- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TRỪ TÀ

11 Tháng Tư 20162:47 SA(Xem: 52697)


                                  

photo- Hung Vo
Photo by Hung Vo


Mưa, nước từ trên cao ầm ập rót xuống, xô ào ạt vào miệng cống tưởng chừng muốn khuấy tung mọi thứ đang chôn giấu âm ỉ trong lòng đất. Nhà dột, đâu đâu cũng ẩm ướt và chai lọ lỉnh kỉnh để hứng mưa. Nó trốn lên gác lở nhìn mưa, nó nhớ mùa mưa xưa cha nó bỏ đi chưa kịp nhìn nó lấy một lần. Nó lớn lên và quanh quẩn với má từ mùa mưa này vắt sang mùa mưa khác. Nó ở gần với má riết nên quên luôn khuôn mặt người cha đã sinh ra mình. Nó nghĩ vậy khi úp mặt vào lưng má mỗi tối. Cái hơi ấm dìu dịu lan tỏa lên khuôn mặt, kèm theo mùi mồ hôi mằn mặn. Khi nó sờ vào có dấu thẹo lớn ở ngay phía bả vai. Má nó giấu kín vết sẹo ấy như bí mật về sự ra đi của chồng. Cho đến khi ai cũng bĩu môi, đay nghiến: “Đồ cái thứ không cha.” Quanh khu nhà, bạn học cùng lớp chẳng ai thèm chơi với nó. Lúc ấy, sự quay quắt chợt ùa về hằn học: “Tại sao cha lại bỏ rơi nó?”

Cái hồ nước sau nhà là chứng tích tình yêu giữa cha và má. Vì nghe cậu kể lại, cha dành dụm xây cho má cái hồ nước. Cứ mỗi ngày cuối tuần họ lại xả nước cũ ra thay nước mới vào. Cái hồ luôn luôn trong veo, không cặn hay rêu gì dưới đáy. Cậu út nói với cháu mình: “Cái đáy có màu xanh ẩm của xi măng. Tao còn bắt gặp đôi mắt của người con gái được giấu dưới đó.” Nhưng rất lâu rồi má không thèm đoái hoài gì đến cái hồ. Má mua năm cái thùng phi về để thay thế việc chứa nước cho cả nhà. Má nó quên luôn sự tồn tại của cái hồ như một phần ký ức mòn mỏi, ì ạch và buồn tẻ. Cảm giác tù đọng làm cho căn nhà nhiều muỗi lên. Mầy lần má nó muốn phá cái hồ đi. Nhưng đắn đo sao đó lại thôi. Riết cũng quen, ai cũng xem cái hồ như nhân vật thứ tư trong nhà. Hồ là minh chứng, là sự soi chiếu của cơn mưa để tạo âm thanh tong tỏng nghe buồn vời vợi.

Buổi tối, nó nằm bên cạnh má, tò mò hỏi: “Tại sao mọi người lại nói con không cha? Con nghe cậu út kể chính cha là người xây cái hồ ở phía sau bếp phải không má?” Má không nhìn đứa con bé bỏng của mình, quay mặt vào tường: “Im đi. Cậu út mày thì biết gì mà kể với lể. Ngủ đi. Mai còn đi học sớm.”

Nó không hỏi nữa, buồn rầu nhìn về phía cái bếp lạnh tanh, mái tôn lụp xụp, che tạm bằng gạch nung nằm khuất cuối nhà. Cái bếp gắn đến một câu chuyện đau thương trong gia đình ai cũng tránh nói đến. Bắt đầu từ đôi mắt, ai cũng nói trong nhà đôi mắt của má giống ngoại nhất. Đôi mắt đen sao mà buồn, là báo hiệu của điềm gở. Ngày má lấy cha, dì Huệ bị ma quở mắt mũi cứ trợn ngược lên đòi làm cô dâu thay chị. Hết đám cưới thì cơn hành xác không còn. Má vui khôn xiết. Dì Huệ buồn tủi lầm lì chẳng nói chuyện với ai. Ai cũng biết dì Huệ giấu tình yêu ở trong lòng không dám nói. Rồi một ngày mưa dì Huệ treo cổ tự tử ở ngay trong bếp nhà chị gái mình. Sau cái chết của dì cha cũng đổi tính đổi nết. Uống rượu suốt ngày, say, nói với vợ: “Do cô hại chết em gái mình chứ ai?” Mỗi đêm ai đi ngang qua bếp cũng nổi da gà. Gió từ kẽ nào chui ra thốc mạnh vào người. Cơn gió mang linh hồn dì Huệ.

Mùa mưa, nhóm bếp củi nấu cơm khói bay mù mịt, mắt má ứa nước. Nó cứ nghĩ má nó khóc vì tiếc nuối gì đó.

*

**


Ngày ngày gió thổi vòng quanh nhà. Chỗ hồ nước cặn đóng đã lâu nhìn gớm ghiếc. Nó hay ra phía sau nhìn dòng nước đục ngầu từ cái hồ để soi khuôn mặt mình. Không bao giờ thấy được khuôn mặt rõ ràng. Cái mũi thì méo xệch, miệng cười như ảo ảnh. Vài cành củi khô từ nóc nhà rơi xuống nhìn như chuột chết. Cố rướn mắt nhìn xuống đáy hồ nhưng vô vọng vì lớp cặn đóng dày. Từng lớp bùn đất chồng lên nhau như tấm thảm đen cất giấu bí mật sâu thẳm.

Cậu út hay kể chuyện ma quỷ về căn nhà. Bất cứ yêu thương ai mà dẫn về căn nhà đều gặp chuyện chẳng lành. “Không dang dở thì cũng chẳng hạnh phúc.” Lời của cậu út văng vẳng bên cái hồ buổi tối như lời nguyền rủa của kẻ nhập đồng nói về sự mơ hồ nào đấy. Nhìn vào mắt của cậu thấy sự lẻ loi, cô sầu tràn lên ứa cả ra. Nghe đâu lâu rồi cậu út dẫn một cô gái về nhà chơi. Sau buổi tối hai người ngồi bên hồ trò chuyện cô gái bỏ xứ lấy chồng. Cậu út ở vậy đến giờ.

Buổi tối, bão đổ về, nước như trút hết xuống căn nhà của nó. Khoảng sân rộng ôm khoảng trời lạnh của mưa. Nửa đêm nó đau bụng, không dám đi ra nhà vệ sinh sau nhà. Nhìn vào khoảng tối om, loang lổ bởi ánh đèn tờ mờ nó sợ. Khoảng tối nhốt chặt lấy nó hòa cùng lời kể của cậu út. Trong giấc ngủ chập chờn nửa đêm về sáng nó nghe thấy tiếng mèo cắn nhau. Âm thanh rùng rợn, mèo kêu như tiếng trẻ con khóc. Sáng ra xác mèo chết trôi dập dềnh trên mặt hồ. Cái xác như cục bông thấm đẫm nước. Chưa bao giờ nó nghĩ một con mèo chết đuối lại đáng sợ đến vậy. Mèo là loài không biết bơi.

Vì mèo chết nhiều quá hơn một lần nó giục má thay nước trong hồ. Má lắc đầu, chẳng thèm để ý. Lúc nó năn nỉ dữ dội, gần như van xin:“Má, rất nhiều linh hồn con mèo đã chết nằm ở dưới đáy hồ. Con rất sợ.” Má nó quay phắt lại như giận dữ: “Gì mà sợ chứ? Cứ để yên đó cho tao.” Rồi má bỏ vào giường nằm khóc một mình. Tiếng khóc không lớn, không nhỏ. Tiếng khóc rứt cơn ngủ say của nó ra khỏi cái giường bé xíu. Nó lén đến bên quàng tay ôm sau lưng má. Khi đó, má giả vờ không hay biết gì. Chuyện cái hồ tuyệt đối không bao giờ được nhắc lại nữa.

Vài ba ngày cậu út lại qua nhà vớt xác mèo lên. Nó nhìn con mèo tội nghiệp, nằm sõng soài, duỗi thẳng hai chân, mắt mở trừng trừng. Cái xác được cậu út bỏ trong bịch nilông. Nó tò mò đến gần hỏi: “Tại sao má con lại không thích thay nước trong hồ hả cậu?” Cậu út mỉm cười, xoa đầu: “Mày còn nhỏ đừng tọc mạch chuyện người lớn.”

Cậu út mang xác con mèo quăng vào cái thùng rác màu xanh trước cổng. Nó đứng trân trân nhìn theo, đôi mắt mèo mở to oan ức đọng lại trong mắt. Nó nghe nói: “Nếu không nhắm mắt thì linh hồn vẫn còn đâu đó trong hồ nước.” Đêm đó nó nằm mơ thấy con mèo về đòi bộ lông của mình. Sáng thức giấc, hỏi má: “Vậy lông mèo cũng như áo mặc của mình phải không?” Má thức giấc quay sang nhìn nó: “Không, người ta phải thay áo để mặc cái áo khác vào. Lông mèo già đi và rụng cho đến chết.”

*

**

Nó vào lớp sáu, gia đình chật vật hơn trước. Đồng phục cũ không dùng được phải bỏ đi. Đầu năm nhập học tốn rất nhiều tiền. Má nấu thêm nồi chè nữa mang đi bán. Âm thanh lục đục của vá múc chè va vào thành nồi lanh ca, lanh canh. Chè má nấu ngọt lịm, lâu lâu lại có thêm mùi hanh của khói. Đồng thời buổi tối má phải thức muộn hơn để dọn dẹp, chuẩn bị đồ bán cho ngày sau. Bóng má liêu xiêu đổ dài lên bếp bị cắt xén bởi những viên gạch cũ màu. Cô ba hàng xóm sang nhà mang theo xấp vải để may áo cho nó đi học. Má cầm xấp vải trên tay chạy thẳng vào phòng ngủ. Nước mắt tự dưng nhòe ra. Nó bước theo má nhìn xuyên qua khe cửa: “Con học giỏi làm má buồn sao?” Má quay sang nhìn nó: “Má vui quá không kìm được nước mắt.”

Hằng ngày đi học về nó tức tốc cởi áo ra giặt phơi trên dây vắt ngang hồ. Nước từ áo nhễu từng giọt nhỏ lên mặt nước đục ngầu. Đáy hồ cặn nhiều hơn, rêu xanh mọc đeo bám bốn xung quanh thành. Mặt hồ giờ có thêm khuôn mặt của áo sơ mi mỗi ngày. Nó thầm nghĩ: “Chắc cái hồ chán lắm. Hết mặt mèo, giờ đến mặt áo. Cái nào cũng nhăn nheo.”

Cậu út thì bỏ việc bảo vệ nhà máy dọn về ở cùng, kê thêm tấm phản ngoài phòng khách để ngủ. Chốc chốc lại cất giọng hát dẻo quẹo: “ Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không duyên. Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành. Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang. Yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi…” Hàng xóm đồn đại nhiều về cậu út. Có người nói: “Nghèo quá nên không lấy được vợ.” Có người lại bảo: “Yêu con bé ở tận đẩu tận đâu. Người ta đi lấy chồng mà vẫn còn ôm mộng.”Có người ác miệng: “Gia đình này bị ma ám nên chẳng ai hạnh phúc.” Nó biết cậu út yêu một người con gái đã có chồng. Bởi có lần vô tình đọc được bức thư của cậu. Giấy cũ, mực nhòe, chữ viết nguệch ngoạc. Nội dung: “Út thương, hãy quên em đi vì em đã có chồng. Em sẽ nhớ anh, kiếp này chúng ta không duyên. Hẹn kiếp sau.” Má im lặng trước những lời đồn về cậu. Mỗi ngày đi bán về má đều chừa hai phần chè cho cậu và nó.  Thỉnh thoảng, đến cữ nhớ má lại sụt sùi khóc. Không hiểu sao một người đang yêu thương vợ tha thiết bỗng dưng đổi tính, đổi nết, bỏ theo xe tải rồi vào rừng sống. Cho đến hôm má sinh cha cũng không về, cũng không thư từ, gửi gắm.

“Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn…”

Cậu đang hát nó bước đến gần hỏi: “Sao vậy cậu?” Cậu út quay lưng, gạt nước mắt, nhìn nó lắc đầu: “Còn nhỏ xen vào chuyện người lớn làm chi. Mầy đi học về ăn cơm má để dành phần kìa. Kệ tao.” Nó buồn thiu đi từng bước vào giường nằm đợi má về. Nó ngủ với má từ nhỏ, cái giường nhỏ dần đi, nó phải thu mình ngủ mỗi khi mùa mưa đến và mùa lạnh về. Trời lạnh rất thích. Nằm ở trong chăn nhìn bước chân của má và cậu út di chuyển lên xuống. Bước chân của má thì nhanh thoăn thoắt giống như có ai rượt đuổi. Bước chân của cậu thì lề mề, chậm chạp.

*

**

Mùa mưa da trời xám xịt, hôm ấy má để dành cho nó bịch chè phần thưởng cho điểm chín môn văn. Má nó nhận được thư. Bác bưu điện già cất giọng quen thuộc: “Nhà có thư nè.” Má đang lúi húi dưới bếp chạy thoắt ra cổng. Chưa bao giờ nó thấy sự hồi hộp hiện rõ lên đôi mắt đen thẫm của má. Má cầm bức thư chạy thẳng vào buồng ngủ. Má giở thư ra, không biết trong có bùa ngải gì mà nước mắt chảy ròng ròng.

Má vò bức thư. Vùi đầu vào gối.

Cái gối mỏng làm nước mắt má loang ra phía ngoài. Những dòng chữ của cha cứ quay mòng mòng trong đầu. “Em à, chờ anh thêm một thời gian nữa đi!” Rồi bức thư kế tiếp: “Chắc anh không về được rồi!” Bức thư nữa: “Anh đang ở trong một mùa mưa rất cô đơn.” Má cứ chờ cha qua nhiều dòng chữ như vậy. Để rồi hôm nay bức thư cuối cùng kết thúc sự chờ đợi của má. Như nhát dao cứa vào tay để máu ồ ạt chảy. “Anh không thể về được nữa. Đừng chờ và tìm cho mình người xứng đáng hơn anh.”

*

**

Ngày tận cùng của tháng bảy trong nhà nó giông tố nổi lên. Cậu út không kiếm được việc làm bất lực về nhà trong đêm khi đã say khướt. Cậu giận dữ, quát lên với má: “Em chán cuộc sống như vậy lắm. Em quyết rồi chị đừng cản em nữa!” Má khóc: “Em đã đi thì chị không cản. Nhưng quan trọng người ta có yêu em không?” “Yêu chứ. Người ta vừa ly dị chồng xong. Chị có biết không? Có yêu thì em mới đi. Còn chị, đã bao giờ dám đi tìm ảnh về chưa?” Má vào buồng rút dưới gối cái bọc bằng nilong mang ra đưa cậu.

“Đây, đọc đi!”

Cậu út cầm, mở từng phong thư ra coi. Đôi mắt bắt đầu ứa đầy nước. Tại sao có thể như thể được. Ảnh từng nói với em: “Đi chuyến này phải đổi đời để lo cho con, cho vợ. Chốn rừng thiêng nước độc. Em cứ tưởng đã chết mất xác. Ai có ngờ, đã đành lòng bỏ chị đi lấy một người khác ư! Trời ơi! Khốn nạn” Rồi cậu bỏ ra ngoài. Nó lắng nghe bước chân văng vẳng trong cơn mưa. Nó không biết trời đang buồn hay người u sầu?

Ngày hôm sau, nó không còn thấy cậu út đưa mắt buồn nhìn về phía cái hồ nước đục. Nó chạy tới ngăn bàn tìm bức thư cũ của cậu nhưng không còn. Cậu út bỏ đi thật rồi. Nhưng đi đâu? Đến bên người yêu ư? Không một tin tức. Không một nhắn gửi. Mưa. Và mất tích. Từng gương mặt chìm vào lòng hồ. Người đi chợ sớm kháo nhau người ta vớt được cái xác đàn ông trôi lềnh bềnh trên sông. Nó cứ khấn niệm trong lòng người chết không phải cậu út nó.

Má xả hết nước trong hồ, thay nước mới để giải thoát lời nguyền rủa của cha, dì Huệ, cậu út và những con mèo có đôi mắt mở to. Từng dòng cặn lưu cữu bao năm chảy ra trôi vào trong cống. Tia nắng chiếu thẳng xuống, nó nhìn xuống đáy hồ thấy dòng chữ khắc: “Kỷ niệm, ngày 12 tháng 10 năm 1983.”

Vết sẹo vẫn còn bám chặt trên vai bí mật thì thầm. Má đã chôn chặt cơn đau trong lòng, không còn khóc nhiều mỗi đêm. Nó cũng không muốn khơi lại những gì buồn bã. Cái hồ từ ngày được thay nước không còn con mèo nào trượt chân ngã xuống.

Một mùa mưa nữa lại đến nó được ra phòng khách ngủ riêng. Trằn trọc mãi trên tấm phản có in hằn dấu vết cậu út. Vết hằn tựa hồ ký ức bỏ rơi.

 

Trịnh Duy Kỳ


 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1358)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1090)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1550)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1387)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1641)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1691)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1635)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1447)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2054)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2205)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9418)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16216)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15229)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15587)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1352)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1548)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1640)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2052)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4231)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6007)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5425)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6007)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1385)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1690)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1928)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1841)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1632)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1446)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1620)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1651)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12389)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28651)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35178)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35034)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9907)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12021)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1089)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1548)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2052)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2204)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2552)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7048)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6482)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8414)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.