- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ÁM THỨC

11 Tháng Tư 20161:18 SA(Xem: 56143)

gac ma dao-ntd
Gạc Ma đảo - ảnh Nguyễn Cường (Infonet)


Tôi háo hức trong nhóm du khách đầu tiên thăm đảo Gạc Ma. Tàu chạy suốt đêm, băng qua trùng trùng vạt biển, vượt đuổi những tia nắng bình minh, kịp cập bến vào sáng sớm hôm sau. Tôi hồi hộp đặt một chân, rồi hai chân lên đảo, tôi cố lấy thăng bằng sau đêm dài say sóng mất ngủ, thao thức. Tôi nhớ đảo, mơ đảo, rành đảo từng chi tiết theo lời kể tiền nhân ở trong mơ, cha tôi, ông tôi.

 Cuối năm đảo se lạnh, đó đây lất phất những hạt mưa đầy xót thương vì bội phản, vòm trời nặng nề như chùng sát mặt đất. Không khí trên đảo dồn ứ nén chặt,  mọi âm thanh dường như lan tỏa nhanh hơn trên đất liền. Những đám mây trên cao lúc trong lúc xám, nhưng luôn bóng bẩy phản chiếu vạn vật trên đảo như tấm kính khổng lồ treo lơ lửng trên bầu trời.

 Sau lưng tôi những con sóng biển dồn dập rượt đuổi lạnh lùng. Mưa dát đầy trên dải cát vàng nhân tạo bọc quanh đảo, một màu vàng hòa bình mong manh xen lẫn màu gạch đỏ rạn vỡ. Quần thể san hô quanh đảo dập nát, đặc quánh như huyền phù. Đảo hoang tàn nát lạnh như trêu ngươi những người lính đang còng lưng thu dọn những mảnh bê tông phế nát. Tôi bắt đầu nhận thức cảnh đảo hoang vu rờn rợn. Những hàng dừa xanh, những cây bàng thơ mộng đều bị chặt trơ gốc ứa nhựa xám xịt. Nghe mẹ kể, cha tôi có trồng một cây bàng, nhưng vô vọng tìm kiếm, chẳng còn cây nào trên đảo. Xa xa, ngạo nghễ lạnh lùng ngọn hải đăng bằng bê tông, đứng trơ trọi chọc thẳng trời âm u, bao quanh những đường băng, những nền nhà vụn nát.

Tình cờ tôi đến đảo cùng A Lẻn. Anh chàng qua Việt Nam làm việc, cưới em họ bà con xa của tôi, rồi nhập quốc tịch Việt. Nhân dáng A Lẻn chẳng khác mấy người Việt, ngay cả họ Lý. Duy nhất một điều dễ nhận biết giữa người mình và họ, A Lẻn hay mặc quần tây lưng cao, phơi cái bụng ngồ ngộ. Ngày ấy tôi từng hỏi A Lẻn.

- Người gốc Hồ Nam sao không qua Mỹ mở tiệm ăn, người Hồ Nam bên ấy đầy.

 - Dễ gì qua Mỹ. Cặp mắt to một mí đôn hậu cười hồn nhiên.

 A Lẻn thì thầm xứ anh ta khốn nạn lắm, dù sao ở đất Việt vẫn sướng. Gặp Lẻn trong ngày cưới, một tuần trước ngày hai vợ chồng ra Vũng Áng, tôi bặt tin Lẻn đến giờ. Tôi chẳng tò mò làm gì, nhưng chắc, em họ vợ tôi chẳng bao giờ than phiền chồng.

          A Lẻn hỏi thẳng tôi vì sao đi thăm đảo. Tôi hỏi ngược lại thay vì đáp. Lẻn cười rồi nhìn ra biển xa xăm. Lẻn ra đảo vì ai? Còn tôi ư, tìm kỷ vật, nhưng trong lòng ngổn ngang vì nhiệm vụ khó khả thi. Tôi lia mắt sục sạo cả đảo mong tìm ra chút gì còn sót lại. Tôi nhớ, ngay dưới chân tôi, mé đông của đảo, ngày xưa chỉ là bãi đá ngầm, cha tôi có chụp tấm hình với bộ quân phục hải quân trắng khiết, nụ cười tự tin sáng tận chân trời. Ngay phía sau ông, xanh biếc sừng sững tấm bia chủ quyền đảo Gạc Ma. Năm 1836, Bính Thân, ông tổ họ Phạm của tôi ở Lý Sơn, theo lệnh Minh Mạng đã rong thuyền ba ngày ba đêm vượt sóng cả mang những tấm bia đẽo bằng đá xanh dựng trên quần đảo. Mười tám năm sau, ông lại sải tay chèo ra đảo. Ngày khởi hành, mưa nồng nực, cuối chân trời hiện cầu vòng kép, điềm xấu, ông vẫn đi. Nhưng cơn bạo bệnh đã vùi lấp bao kỳ vọng của ông, đánh dấu chủ quyền tất cả đảo. Thân xác ông được neo chặt trên chín cây tre cùng chín sợi lạt, biển đã dìu dặt ông, đưa ông đến vĩnh hằng. Hồn ông còn bay bổng đâu đây với lời dặn, bia còn, chủ quyền còn. Lời tuy nghiệt nhưng thật chỉnh.

Sóng bước bên Lẻn, tôi mới biết tôi cao hơn anh cái đầu, nhưng Lẻn mập bề ngang rất nhiều. Bất ngờ A Lẻn vui giọng, da mặt hồng rỡ, cờ đại lục, cờ đại lục. Như con sóc anh ta thoăn thoắt chạy lên tháp canh. Mái đầu Lẻn lấp xấp theo bước chân. Tôi quét ngay ống nhòm săm soi tìm kiếm. Đúng thật. Lá cờ đại lục sơn kín đáo ngay phía sau tháp canh. Đi từ bến tàu không thể thấy được. Tôi chẳng hiểu vì sao lá cờ của họ vẫn hiện hữu lúc này.

Một ánh chớp, một tiếng nổ gọn đanh, một tiếng thét hãi hùng từ tháp canh vút thẳng lên trời, tiếng thét dội ngược ầm xuống đảo. Mọi người cuống cuồng tìm chỗ nấp, nực cười, như con đà điểu đâm đầu vào cát sa mạc. Mùi nồng nặc ngai ngái như thuốc pháo nhưng nặng hơn. Mùi là lạ tôi chưa từng trãi qua. Không phải mùi hoà bình, đích thị mùi chiến tranh. Tôi quăng ống nhòm, chạy băng lên những bậc tam cấp đã mốc ẩm xanh rêu. Tôi khựng lại vài giây khi thấy hai người đàn ông mặc quần tây lưng cao đang quát tháo Lẻn bằng tiếng Quan Thoại: cha mày, A Quảy là thằng hèn, mày chết chẳng oan khiên. Người kia đứng tuổi hơn khoác tay vẻ bất cần, không quan trọng, vội đi xuống. A Lẻn nằm ngất trên nền bê tông lạnh, gió vẫn hun hút thổi, người bết máu, hai chân dập nát tận đầu gối. Tôi xé ngay chiếc áo, quấn ngang đùi Lẻn buộc ca rô cầm máu. Xốc A Lẻn trên lưng, không nói một lời, tôi lại bay qua hàng trăm bậc thềm tháp canh. Lẻn quá nặng như tôi đang cõng ngàn năm Bắc thuộc trên lưng. Lạ lùng, mọi người trên đảo dửng dưng nhìn tôi cõng Lẻn, nhìn chúng tôi như hai kẻ tàng hình. Tôi đặt Lẻn nằm ngửa trong phòng y tế tạm của đảo, hai chân gác trên gối nhỏ, máu vẫn rươm rướm chảy. Mắt mệt mỏi chẳng buồn mở, nhưng môi vẫn chưa nhạt. May mắn tôi tìm được vài chai dịch truyền, đủ để bù thể tích máu bị mất, mong Lẻn cầm cự được đến khi vào đất liền.

Tôi rảo bước đến cuối đảo nơi các công binh đang ì ạch ném những miếng bê tông vào máy xay đá. Tiếng máy tiếng đá vang vang, tôi nghe như tiếng gào thét của các linh hồn người lính Việt năm xưa bị những kẻ mặc quần lưng cao hạ thủ. Nghe như tiếng căn dặn tiền nhân đừng để mất đảo. Nghe như tiếng cha tôi xét hỏi con ra đảo để làm gì. Đã hơn nửa thế kỷ sau ngày cuộc chiến kết thúc, chiến tranh như đang ngồi lặng lẽ khuất một góc trong căn phòng hòa bình. Nhưng chiến tranh, đúng hơn dư âm cuộc chiến vẫn không buông tha tôi, đã hằn sâu trên vỏ não.

Anh lính ngừng tay, lắc lắc đầu cho những giọt mồ hôi bay tung téo, đôi mắt tinh nghịch trả lời câu hỏi của tôi: “Giữa đống hoang tàn này, thấy tấm bia xi măng khắc tiếng Trung, nhưng lạ lắm”, anh lính tiếp, “bia xi măng mà rất nặng như có sắt bên trong.” Tấm bia bị ném hả hê vào máy xay đá chừng dăm phút trước. Tôi năn nỉ tốp lính ngừng xay, bước rón rén vòng phía sau máy, khói bụi mịt mù, đầy rẫy những vụn dăm đá, xi măng xay mềm. Tôi vốc từng nắm bột đá lặng lẽ như xới thời gian. Lặng người, tôi nghẹn ngào, lẫn giữa ngàn mảnh bê tông nát, lồ lộ những mảnh đá xanh lành lạnh hàng trăm năm trước. Tôi biết chắc đây là kỷ vật tổ tiên. Năm xưa, triều Nguyễn chọn loại đá xanh Ninh Bình, loại đá đẹp nhất nước Việt, để khắc bia chủ quyền và ông tổ của tôi đã đặt trên đảo, chính mảnh đất mà tôi đang đứng. Tấm bia một thời là kỷ vật vô giá, giờ chỉ là những mảnh đá xanh vụn vô tri. Chỉ là kỷ niệm. Tôi ngồi xỗm bên đống đá, đôi tay trần bật máu khi gắng gom hết quá khứ vào trong bao. Đặt bao đá vào ba lô, tôi đứng dậy, không quên cám ơn người lính, rồi đi trong ánh mắt ngỡ ngàng của họ. Làm sao những người lính biết tôi yêu quí những dăm đá xanh đó. Không, họ không thể biết.

Cứ thế, tôi mang chiếc ba lô nặng trĩu hơn một trăm năm chinh chiến kịp đến tàu trước giờ nhổ neo. Chuyến về tôi được xếp ở cùng phòng với Lẻn, có lẽ chúng tôi là anh em cột chèo xa. Sức khỏe Lẻn không tệ, nhưng thần thái buồn lắm, buồn rũ héo như cây xanh mất rễ cọc. Tôi nằm cạnh giường Lẻn. Mệt mỏi, chúng tôi chẳng nói được câu nào. Hai đôi mắt tôi và Lẻn cứ xoắn nhau, dù khác nhau chủng tộc, khác nhau toan tính, đôi mắt Lẻn đang tha hương, đôi mắt tôi đang cô độc, cuối cùng, hai đôi mắt đã đồng cảm muốn trò chuyện với nhau, muốn đọc hết những tín hiệu đang truyền từ não đến võng mạc mắt.

Tôi biết Lẻn rầu rĩ không muốn sống, không muốn gặp lại vợ với hai chân cụt đến gối. Trái mìn sát thương không phải dành cho Lẻn, mà gài cho người Việt, truyền sợ hãi đến người Việt. Vì định mệnh, định mệnh, Lẻn quả quyết, nên Lẻn đành hứng chịu. Tôi vẫn chưa hiểu Lẻn dính dáng gì ở đây mà có hai chữ định mệnh. Tôi lần lần bốc trần sự thật. Sao Lẻn ra đảo được, trong khi Lẻn và bọn họ, những kẻ mặc quần lưng cao đều bị cấm? Ánh mắt Lẻn nói, câu này anh nên hỏi người Việt vì sao, tôi đâu có bay ra đảo được. Tôi lần sâu vào sự thật. Tại sao các anh đem mìn lên đảo? Mình sót lại anh à. Tôi đã đến sự thật. Họ có đông không? Có bao nhiêu người trên chiếc tàu này? Lẻn trả lời bằng ý khác. Rất nhiều người như Lẻn đang sinh sống trên mảnh đất hình chữ S. Nhớ lại, tôi giật mình, rất nhiều người đàn ông mặc quần lưng cao phơi bụng đã xuống tàu.

Hai đôi mắt mệt mỏi, đành khép lại, Lẻn và tôi thiếp đi một giấc dài mụ mị. Tôi tỉnh giấc vì ánh mắt Lẻn quét nóng bỏng trên da mặt tôi. Anh tha thứ cho tôi chứ. Mắt tôi cười, Lẻn đâu có tội gì. Hai đồng tử Lẻn nhấp nháy, thế anh có tha lỗi cha tôi không? Ánh mắt Lẻn dừng lại rất lâu trên túi áo của anh. Tôi ngồi bật dậy, mắt tôi và mắt Lẻn giao thoa trong niềm vui, tay tôi mở nắp túi áo jean màu xanh bạc rất thời trang của Lẻn giờ đã lấm tấm màu máu đen xỉn. Cả người tôi chùng lại khi nhìn tấm hình người đàn ông ngực gắn huân chương, ngồi trên xe lăn với hai chân cụt gần đầu gối, người đàn ông này giống Lẻn như hai giọt nước kể cả đôi chân. Mắt Lẻn rù rì, cha của Lẻn, người đã cưỡng chiếm bãi đá Gạc Ma. Mắt Lẻn nghẹn ngào, tôi nhìn rất sâu trong ánh mắt ấy, tôi biết Lẻn thật lòng. Mắt Lẻn rưng truyền những hình ảnh bi thương của người cha. Cuối đời cha Lẻn phải sống trong nghèo đói và những ác mộng bất tận về các hồn ma trong trận hải chiến vẫn lấp đầy mắt ông. Sau rốt ông đã thắt cổ tự vẫn trong chuồng heo.

Lẻn lại nhìn tôi và tròng đen đảo vòng qua chiếc túi xách của Lẻn. Lúc này tôi mới nhớ Lẻn đến đảo chưa kịp làm gì, mìn nổ, anh đành nằm bất lực. Chẳng lẽ Lẻn còn bí mật thứ hai. Tôi cẩn thận mở túi xách, đập ngay mắt tôi, chiếc bình sứ chạm trổ tuyệt đẹp, men xanh láng, hình tuế hàn tam hữu, những cây tùng trúc mai lượn lờ vòng quanh. Những âm thanh réo rắt rót từ ánh mắt hạnh phúc của Lẻn làm tôi chới với mất thăng bằng. Đó là bình đựng tro cốt của người cha xấu số, Lẻn nhờ tôi rải tro cốt xuống biển Đông như di chúc của ông. Tôi thấu hiểu vì sao Lẻn ra đảo Gạc Ma. Tôi không thể từ chối lời yêu cầu nghiệt ngã của Lẻn. Trong tay tôi, tro cốt của người lính Trung cộng đã giết chết bao người lính Việt, tro cốt của người lính đã cưỡng chiếm Gạc Ma. Tôi nắm chặt chiếc bình sứ, chồm người qua mạn thuyền, chiếc bình vỡ tan trong tâm trí căng thẳng, tro cốt bay bay theo gió biển về phương Bắc.

 Vậy anh qua đất Việt làm gì, tôi hỏi trong cơn buồn ngủ. Vì mưu tìm hạnh phúc, ánh mắt đáp rồi nhắm nghiền, tôi ngáp dài an ủi Lẻn, cha anh không có tội, người lính không có tội, tội chỉ dành cho nguyên thủ và ý thức hệ bạo tàn.

 Một bóng đen rợp dài tận giường Lẻn. Ngoài trời thâm thẫm một màu lạnh của ánh trăng vàng cô độc. Âm thanh vọng lại chỉ có tiếng máy tàu, tiếng rẽ nước. Sự im lặng đã lên đỉnh. Tiếng bước chân trong phòng không đủ mạnh để đánh thức Lẻn. Anh đang say giấc mộng cho ngày về. Ngày về nào chứ, khi đất mẹ đã nhẫn tâm đánh cắp đôi chân của người con. Một bàn tay lạ khóa chặt đường truyền dịch. Một bàn tay lạ khác rút ống thở oxy. Lại một bàn tay mơn trớn cổ Lẻn rồi xiết chặt, xiết, xiết mãi. Những đường gân xanh đen rõ mồn một trên bàn tay đó. Lẻn cong người rùng rũ, toàn thân mềm nhủn, hai tay xuôi thõng. Tôi rùng mình, muốn gào thét, nhưng hai tay hai chân bị cột chặt vào thanh giường, miệng ú ớ phình to bởi chiếc khăn đã nằm gọn bên trong. Bóng đen tan dần trong màn đêm tĩnh. Khá lâu, tôi mới thoát được sự trói buộc, nhừ nát cả thân xác và ý thức.

Tôi nhẹ nhàng đến bên Lẻn. Tôi không muốn phá vỡ linh hồn Lẻn. Anh vẫn nằm đó, khuôn mặt bình thản, anh đã chết khi ngủ nên chẳng biết gì. Tôi ghì vuốt đôi mắt Lẻn. Một giọt nước mắt lăn dài, đọng lại trên mặt, như hạt châu. Nước mắt người vô tội, nước mắt không hận thù, không bội phản, nước mắt xót thương.

Ngột ngạt, lo âu, tôi đi lùi, mở cửa phòng nhón chân lên bong tàu. Tôi không dám hít sâu những khối không khí mằn mặn của biển cả vì mạn tàu nhầy nhụa những chiếc bóng xiêu vẹo bọn đàn ông mặc quần lưng cao. Ánh trăng nhàn nhạt, một bóng đen khác trèo rón rén qua mạn thuyền, nhìn hao hao A Lẻn với dao găm trong tay. Những tiếng hét nấc cao rồi ngã vật xuống bong tàu. Tôi nép sát vào bóng tối, thẩm thính những giao thoa của âm thanh.

- Giống A Quẩy quá?

-  Mày trông gà hóa cuốc. Chính tay tao treo cổ hắn mà.

- Tại sao?

- Chính A Quẩy phớt lờ lệnh thủ trưởng không dám bắn những người lính Việt.

Bóng đen chẳng nói nửa lời, tay vung lưỡi dao quắm loang loáng dưới trăng. Mỗi lần vung dao, một bóng người lại gục ngã. Tất cả những người đàn ông mặc quần lưng cao đều chết với vết cắt ngọt lịm ngang gót chân và cổ…Một cận chiến Gạc Ma năm xưa tái sinh nhưng kẻ thắng đã thành kẻ bại.

Tôi rùng mình bước vội vàng vào phòng vệ sinh. Chiếc gương nhỏ bé trong phòng như quan tòa khắc nghiệt phóng chiếu mọi hành vi bí ẩn của tôi. Qua gương, những vệt máu đỏ nhầy nhụa còn tươi lắm, hiện hữu trên mặt trên hai bàn tay của tôi. Chính máu từ người Lẻn. Tôi không bao giờ giết Lẻn. Tôi gào lên thành thật với chiếc gương. Gương đung đưa theo nhịp tàu, hắt ánh trăng vàng vọt qua khung cửa sổ. Mặt tôi vàng nghệch vì mơ hồ và sợ hãi. Sợ hãi cho chính mình. Hay tôi đã kết liễu đời sống của Lẻn trong cơn mộng du. Mà đã rất lâu, từ năm mười tám tuổi, tôi không còn bị chứng mộng du.

Tôi kỳ cọ rất kỹ, lột hết lớp biểu bì da ngoài cùng đã thấm đẫm máu, lột da mặt, lột da tay, tôi bỏ hết tất cả vào trong bồn cầu, rồi nhấn nút xả. Ôm ghì bồn rửa mặt, tôi nhìn kỹ vào gương. Tôi thấy vạn vật, tôi thấy cả ngày xưa và ngày nay. Tôi thấy cha tôi lạnh lùng nhìn xuống, cơ mặt bất động chẳng nói gì, nhưng tôi biết ông hỏi tôi đã làm gì với Lẻn. Tôi giết Lẻn chẳng được gì. Tôi với Lẻn không thù không oán. Tôi thì thầm với chính mình, không có Lẻn, vẫn còn một tỉ bốn trăm triệu người Hoa khác ở đại lục, họ sẵn sàng qua đất Việt. Tôi không giết Lẻn.

Ánh trăng rũ rượi nhào qua khung cửa, luồn vào mắt tôi. Tôi nhìn trăng như nhìn quá khứ. Tôi lại thấy cha tôi. Khi tôi hiện hữu trên đời này vừa lúc cha tôi tan biến, mẹ chẳng thấy ông về, thân xác ông nằm lại trong nước biển mặn nồng xa tít. Gần hai trăm năm sau cái chết của ông tổ, cha tôi đã trầm mình oanh liệt dưới biển, cha tôi chết trong trận hải chiến Gạc Ma với lời trăn trối, tôi phải tìm ra tấm bia chủ quyền.

Thoáng chốc, một quyết định loé lên, tôi nhìn bầu trời đêm êm ả, chồm người qua mạn thuyền, với tay cắt dây neo xuồng cứu nạn, hai chân chạm nước biển, tôi cảm giác lạnh từ hai mắt cá chân lan dần lên thắt lưng, cái lạnh lạ lùng giữa biển khơi, lạnh cô độc, làm tôi chấn phấn, giật mình sợ ướt chiếc ba lô trên lưng, tay níu chặt xuồng tôi đu người qua cái lạnh, tháo ba lô trên lưng, tôi nằm ngửa cười khanh khách. Tiện thể tôi ném tờ báo thấm đẫm nước biển, chữ vẫn còn rõ nét, bập bềnh trên mặt nước. Ngày 24 tháng 6 năm 20XX, sau phán quyết của tòa án ITLOS và sức ép dư luận quốc tế, Trung Quốc đã hoàn trả  đảo Gạc Ma cho Việt Nam.

Chiếc thuyền chở xác Lẻn và họ- những người đàn ông mặc quần lưng cao- khừng khững rời xa tôi, dạt về phương Bắc.

Mưa trên biển bắt đầu nặng hạt, gió quần thốc lật nhào xuồng, tôi bị hất xuống biển, miệng ngập tràn nước. Tôi vùng vẫy, nàng y tá xinh đẹp một tay vỗ về, một tay nghiêng những giọt nước mát lấp đầy bờ môi khô khốc của tôi. “Anh đã sốt cao li bì cả ngày nay” ,tôi nghe loáng thoáng. Trong cơn ám thức, tôi ngồi thẳng đứng, mắt dõi tìm chiếc ba lô và A Lẻn…

THÁI BẢO

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 147744)
d ấu vết bàn chân trên lối đi không màu nhiều nỗi buồn trong anh đã nhập viện không có chỗ nằm sao nỗi buồn không chết ngay trên đường nhập viện mà đòi theo cái chết khốn nạn đời anh
21 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 140110)
B iển tràn vào thành phố dải Phù Tang mặn chát lệ mùa khô ... Họ đã chết nhưng những nhành hoa Anh Đào vẫn thăng hoa nỗi khốn khó trước ngọn Phú Sĩ
20 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 131292)
T ôi trở về ngôi nhà của gia đình sau hơn hai mươi năm xa cách. Ngôi nhà chừng như không thay đổi mấy ở mặt tiền. Vẫn ba gian tường quét vôi trắng, điểm một vài khung cửa khép hờ, một chái bếp ở hiên sau và mảnh sân con vuông vức nơi lối ra vào. Dấu tích của thời gian chỉ ẩn hiện lờ mờ từng đốm ố trên vách tường cũ, đã ngả màu cháo lòng và loang lổ đây đó như những vệt mụt nhọt thâm sâu...
19 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 118204)
. . Với tôi, thơ không rao truyền một ngôn ngữ nào to tát: thơ chỉ là tâm sự, là “một chút riêng tư”trao gởi người thân, bạn bè, những kẻ đồng hành biết, và sẽ quen.” . . .
17 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 99310)
C húng tôi tiếp đón những người khách đầu tiên của chương trình 500 lịch sử phỏng vấn, với niềm hân hoan xen lẫn xúc động. Tưởng rằng sẽ rất bỡ ngỡ và khó khăn khi phỏng vấn một người lạ về những gì rất riêng tư, thế nhưng mọi việc đã trôi qua thật êm đềm, nỗi thương đau cũng như niềm hạnh phúc của từng người đã được chia sớt trong ân cần và thương cảm.
15 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 96992)
.. . M ắt thuyền của Nguyễn Xuân Tường Vy là một minh chứng về kiếm tìm và kiến tạo bản sắc của một cây bút. Mười hai tác phẩm của chị đã cho tôi những trải nghiệm thú vị. Khi dấn bước vào con đường văn chương chữ nghĩa, có lẽ ai cũng mong cho mình sẽ có được bước khởi đầu thuận lợi. Song con đường đến thành công thường luôn chứa đựng nhiều thử thách. Một khi được tôi luyện qua thử thách, mỗi cây bút sẽ trưởng thành hơn, vững vàng hơn: “ Có thể vượt qua thế giới lớn lao của loài người, không phải bằng cách tự xóa bỏ mình đi mà bằng cách mở rộng bản sắc của chính mình ” (R. Tagor)
15 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 113890)
N hư nhiều người, khi đọc bài “Tìm Thăm Nguyễn Hữu Đang” của Phùng Quán, chúng tôi rất xúc động. Cụ là một người xuất sắc về đủ mọi lãnh vực: văn chương, khoa học, chính trị, thông thạo nhiều thứ tiếng, mà suốt hơn 50 năm qua đã bị đọa đầy đến cùng cực...
11 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 148243)
Ơ i Hoài Khanh đang còn ở Biên Hoà tóc bạc phơ nhớ đêm giáng sinh nào lên Đà Lạt thăm Thiện Ơi Hoàng trúc Ly khuất mặt những câu thơ Thiện ngợi ca bởi Thiện là thi sĩ là hoạ sĩ lạ lùng kia đã đi qua rồi đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (7) Thiện đã về Thiện đã tới.
11 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 125032)
N hà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng, dịch giả, giáo sư, cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện vừa qua đời vào ngày 8 tháng 3 tức thứ ba vừa qua tại Houston Texas, hưởng thọ 71 tuổi, theo Cáo bạch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ cũng như sự xác nhận của gia đình.
11 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 116831)
G iấc mơ thổ kể chuyện một lũ người hoá điên vì ám ảnh quá khứ. Quá khứ ở trong mọi ý nghĩ, đè nặng lên từng số phận. Quá khứ hằn dấu lên ngôn ngữ, trong những lời nói đã trở thành thói quen, được phát ra như những khẩu hiệu trơ cứng, như trong câu của Quý với Vĩnh lúc đi săn rồng “ Khẩn trương lên giặc lái đến bây giờ ”. Quá khứ ở trong từng thức ăn, đồ uống, trong giải trí, trong thịt rồng, tim phượng, trong “rượu Armagnac Marquis de Caussade, đóng chai năm 71” , và trong “trận World Cup của năm 66” .
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3816)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13279)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19646)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18619)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1612)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1760)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2280)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2395)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1440)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2203)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1941)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1987)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1361)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2387)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2598)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2361)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 234)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 789)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 988)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1100)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6399)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15878)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38853)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1469)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6892)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10662)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9868)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9995)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10786)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3435)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11148)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10350)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi