ riêng. Trằn trọc mãi trên tấm phản có in hằn dấu vết cậu út. Vết hằn tựa hồ ký ức bỏ rơi.

 

Trịnh Duy Kỳ


 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 7927)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 6970)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 6524)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 7662)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 7024)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 7365)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 6356)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 10060)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 6830)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 10616)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3783)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13204)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19610)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18591)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1525)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1696)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2209)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2310)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1405)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2148)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1888)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1943)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1279)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2311)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2524)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2313)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 174)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 729)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 950)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1023)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6356)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15837)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32091)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38806)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1385)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13855)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6830)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10615)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9810)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9930)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10738)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3417)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11075)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10303)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi