- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

145 NĂM TẦM NGUYÊN TRUYỆN KIỀU

Sunday, November 1, 201510:46 AM(View: 64175)

                                

KhucDan-tranh NgocMai(VIETNAM.NET)
Tranh Ngọc Mai - (Vietnam.net)



        

          Kiệt tác Truyện Kiều (Kim Vân Kiều truyện, Đoạn trường tân thanh) của đại Thi hào Nguyễn Du (1765 - 2015)  ngay từ khi ra đời (khoảng cuối thế kỷ 18 hay đầu thế kỷ 19), nhất là sau khi được danh sĩ Phạm Quý Thích, người giao du thân tình với Nguyễn Du đọc và cảm tác thành bài thơ nổi tiếng“Thính đoạn trường tân thanh hữu cảm”, liền trở thành một tác phẩm thi ca nổi danh vang dội khắp trong và ngoài nước Việt Nam từ đó đến nay. Từ cuối thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, đa số các học giả, nhà biên khảo, tiêu biểu nhất là Trương Vĩnh Ký, A. Michels, E. Nordemann, Kiều Oánh Mậu, Chiêm Vân Thị, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Khánh Diễn, Lê Văn Hòe, Tản Đà, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Thạch Giang, Đào Duy Anh thường công bố các công trình phiên âm, chú giải, khảo dị Truyện Kiều theo tập truyền “nhuận sắc”: Lấy một hay nhiều bản Nôm xưa, cho là đáng tin cậy để đối chiếu, tuyển chọn thậm chí còn tạo ra từ, câu mới một cách chủ quan theo thẩm mỹ của mình nhằm tạo ra một bản riêng mới. Dĩ nhiên, hệ quả không tránh khỏi là tạo ra rất nhiều các dị bản Truyện Kiều và sự truyền bá mỗi thời, mỗi nơi mỗi khác như đã từng xảy ra với các bản Truyện Kiều của Trần Trọng Kim – Bùi Kỷ (miền Nam), Đào Duy Anh (miền Bắc). Người sau không biết đâu là bản chính, tiêu chuẩn để thưởng thức, đánh giá và giảng dạy, học tập cũng như nghiên cứu, phiên dịch một cách khoa học.

         Do đó, một vấn đề bức thiết, nan giải đã luôn tồn tại và đeo đẳng các nhà biên khảo, phiên âm, phiên dịch Truyện Kiều từ hơn 1 thế kỷ nay đó là: vì nguyên bản (thủ bút gốc) của Nguyễn Du cho đến nay đã tuyệt tích không còn hy vọng tìm thấy và chỉ mong sao tìm lại được một văn bản chữ Nôm gần nguyên tác nhất của Nguyễn Du như Dự án “Phục nguyên văn bản Truyện Kiều được đồng thuận cao” của Hội Kiều học Việt Nam đã đề ra nhằm hướng tới Kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại Thi hào nguyễn du (1765 - 2015) và vinh danh đại Thi hào dân tộc Nguyễn Du[1]. Bài viết này sẽ lược thuật quá trình tầm nguyên văn bản Truyện Kiều từ xưa đến nay và chúng tôi cũng xin gợi ý, phác thảo một phương pháp phục cổ văn bản Truyện Kiều với hy vọng có khả năng gần với nguyên tác.

 

1. 145 năm tầm nguyên văn bản Truyện Kiều          

         Dấu chứng đầu tiên về sự tìm kiếm nguyên tác của Nguyễn Du có lẽ là từ quan Bộ Công Nguyễn Hữu Lập tự Nọa Phu, với lời tựa Đoạn trường tân thanh do ông sao chép và san cải vào năm 1870 đã thuật lại: “Gần đây được thấy quyển truyện Kim Vân Kiều do Lương đường Phạm Lập Trai đề từ với các lời bình của Liên Trì ngư giả Vũ Trinh và Châu Sơn tiều lữ Nguyễn Lượng. Truyện này xuất xứ từ chính thủ bút của Hồng Sơn liệp hộ Nguyễn Du Tố Như ông được lưu truyền từ 50 năm nay, kể lại câu chuyện phong tình với lời văn thật điêu luyện (…)  Nay biết đó chính là phong tình đích thực của Tố Như.”[2]. Nguyễn Hữu Lập tự nhận đã “san cải” lại vì thấy có những chỗ chưa được thuần nhã, cần phải luyện đạt đôi chữ.

         Năm 1915, cụ Phạm Kim Chi nhân việc thông ngôn ở Hà Tĩnh, cụ đã mượn được bản gia truyền của dòng họ Nguyễn Du là bản Nôm Kim Túy tình từ (có chú thích Hán văn của chính Nguyễn Du) từ Tiến sĩ Nguyễn Mai, cháu 5 đời của Nguyễn Du lưu giữ, rồi ông cho phiên âm, dịch nghĩa ra tiếng Việt in thành sách Kim Túy tình từ [3] (bản in năm 1917). Cụ Nghè Mai cũng đã viết bài tựa bằng chữ Hán vào năm Duy Tân thứ 9 (1915). Bản Kiều này thường được gọi là “bản Phạm Kim Chi” hay “bản Tiên Điền”

         Trong lời tựa sách Truyện Thúy Kiều[4]1925, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim đã bày tỏ chủ ý là lấy bản Phường làm cốt, muốn giữ cho đúng như các bản cũ khi nhặt nhạnh các bản cũ rồi so sánh với các bản mới để hiệu chính lại cho gần được như nguyên văn, chứ không phải muốn cho hay hơn thì có lẽ không sai lầm bao nhiêu. Vậy là hai cụ đã cố gắng cẩn trọng giữ nguyên lời, nguyên văn của Nguyễn Du.

        Nhà nghiên cứu Hán nôm Vũ Văn Kính đã hướng tới phục nguyên tác phẩm Truyện Kiều qua công trình Tìm nguyên tác Truyện Kiều [5], theo lời giới thiệu của tác giả thì công trình này được biên soạn từ trước năm 1975. Với phương pháp hiệu khảo dựa trên lý thuyết cấu trúc kết hợp với hiệu đính cổ điển tác giả hy vọng có thể khôi phục nguyên tác Truyện Kiều, tác giả đã dựa vào 3 bản chữ Nôm: bản Kiều Oánh Mậu. 1902; bản Quan Văn Đường. 1925; bản Duy Minh Thị. 1879 và 5 bản Quốc ngữ: bản Bùi Kỷ –Trần Trọng Kim; bản Tản Đà; bản Bùi Khánh Diễn; bản Lê Văn Hòe; bản Phạn Kim Chi để kết hợp thành một bản Truyện Kiều đúng nguyên tác.

         Năm 1965, nhóm Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Đức Vân biên soạn Truyện Kiều, đã đặt vấn đề truy tìm văn bản cổ Truyện Kiều và tra cứu, hiệu đính lại văn bản Truyện Kiều tương đối gần với nguyên tác. Chủ yếu dựa vào 3 bản chính: Kim Vân Kiều tân truyện, Liễu Văn đường. 1871, Kim Vân Kiều tân truyện của Trương Vĩnh Ký.1875, Đoạn trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu.1902. Đào Duy Anh cho ra đời bản Truyện Kiều in trong phần Phụ lục của  Từ điển Truyện Kiều năm 1974[6] (bản thảo xong vào năm 1965), theo “Lời đầu sách” của tác giả, bản Truyện Kiều này đã được hoàn thành sau khi đối chiếu chỗ dị đồng của bản Liễu Văn đường (1871), bản Quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký và tham dụng các bản khác.

        Năm 1996, Đài RFI (Pháp) có buổi phóng vấn Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu Kiều do Thụy Khuê thực hiện [7]. Theo đó, Học giả Hoàng Xuân Hãn đã cho biết cụ chỉ chú trọng vào mấy bản truyện Kiều chữ Nôm khoảng đời Tự Đức, quan trọng là bản Nôm chép tay xưa nhất còn lại: “Trong các bản, có một bản ở trong Nam thấy đương còn những dấu vết hoàn toàn đời Gia Long. Không có đời Minh Mạng. Thì mình chắc chắn bản ấy người ta sao lại một bản từ đời Gia Long” rồi tiến hành hiệu khảo, đính ngoa nhằm “tái lập văn Kiều đời xưa” hay là “nguyên lời Nguyễn Du” và cụ Hãn gọi là: “bản Kiều Tầm Nguyên, tìm cái gốc”. Tuy cụ Hãn cho biết đã nghiên cứu Kiều nửa thế kỷ nhưng mãi đến năm 1996 cụ mới tiết lộ phương pháp khảo cứu của mình. Từ khi cụ Hoàng Xuân Hãn tạ thế cho đến nay, việc xuất bản di cảo nghiên cứu Kiều của cụ vẫn còn dang dở.

         Sau khi cụ Hoàng Xuân Hãn đưa ra phương pháp nghiên cứu Truyện Kiều tầm nguyên, một phong trào đi tìm bản Nôm cổ Truyện Kiều đã được khởi phát. Ở hải ngoại, Nguyễn Bá Triệu (Mỹ) đã mượn được bản Nôm Đoạn trường tân thanh do Nguyễn Hữu Lập san cải, chép tay năm 1870 (bản này do Đàm Quang Hưng phát hiện) để biên soạn  Truyện Kiều - Chữ Nôm và khảo dị [8] xuất bản vào năm 1999. Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã nhận được bản sao Kim Vân Kiều tân truyện do Duy Minh Thị đem khắc in tại Phật Trấn – Việt Đông bên Trung Quốc năm 1872 từ nhà nghiên cứu Alexandre Lê ở Pháp rồi tiến hành hiệu khảo, đính ngoa theo phương pháp khoa học hiện đại về văn bản, ngữ học và xuất bản sách Tư liệu truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị[9] vào năm 2002. Tác giả đánh giá là bản Nôm cổ quý giá nhất.

        Vào năm 2002, nhà nghiên cứu Truyện Kiều, Nguyễn Quảng Tuân đã qua Paris, vào Thư viện Liên trường Đại học Ngôn ngữ Đông phương đã tìm được bản Nôm Liễu Văn Đường 1871, đời Tự Đức thứ 24 và đã cho ra đời sách Truyện Kiều – Bản Nôm cổ nhất Liễu Văn đường 1871 [10]do ông phiên âm và khảo dị. Năm 2004, ông phó giám đốc Thư viện Nghệ An Đào Tam Tỉnh tình cờ tìm thấy tại gia đình thầy Nguyễn Thế Quang (Thanh Chương, Nghệ An) một bản khắc in Kim Vân Kiều tân truyện do nhà tàng bản Liễu Văn Đường xuất bản năm 1866, đây là bản Nôm thuộc hàng cổ nhất hiện nay và Nguyễn Quảng Tuân đã dựa vào để phiên âm, khảo dị và biên soạn sách Truyện Kiều - Bản Nôm Cổ Nhất 1866 [11] cùng năm 2004, nhưng do bản này bị mất 18 tờ (36 trang gồm 864 câu) nên soạn giả đã bổ khuyết bằng các trang của bản Nôm cùng nhà in là Liễu Văn Đường 1871.

          Cũng vào năm 2004, nhà nghiên cứu Truyện Kiều Nguyễn Khắc Bảo và Nguyễn Trí Sơn phiên âm khảo đính bản LVĐ1866 để ra đời cuốn Truyện Kiều: Bản cổ nhất - khắc in năm 1866. Liễu Văn Đường - Tự Đức thập cửu niên [12], các tác giả đã lấy bản Nôm Thịnh Mĩ Đường 1879 để bổ khuyết những trang bị mất của bản LVĐ 1866. Sau đó đến năm 2009 Nguyễn Khắc Bảo khai triển và biên soạn cuốn Truyện Kiều – Văn bản hướng tới phục nguyên [13], cũng kết hợp 2 bản LVĐ 1866, TMĐ 1879 lại thành 1 bản cổ và tham chiếu trên 40 văn bản chữ Nôm, Quốc ngữ nhằm phục nguyên Truyện Kiều với rất nhiều từ cổ được xem là gần lời Nguyễn Du.

        Nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Thạch Giang xuất bản sách  Đoạn trường tân thanh – Bản khắc năm 1834 [14] vào năm 2005. Tác giả phiên khảo, đối chiếu, khảo dị với các bản Nôm Quan Văn Đưởng 1906 và bản Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim.

         Năm 2006, nhà nghiên cứu Hán Nôm Đào Thái Tôn, ngược lại với Nguyễn Tài Cẩn, lại lấy bản LVĐ 1871 được đánh giá là bản tiêu biểu của Truyện Kiều hệ Thăng Long ít bị nhuận sắc nhất để  biên soạn sách Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều - bản Liễu Văn Đường năm 1871[15], tác giả vận dụng phương pháp văn bản học và  ngữ âm lịch sử - đính ngoa để trả lại “nguyên lời Nguyễn Du”.

         Năm 2013, Tiến sĩ Phan Tử Phùng đứng ra chủ biên sách Truyện Kiều Bản UNESCO. Quốc ngữ - Nôm đối chiếu [16], cùng hợp soạn có Phan Văn Các, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Trần Thế Hào, Trần Đình Tuấn. Sách này được biên tập mới theo các tiêu chí đã được giới thiệu trong hồ sơ khoa học của Ban vận động đệ trình UNESCO, đề nghị vinh danh Nguyễn Du  nhằm chào mừng sự kiện Nguyễn Du, nhà thơ lớn, nhà văn hoá lớn của Việt Nam được UNESCO vinh danh. Sách chủ yếu lấy nội dung các bản Kiều Nôm cổ làm căn cứ, lấy tính phổ cập, tính lan tỏa rộng của Truyện Kiều và lấy sự trong sáng, rõ ràng của văn phong tiếng Việt làm tiêu chí để biên tập. Trong Tạp chí Hán Nôm, số 1/2013, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Cường đã có bài viết Phác thảo phương hướng biên khảo bản Truyện Kiều tầm nguyên tập giải trong điều kiện mới, tác giả đã tuyển chọn các văn bản cổ như LVĐ 1866, NHL 1870, LVĐ 1871, DMT 1872, Tăng Hữu Ứng 1874 để làm bản trục và tham chiếu nhiều bản Nôm và Quốc ngữ (kể các các bản dịch tiếng nước ngoài) với tiêu chí phiên Nôm chuẩn xác chữ Nôm theo ngôn ngữ của thời đại Nguyễn Du, chọn lựa các chú giải giá trị mang tính “cộng đồng”, kết hợp phân tích tâm lý, thi pháp và liên ngành: lịch sử, văn hóa, Nho giáo…, đối chiếu nguyên truyện.

          Năm 2015, hướng đến kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du, Hội Kiều học Việt Nam và Nhà xuất bản Trẻ ấn hành sách Truyện Kiều[17] (Ấn bản kỷ niệm 250 năm năm sinh đại Thi hào Nguyễn Du). Sách mới chỉ phát hành phục vụ hội thảo quốc tế về Nguyễn Du do Viện Hàm lâm Khoa học Xã hội và UBND tỉnh Hà Tĩnh đồng tổ chức ngày 8/8/2015. Tập thể tác giả trong Ban văn bản Truyện Kiều gồm, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Văn Hoàn, Hoàng Xuân Khóa, Vũ Ngọc Khôi, Nguyễn Hữu Sơn,  Trần Đình Sử, Vương Trọng đồng biên soạn, hiệu khảo và chú giải dựa vào 8 bản Truyện Kiều chữ Nôm mà họ cho là đáng tin cậy. Các tác giả không chấp nhận việc đưa vào Truyện Kiều những chữ, những từ mới chưa từng có trong các văn bản Nôm đáng tin cậy trước đây và việc hiệu khảo phải căn cứ vào các bản Nôm khắc in ngay trong thế kỷ XIX, cụ thể là các bản Liễu Văn Đường, Thịnh Mỹ Đường, Quan Văn Đường, Duy Minh Thị…Bản ảnh ấn Truyện Kiều phần chữ Nôm căn cứ theo thủ bút được cho là của Tam nguyên Vị Xuyên Trần Bích San (1838-1877), in lại trong Truyện Kiều tập chú của  Trần Văn Chánh do nhà Hán Nôm học Thế Anh hiệu chỉnh.

- Nhận định chung:

       Các công trình san cải, biên khảo trên về phục nguyên Truyện Kiều từ 145 năm qua (1870 đến 2015), có thể phân thành 2 loại: 1/ Chọn một văn bản Kiều chữ Nôm xem là bản gốc (hay bản sao nguyên gốc) từ chính thủ bút của Nguyễn Du để san cải, nhuận sắc và phiên âm, chú thích hoặc lấy bản Kiều  có niên đại cổ nhất hiện nay làm bản cốt yếu để hiệu khảo, đính ngoa và tham chiếu các bản Nôm, Quốc ngữ khác để có thể phục nguyên được nguyên lời, nguyên ý Truyện Kiều của Nguyễn Du. 2/  Tuyển chọn mấy bản Nôm Kiều cổ gần với nguyên tác nhất, có tầm quan trọng, tiêu biểu và tham chiếu tất cả các bản Nôm, Quốc ngữ khác để tiến hành phục nguyên lại Truyện Kiều. Ngoài tập truyền nhuận sắc, san cải quen thuộc của nhà Nho xưa, nói chung các tác giả hiện nay về phương pháp khảo cứu, đều chịu ảnh hưởng phương pháp của Học giả Hoàng Xuân Hãn: Chú trọng về giá trị bản Nôm xưa và gần nguyên tác nhất, áp dụng phép kỵ húy để xác định niên đại văn bản, đính ngoa lại chữ Nôm, từ cổ trong Truyện Kiều theo ngữ âm lịch sử và đối chiếu 2 bản Kim Vân Kiều chữ Hán gốc với bản chuyển thể chữ Nôm của Nguyễn Du để tìm lại nguyên lời, ý của nguyên tác Truyện Kiều.

        Tuy nhiên, do mỗi nhà mỗi ý, thuận theo tri thức, phán đoán của mình nên đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, chưa đi đến nhất trí về văn bản học để chọn văn bản Nôm nào xứng đáng hơn hết làm bản chính (bản trục). Bản NHL 1870 tuy là bản chép tay từ thủ bản của Nguyễn Du nhưng đã được san cải, nên khó biết chắc đâu là nguyên gốc và nhuận sắc nếu không đối chiếu kỹ lưỡng các bản Kiều xưa nhất hiện còn. Có bản được xem là gần nguyên tác nhất như bản PKC 1915, bản NTG 1834 nay không mấy ai tin tưởng vì không có chứng cứ văn bản chữ Nôm xác đáng về niên đại và ngay cả bản Kiều Nôm chép tay mà cụ Hoàng Xuân Hãn tin cậy thì hiện vẫn chưa ai tìm thấy mà có vẻ như đó cũng chính là bản DMT 1872 và bản này Nguyễn Tài Cẩn đã đánh giá là bản cổ nhất (thời điểm bản LVĐ 1866 chưa được khám phá). Chúng tôi đồng thuận với kết quả nghiên cứu rất thuyết phục của Đào Thái Tôn về DMT 1872 khi ông đánh giá là không đáng tin cậy và không xứng là bản Nôm cổ gần nguyên tác Truyện Kiều. Bản xưa nhất hiện nay có niên đại chính xác vẫn là bản LVĐ 1866 nhưng tiếc rằng bị thiếu mất 18 tờ nên Nguyễn Quảng Tuân đã dùng LVĐ 1871 để bổ khuyết còn Nguyễn Khắc Bảo chỉ bổ khuyết các trang thiếu của LVĐ 1866 bằng bản TMĐ 1879. Trong khi đó Đào Thái Tôn nhất định chỉ lấy LVĐ 1871 làm bản chính. Nhóm Phan Tử Phùng, Nguyễn Tuấn Cường ngược lại đã tuyển chọn một số văn bản chữ Nôm tiêu biểu, xưa nhất còn lại làm  bản trục rồi tham chiếu các bản khác (Nôm, Quốc ngữ) với tinh thần tích hợp. Riêng Hội Kiều Học đã dựa vào thủ bản Truyện Kiều chữ Nôm theo lời của cụ Giản Chi là do ông nội lưu lại, tương truyền là của Trần Bích San không phải là một văn bản có xuất xứ, niên đại đáng tin cậy.[18]

         Một khi chưa nhất trí cao về bản trục thì làm sao có thể tính đến giá trị khoa học của công việc hiệu khảo, hiệu đính, đính ngoa theo mục đích tái lập nguyên lời và ý của Nguyễn Du? Cho nên theo chúng tôi, trước hết cần thiết phải xác định thuyết phục văn bản Truyện Kiều chữ Nôm nào hội đủ điều kiện về văn bản học có niên đại chính xác và gần nguyên tác nhất.

 

2. Phác thảo Truyện Kiều phục cổ - Kim Vân Kiều truyện  金 雲 翹 傳

        Mọi người đều biết, kể từ khi Truyện Kiều ra đời và phổ biến, đã có rất nhiều dị bản xuất hiện và nảy sinh rất nhiều câu chữ dị biệt do truyền thống đính ngoa, nhuận sắc tự do của mỗi nhà. Nguyên gốc bản thảo của Nguyễn Du nay vẫn chưa tìm thấy, nếu tính từ năm 1820 sau khi Nguyễn Du qua đời cho đến năm 2015 (Truyện Kiều được xuất bản mới nhất) đã là 195 năm, gần  hai thế kỷ qua thì sự dị biệt so với nguyên tác rất là lớn, nhưng nếu chỉ tính từ 1820 đến 1866 là năm nhà tàng bản Liễu Văn Đường khắc in Kim Vân Kiều tân truyện (bản xưa nhất hiện nay) là 46 năm, nếu tính bản chép tay Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Hữu Lập năm 1870 là 50 năm và  bản khắc Liễu Văn Đường 1871 sẽ là 51 năm, nói chung 3 văn bản này chỉ cách xa năm mất của Nguyễn Du là khoảng nửa thế kỷ mà thôi. Như vậy: thời gian càng xa với thời điểm 1820 bao nhiêu, sẽ có càng nhiều dị biệt, sai lệch phát sinh bấy nhiêu và ngược lại, thời gian càng gần với thời điểm 1820 bao nhiêu thì sự dị biệt, sai lệch càng ít đi so  với nguyên tác bấy nhiêu. Đây là một sự thật hiển nhiên, nhưng rất quan trọng mà hầu hết mọi nhà đã lãng quên.

          Do đó chúng tôi chỉ chọn 3 văn bản cổ hiện còn có niên đại chính xác là LVĐ 1866, NHL 1870, LVĐ 1871[19] (xem hình)[20] làm văn bản

KieuHINH 20-dvt

cốt yếu[21] để hiệu khảo và lấy sự kết hợp của 2 bản LVĐ 1866 và LVĐ 1871, sau khi đã bổ khuyết, đính ngoa giữa 2 bản và tham chiếu bản NHL 1870 để mong có thể tái lập lại toàn vẹn bản LVĐ 1866. Hai bản LVĐ 1866 - 1871 cùng nhà tàng bản khắc in cách nhau 5 năm và đã được các nhà nghiên cứu (Nguyễn Quảng Tuân, Thế Anh…) xác nhận không khác nhau mấy về câu và chữ, có thể bổ khuyết và hiệu đính lẫn nhau để tái lập 1 bản hợp nhất. Nếu so với các bản Nôm khác sau chúng thì sự biến đổi, sai lệch cũng ít hơn  nên có thể được xem là đại diện cho bản Nôm gần nguyên tác nhất. Bản chép tay của nhà Nho Nguyễn Hữu Lập ở kình thành Huế có niên đại 1870, là một bản trung gian giữa thời kỳ 1866 – 1871 cũng là bản quan trọng để giúp nhận ra những chỗ nhuận sắc, san cải của Nguyễn Hữu Lập. Bản NHL 1870, có thể nói là bản tiêu biểu đầu tiên cho sự biến đổi, phân lập thành hai hệ văn bản: 1/ Hà Nội (hay còn gọi là bản Phường)  và 2/ Huế (hay còn gọi là bản Kinh) và từ đây lại phân rẽ thành một hệ khác đó là hệ Miền Nam, đại diện là bản DMT 1872, là bản chịu ảnh hưởng sâu sắc của 2 hệ Hà Nội và Huế.

         Một khi đã xác định được 3 văn bản cổ để làm bản cốt yếu (bản nền, trục) là các bản LVĐ 1866, NHL 1870, LVĐ 1871, việc đầu tiên và quan trọng nhất chính là phiên âm chuẩn xác cùng với việc đính ngoa chữ Nôm có tham chiếu cách phiên Nôm của các học giả tiền bối, quan trọng nhất là các bản quốc ngữ Truyện Kiều của Trương Vĩnh Ký, Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh vì các bản này rất phổ biến từ Bắc chí Nam và các tự điển, tự vị xưa như của Đắc Lộ, Béhaine, Taberd, Huỳnh Tịnh Paulus Của, Génibrel…. Tuy vậy, chúng tôi nhận thấy vẫn tồn tại những chữ Nôm, từ cổ trong Truyện Kiều mà hiện nay vẫn chưa hoàn toàn thuyết phục, vẫn còn nhiều tranh cãi, do đó cần thiết phiên âm, đính ngoa lại. Việc tham chiếu các bản Nôm và Quốc ngữ  khác chỉ chú trọng vào tiêu chí làm sao phục hồi được nguyên lời và ý của Truyện Kiều ở thời đại tác giả Nguyễn Du (1765 - 1820) chứ không phải là tuyển chọn cách đọc, nhuận sắc nào hay nhất rồi ghi nhận một cách máy móc[22].  Sau khi đã đọc Nôm, đính ngoa chuẩn xác 3 bản cổ (1866 – 1871) chúng tôi sẽ tiến hành bổ khuyết, phục chế lại bản LVĐ 1866 đã bị mất 18 tờ bằng 864 câu ở bản LVĐ 1871. Có thể xác định những câu chữ của LVĐ 1871 dùng để phục hồi LVĐ 1866 là chính xác nếu đối chiếu với NHL 1870. Không có dấu vết chứng tỏ LVĐ 1871 đã tham khảo bản NHL 1870 vì sau khi Nguyễn Hữu Lập sao chép Truyện Kiều, hoàn thành vào sau tiết Trung Thu (tháng 8) năm 1870 ở  Bộ Công, Huế (ghi cuối lời tựa) thì phải một thời gian khá lâu sau mới phổ biến và bản DMT 1872 đã chứng tỏ sự ảnh hưởng này. Hệ văn bản Huế đã ảnh hưởng vào miền Nam hơn là miền Bắc, các văn bản Hà Nội hầu như độc lập không chịu ảnh hưởng từ hệ Huế (Đào Thái Tôn, Nguyễn Tài Cẩn). Có rất nhiều câu giống nhau giữa NHL 1870 với LVĐ 1866 và 1871, (nhất là ở những trang mà LVĐ 1866 bị khuyết ). Đáng chú ý là bản NHL 1870 có một vài chỗ giống LVĐ 1866 mà không giống LVĐ 1871 nhưng có chỗ lại giống với LVĐ 1871 mà không giống với LVĐ 1866, chứng tỏ cả 3 bản  đã từng tham khảo cùng 1 bản chung nào đó, có thể là rất gần nguyên bản của Nguyễn Du. Những chỗ khác nhau giữa NHL 1870 và LVĐ 1866 – 71 đều do Nguyễn Hữu Lập tự ý nhuận sắc, hay kỵ húy để tạo  ra từ ngữ, câu mới nhưng có nhiều chỗ được khảo dị và ghi là “nhất tác” từ thủ bản của Tố Như. Do đó, từ bản đã phục chế (LVĐ 1866 – 71) trên nếu có những chữ Nôm, từ cổ xem ra không ổn về âm, nghĩa, không thuận với thi pháp, không phù hợp với nguyên truyện chúng tôi sẽ cân nhắc cẩn trọng để dùng  NHL 1870 thay cho một số chỗ cần thiết.

         Chúng tôi gọi là “phục cổ” Truyện Kiều chứ không có tham vọng tầm nguyên hay phục nguyên Truyện Kiều đúng như bản gốc. “Phục cổ” là trở về với thời đại cổ xưa, càng gần thời điểm 1820 càng tốt vì như thế mới có hy vọng phục hồi lại gần với nguyên lời, nguyên ý của Thi hào Nguyễn Du. Văn bản Truyện Kiều phục cổ do chúng tôi tái lập sẽ lấy nhan đề khởi thủy do Nguyễn Du đặt là Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 chứ không lấy nhan đề Đoạn Trường tân thanh hay Truyện Kiều như chúng tôi đã khảo chứng qua bài viết “Nhan đề gốc của truyện Kiều”[23].

 

3. Lời kết

        Suốt hơn một thế kỷ qua, biết bao các học giả, nhà biên khảo đã nỗ lực, dày công truy tìm văn bản Truyện Kiều xưa nhất với hy vọng có thể phục nguyên được một văn bản Truyện Kiều gần với nguyên tác của đại Thi hào Nguyễn Du và được mọi người đồng thuận cao về tính xác thật, khoa học. Nhưng, cho đến nay cũng chỉ dừng lại ở sự tương đối, tạm thời chưa đi đến nhất trí vì đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tranh luận giữa quan điểm và phương pháp luận của cá nhân và tập thể. Trước hiện trạng này, chúng tôi xin đề xuất một quan điểm và phương pháp khác với hy vọng góp phần tìm lại được một văn bản Truyện Kiều gần với nguyên tác của Nguyễn Du.

        Để hướng đến một văn bản cổ theo tinh thần “Phục nguyên văn bản Truyện Kiều được đồng thuận cao” của Hội Kiều học Việt Nam, chúng tôi đã phác họa một văn bản Truyện Kiều phục cổ - Kim Vân Kiều truyện dựa vào bản Nôm cốt yếu là LVĐ 1866 và tham chiếu, tích hợp LVĐ 1871, NHL 1870 nhằm phục chế 1 văn bản Truyện Kiều xưa nhất hiện nay, chỉ cách thời điểm đại Thi hào Nguyễn Du qua đời năm 1820 vào nửa thế kỷ. Trong văn bản này, chúng tôi sẽ không du nhập bất cứ từ ngữ, câu cú nào từ các bản Kiều Nôm sau 1871 khác với 3 bản chính yếu trên, dù những nhuận sắc đó có hay hơn. Nếu như sau này phát hiện ra một văn bản trước 1866, thì văn bản Truyện Kiều phục cổ của chúng tôi chắc chắn sẽ có những dị biệt ít hơn nhiều so với các bản từ sau 1871 đến nay. Chúng tôi hy vọng  rằng, với bản  Truyện Kiều phục cổ này, sẽ có khả năng tái hiện lại diện mạo Truyện Kiều vốn có, giữ gần đúng với nguyên lời, nguyên ý của tác giả Nguyễn Du.

ĐINH VĂN TUẤN
(Biên Hòa ngày 30  tháng 10 năm   2015)



Chú thích:



[1] Công văn Số: 701/BVHTTDL-DSVH ngày 06 tháng 03 năm 2013 nguồn:

http://cinet.vn/Documentdetail.aspx?sitepageid=40&documentid=3914

[2] Nguyễn Quảng Tuân (phiên âm – khảo dị), Truyện Kiều - Bản Kinh đời Tự Đức 1870, Nxb. Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. 2003

[3] Phạm Kim Chi (sưu tập và chú thích) Kim Túy Tình Từ, Nguyễn Thành Điểm xuất bản, Sài gòn 1917, NXB Tri Tân tái bản năm 1973

[4] Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim (Hiệu khảo), Truyện Thúy Kiều, Vĩnh Hưng Long Thư Quán xuất bản. (in lần thứ hai, chữa lại rất kỹ và rất đúng với bản Nôm cổ) 1927

[5] Vũ Văn Kính, Tìm nguyên tác Truyện Kiều, NXB Văn Nghệ TP. HCM & TT Nghiên Cứu Quốc Học-1998

[6] Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, Nxb KHXH. 1974

[7] Thụy Khuê-  Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu Kiều, nguồn: http://thuykhue.free.fr/hxh/kieu.html

[8] Nguyễn Bá Triệu, Truyện Kiều - Chữ Nôm và khảo dị, Việt Lang Publishing House, Canada 1999

[9] Nguyễn Tài Cẩn, Tư liệu Truyện Kiều Bản Duy Minh Thị 1872. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2002

[10] Nguyễn Quảng Tuân (phiên âm – khảo dị), Truyện Kiều – Bản Nôm cổ nhất Liễu Văn đường 1871, NXB Văn học. 2002.

[11] Nguyễn Quảng Tuân (phiên âm – khảo dị - chú giải), Truyện Kiều - Bản Nôm Cổ Nhất 1866  mới phát hiện, NXB Văn học., Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.  2004

[12] Nguyễn Khắc Bảo và Nguyễn Trí Sơn (phiên âm khảo đính), Truyện Kiều: Bản cổ nhất - khắc in năm 1866. Liễu Văn Đường - Tự Đức thập cửu niên, NXB Nghệ An. 2004

[13] Nguyễn Khắc Bảo (Khảo đính và chú giải), Truyện Kiều - Văn bản hướng tới phục nguyên, NXB Giáo Dục Việt Nam,  2009

[14] Nguyễn Thạch Giang (phiên khảo), Đoạn trường tân thanh – Bản khắc năm 1834, NXB VHTT 2005

[15] Đào Thái Tôn, Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều - bản Liễu Văn Đường năm 1871, NXB KHXH 2005

[16] Phan Tử Phùng (chủ biên), Phan Văn Các, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Trần Thế Hào, Trần Đình Tuấn, Truyện Kiều Bản UNESCO. Quốc ngữ - Nôm đối chiếu, NXB Lao Động 2013

[17] Theo Nguyễn Đức Cảnh, Truyện Kiều - Ấn bản đặc biệt kỷ niệm 250 năm năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du, nguồn: http://www.thuvienhatinh.org/index.php/gioi-thieu-sach-moi/399-truyen-kieu-an-ban-dac-biet-ky-niem-250-nam-nam-sinh-dai-thi-hao-nguyen-du

[18] Nguyễn Quảng Tuân, Bản Nôm in trong quyển Truyện Kiều tập chú không phải bút tích của Trần Bích San, Tạp chí Hán Nôm số 3/2000

[19] Ba bản Nôm cổ này được lấy từ nguồn http://nomfoundation.org/nom-project/Tale-of-Kieu

[20] Các ảnh bìa LVĐ 1866, 1871 lấy từ nguồn: http://nomfoundation.org/nom-project/Tale-of-Kieu, riêng tờ bìa của NHL 1870, do thủ bản bị rách nát nên Đàm Quang Hưng đã phục chế lại nhưng đã bị Lê Thành Lân, Nguyễn Tuấn Cường  nghi ngờ không đúng gốc, nên chúng tôi chỉ trích trang cuối bài tự của Nguyễn Hữu Lập, có phần lạc khoản và tờ đầu tiên của nội dung Truyện Kiều để thay cho bìa sách, theo Nguyễn Quảng Tuân, Truyện Kiều – Bản Kinh đời Tự Đức – 1870, Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2003.

[21] Nguyễn Quảng Tuân trong tham luận Để tìm lại nguyên tác Truyện Kiều (Hội nghị chữ Nôm Quốc tế, Hà Nội. 2004 – Thư viện Quốc gia Việt Nam - Hà Nội) cũng đã đánh giá cao về 3 văn bản cổ này “Với ba bản Nôm cổ ấy, chúng ta có thể  dùng làm tư liệu  để  đối chiếu với các bản quốc ngữ đã được phổ biến rộng rãi mong sao tìm lại được nguyên tác của Nguyễn Du”, nhưng tiếc rằng tác giả chỉ chú trọng vào việc “đối chiếu” chứ không dùng 3 bản này nhằm “tìm lại nguyên tác Truyện Kiều”  như chúng tôi đã phác thảo để tái lập một văn bản tích hợp 3 văn bản cổ đó, có khả năng gần nguyên tác nhất. Quyển Truyện Kiều - Bản Nôm Cổ Nhất 1866 tái bản lần thứ 3 (2013), có sửa chữa kỹ lưỡng theo các bản Nôm cổ  của Nguyễn Quảng Tuân là một bằng chứng và sau này ông không có thêm một công trình nào khác liên quan đến.

[22] Xem Đinh Văn Tuấn, Một vài chữ Nôm và  từ cổ đặc biệt trong Truyện Kiều, Tạp Chí Ngôn Ngữ số 8/2013

[23] Đinh Văn Tuấn, Nhan đề gốc của Truyện Kiều , Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S. 6(113) (2014)

Send comment
Your Name
Your email address
Sunday, February 8, 20267:36 PM(View: 10480)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
Sunday, February 8, 202612:04 AM(View: 16191)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
Saturday, February 7, 202610:48 PM(View: 11474)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
Saturday, February 7, 202610:40 PM(View: 9838)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
Saturday, February 7, 202610:25 PM(View: 9088)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
Saturday, February 7, 202610:12 PM(View: 11659)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
Saturday, February 7, 20269:31 PM(View: 11755)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
Tuesday, December 30, 20252:20 AM(View: 9419)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
Tuesday, December 30, 20252:15 AM(View: 11504)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
Monday, December 29, 20252:21 AM(View: 12171)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
Friday, August 7, 2026(View: 3808)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Saturday, August 16, 2025(View: 13261)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, December 18, 2024(View: 19629)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Wednesday, December 18, 2024(View: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Sunday, October 18, 20266:14 PM(View: 1592)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Sunday, October 18, 20266:04 PM(View: 1744)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Friday, October 9, 20266:39 PM(View: 2255)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
Friday, October 9, 20266:09 PM(View: 2388)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(View: 1427)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(View: 2194)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(View: 1923)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(View: 1973)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Sunday, October 18, 20264:43 PM(View: 1339)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
Friday, October 9, 20265:49 PM(View: 2382)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Friday, October 2, 202612:54 AM(View: 2573)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Wednesday, September 23, 202610:53 PM(View: 2336)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Tuesday, October 27, 2026(View: 227)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Wednesday, October 21, 2026(View: 779)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Monday, October 19, 2026(View: 981)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Monday, October 19, 2026(View: 1060)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
Friday, June 5, 2026(View: 6388)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, June 6, 2025(View: 15865)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Friday, December 22, 2023(View: 32123)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Wednesday, April 27, 2022(View: 38846)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(View: 1446)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(View: 13875)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(View: 6882)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(View: 10651)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(View: 9851)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(View: 9971)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(View: 10766)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Monday, September 14, 20262:19 AM(View: 3432)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
Friday, October 31, 202510:09 PM(View: 11109)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Saturday, October 25, 20251:53 AM(View: 10339)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi