- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TỪ NHÂN VĂN-GIAI PHẨM ĐẾN VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP

23 Tháng Năm 20153:54 SA(Xem: 62802)

VuAnNhanVanGiaiPham

Hội Nhà Văn Việt Nam TP Hồ  Chí  Minh - chắc được chỉ  đạo từ những  cấp cao hơn  như Ban Tuyên Giáo của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), rồi Hội Nhà Văn Việt Nam ( HNVVN) -  mới đây gạch tên 9 hội viên không cho bầu làm đại biểu tham dự Đại Hội Nhà Văn lần IX sẽ nhóm họp ở Hà Nội vào tháng 7 năm nay.  Những hội viên bị gạch tên[i] đều là thành viên của Ban vận động thành lập Văn Đoàn Độc Lập (BVĐVĐĐL). Tập hợp này bị thế quyền gán cho là ‘’ ám muội’’, là ‘’diễn biến’’, tự tung tự tác tìm cách thoát trói buộc những định chế chính trị xưa nay vốn là rào cản tự do sáng tác và tự do ngôn luận.Khi được chỉđạo chỉ nhằm phục vụ chính trị, văn học là thứ văn học minh họa kiểu người tốt việc tốt, lu loa tuyên truyền tô hồng, đẩy người  viết vào cách thế nhìn nghiêng với một mắt, thậm chí nhắm tịt cả hai mắt, mô tả cho ‘’phải đạo’’ một thứ hiện thực xã hội tô vẽ, hoang tưởng, đậm mùi duy ý chí.  Loại văn học văn chương có lãnh đạo chính trịnày khiến một  nhà thơ trẻ vào đầu những  năm 80 đau xót kêu:

Tụi nó cưỡi lên lưng anh làm ngựa

khiến mông anh trổ đuôi, còn gáy mọc ra bờm

anh vừa hí vừa vặn mình nôn mửa

một  đống lạ lùng nửa áo nửa cơm.

Tụi nó lại treo trước đầu anh một giỏ hoa thơm

có mùi văn  chương có hương nghệ thuật

anh nghiến răng  nhai một cách cuống cuồng

đến khi ợ mới biết mồm tàn tật...

Nền văn chương minh họa và phải đạo bén rễ sau thời Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) kéo dài hơn hai mươi năm bỗng hóa thân vào thời đầu Đổi Mới năm 87- 89 với những tác phẩm vượt trội. Xin tri ân tướng Trần Độ. Xin cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc. Cả hai vị này đã phà duỡng khí hồi sinh vào thây ma của thứ văn chươngvô hồn rập khuôn chính sách văn hóa Liên-Xô đã tạo ra những Quần Đảo Ngục Tù ( goulag) rồi còn lại  kẹp thêm tính Mao-nhiều &Mao-ít hậu phong kiến đội tên giả là xã hội chủ nghĩa. Thình lình, chúng ta có hàng loạt tác phẩm đúng nghĩa với những Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Dương thu Hương, Nguyễn Quang Lập, Nhật Tuấn...Người đọc nay đua nhau  mua báo Văn Nghệ vốn xưa ế ẩm, tìm đọc Tướng Về Hưu, Nỗi Buồn Chiến Tranh, Thiên Sứ, Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Những Mảnh Đời Đen Trắng, Đi Về Nơi Hoang Dã.... Văn chương thời Đổi Mới không còn hiện thực thô thiển, ngây ngô. Những nhà văn thời này phá rào đi vào tìm hiểu những qui luật nằm dưới tầng hiện tượng, với con người như cứu cánh của vănchương và nghệ thuật. Nhưng ác thay, thời sáng tạo văn học Đổi Mới quá ngắn. Hai, ba  năm sau,  kinh hoảng trước cuộc thế đổi thay ở Đông Âu và sau là Liên Xô, thế quyền Việt Nam liền chuyển từ Đổi Mới qua thế Nới Cũ,  quay đầu thần phục Trung Hoa vĩ đại ở Thành Đô từ ¼ thế kỷ cho đến nay. Chính trị thống soái, và văn chương buộc lại khom lưng, boi tro trát chấu. Số tác phẩm có giá trị từ đó chỉ đếm trên đầu ngón tay, với những Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Hoàng Minh Tường...Hiện tượng thế quyền chăn nuôi gần 1000 hội viên HNVVN, hơn 800 tờ báo, 300 trang  mạng, hàng trăm dư luận viên, biến văn chương nghệ thuật thành truồng trại sản xuất thịt ôi, nông trại trồng cây không trái, tất cả èo uộtvà ủ dột một mầu vàng những hoàng hôn sắp tắt. Buồn cười hơn là dưới áp lực kim tiền trọc phú, quan chức ‘’văn hóa’’ HNVVN tung hô những ‘’tác phẩm’’ như thơ làm trên đỉnh Yên Tử của Hoàng Trọng Thuật, lăm le đi ‘’nộp đơn’’ xin ứng  thí giải Nobel!

Thời Nới Cũ cũng là thời tham nhũng cửa quyền vượt ngưỡng tưởng tượng, phân hóa giàu nghèo tăng gấp bội, đạo lý xã hội xuống cấp trầm trọng,  biển mất đất mất, kinh tế bị những anh em đồng chí phương Bắc lũng đoạn. Nhưng đau đớn thay, những kẻ tự cho mình là lớp đặc tuyển thì dửng dưng vô cảm. Trong số đó, không ít lànhững người cầm bút cam tâm nô bộc, đánh đĩ tâm hồn, bán miệng nuôi trôn. Trước tình hình đó, Ban vận động thành lập Văn Đoàn Độc Lập (VĐĐL) - một  tổ chức dân sự hoàn toàn độc lập với mọi hệ thống  tổ chức và thiết chế trong và ngoài nước - ra  đời vào tháng 3 năm 2014 [ii], với mục đích góp phần xây dựng một nền văn học đích thực, tự do, nhân bản, hiện đại...trong sự nghiệp phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc mà lịch sử đang đòi hỏi.Và thật bất ngờ, HNVVN gạch tên 9 hội viên không cho bầu làm đại biểu tham dự Đại Hội Nhà Văn IX. Sự kiện  tùy tiện vô nguyên tắc này đã thành mồi lửa khiến 20 hội viên, đa phần là những  người  đã thành danh, đồng loạt từ bỏ HNVVN, trong đó có Nguyên Ngọc, một nhà văn niên trưởng đầy uy tín[iii]. Và là lẽ tất nhiên, những  thành viên của Ban vận động VĐĐL (BVĐ) tự hỏi họ đang và sẽ đối mặt với những  thách thức gì, ngoài chuyện thế quyền từng yêu cầu báo chí lề phải tẩy chay họ, lặng lẽ ‘’ bao vây’’ kinh tế, và đã ‘’dằn mặt’’ qua vụ việc bắt giam Bọ Lập dẫu nhà văn này đã rút tên khỏi BVĐ.

Nhà văn Võ Thị Hảo cảnh báo, hãy coi chừng một vụNVGP mới.Từ NVGP đến VĐĐL, thật ra xu thế thời đại đã thay đổi, cục diện chính trị khác hẳn, và hiện trạng xã hội Việt Nam cũng đã có những chuyển biến quan trọng.

Thời NVGP

Phong trào NVGP, tạm cho là từ 1-1956 đến 2-1957 với sự ra đời của Giai Phẩm và sau là Nhân Văn [iv], đặt những đòi hỏi dân chủ đầu tiên cho văn nghệ sĩ trên miền Bắc sau Hiệp Định Geneve.  Tố Hữu buộc tội hai nhà văn quân đội Trần Dần và Tử Phác: ...‘’ Họ đòi thực hiện những gì? "Trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ. Thủ tiêu chế độ chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội. Thủ tiêu mọi chế độ quân sự hiện hành trong văn nghệ quân đội. Thành lập trong quân đội một chi Hội Văn Nghệ trực thuộc Hội Văn Nghệ, không qua Cục Tuyên Huấn và Tổng Cục Chính trị". Tóm lại là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và kỷ luật của quân đội đối với họ".

Đòi hỏi trả quyền tự do sáng tác trong văn nghệ quân đội lây lan sang xã hội dân sự. Tiến trình của phong trào này xin được ghi dưới đâynhư cước chú[v]. Chỉ chưa đầy một năm sau khi Giai Phẩm Mùa Xuân ra đời, vào tháng 11 năm 56, cuộc chính biến ở Hungary bắt đầu. Cũng tháng 11, Quỳnh Lưu nổi dậy và ngay sau đó ông Hồ Chí Minh ký sắc lệnh về báo chí, xác định lại những cấm kỵ trên bình diện thông tin, mở đầu cho những năm tháng khóa miệng toàn dân kéo dài nhiều thập niên.

Đầu 57, hồng quân Liên Xô tràn vào Hung trấn áp cuộc nổi dậy. Đế quốc Liên Xô hoàn toàn kiềm chế những  quốc gia chư hầu Đông Âu, và thế giới tiếp tục phân chia thành hai khối sau hiệp định Yalta cuối thế chiến ÌI. An tâm, những  nhà chính trị nắm thế quyền ở miền Bắc Việt Nam không cần tiếp tục ôn hòa với những  mầm mống ‘’ tư tưởng  tư sản tư bản’’. Từ 20 đến 28/2/57, Đại Hội Văn Nghệ II họp tại Hà Nội. Trường Chinh kêu gọi đấu tranh "đập nát bọn NVGP". Cuối 1957, Mao Trạch Đông đánh phái hữu. Miền Bắc Việt Nam cử Tố Hữu, Huy Cận và Hà Xuân Trường sang học tập kinh nghiệm, chính sách của Trung Quốc. Khi họ trở về, đảng tổ chức hai lớp đấu tranh "chống bọn phản động NVGP" ở Thái Hà ấp.Đây là một  cuộc đấu tố khá qui mô, nhà văn ném đá vào nhau, không khí trấn áp nặng mùi côn đồ ít thấy trong một tầng lớp được gọi là trí thức. Đại Hội Văn Nghệ III, họp tại Hà Nội tháng 6 năm 58, hoàn tất "Trận chiến đấu chống bọn phá hoại NVGP" với bài tổng kết của Tố Hữu, nghị quyết của hàng trăm văn nghệ sĩ lên án "bọn NVGP", ra lệnh thi hành biện pháp kỷ luật.

Thất bại của NVGP đánh dấu mốc đầu tiên của nền văn hóa toàn trị in chỉ dấu ý thức Mác-Lênin, vận hành trong mô hình tổ chức Lêninít,  được bổ xung bằng những định chế Maoít hầu thích nghi với những xã hội nông nghiệp phương Đông. Có nhiều lý do giải thích sự xẩy thai của cuộc đấu tranh cho dân chủ và tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tự do sáng tạo gầy lên bởi những trí thức kiệt xuất như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thào, Trương Tửu...vànhững  nhà văn tên tuổi nhưPhan Khôi, Trần Dần, Hoàng Cầm, LêĐạt, Phùng Cung...:

1-      Thời NVGP, ý thức hệ Mác-Lênin vẫn còn hấp dẫn, vẽ ra một xã hội CS như xu  thể lịch sử tất yếu thay thế xã hội dân chủ tư bản tư sản Âu Tây. Từ cơ sở đó, những dân tộc Á-Phi nằm dưới ách thực dân nuôi hy vọng giải phóng ( Cuba, Algeria... chẳng hạn), mặc dù có những chính biến như cuộc nổi dậy ở Ba Lan, ở Hungary. 

 

2-      Thời NVGP, thế quyền ở miền Bắc rập khuôn Maoít, làm nhiểu sai lầm, từ Chỉnh đốn tổ chức, Chỉnh quân Chỉnh huấn, đánh Tư Sản, và nhất là Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ). Nhưng sau hiệp định Geneve,Việt Nam bị cắt đôi, ước vọng độc lập và thống nhất đất nước là linh thiêng trong truyền thống dân tộc. Với chiến thắng Điện Biên lẫy lừng, người Việt tìm lại được tự hào, quần chúng mủi lỏng trước những giọt nước mắt của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và bài diển văn về 7 sai lầm trong CCRĐ của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, lại góp công góp sức xây dựng xã hội mới đang thời chập chững. Chập chững, nhưng khắc nghiệt. Sắc lệnh về Báo Chí do ông Hồ Chí Minh ký bịt miệng toàn dân, và Đảng độc quyền in ấn khiến từ đó chỉ có gió một chiều thổi từ những Ủy ban nào là Tư Tưởng, nào là Tuyên Huấn, Tuyên Giáo... từ thời đó cho đến ngày nay.

Thời VĐĐL

Sau thời NVGP, miền Bắc lao vào đại cuộc mang tên Chống Mỹ Cứu Nước, tâm lực dồn hết vào  chiến tranh, những  vấn nạn dân sự thời bình bịquên lãng trong mộtthời gian dài cho đến nằm 1975. Rồi 40 năm vụt qua, đến nay là thời VĐĐL.So với thời NVGP, có nhiều yếu tố khác biệt khá quan trọng. Xin kể:

1-      Về mặt ý thức, phải chờ đến thập niên 60-70 mới xuất hiện những Zinoviev, Sakharov, Solzhenitsyn... ở Liên Xô, nêu lên nhiều mặt trái của xã hội XHCN. Trí thức Tây Âu vỡ mộng, rụt rẻ đề nghị một xã hội CS với khuôn mặt nhân bản. Tổ chức xã hội kiểu Lêninít phi nhân tạo ra một tầng lớpquyền lực mới (nomenklatura), ý thức hệ Mác-Lê thành một ảo ảnh tan như băng dưới ánh mặt trời. Ngày nay, hệ thống  của cái gọi là XHCN hoàn toàn phá sản, và nếu còn  thì chỉ có Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba là những quốc gia mang cái tên gọi nhưng thực chất thì chẳng còn gì  để tung hô Mác-Lê. Vô sản thế giới, nay hết thời, chẳng còn ai kêu gọi hãy đoàn kết lại!

 

2-      Từ 1976, đất nước thống nhất nhưng lòng người thì không. Thế quyền rải trên 3 miền đất nước những trại Học Tập Cải Tạo nhốt hàng trăm ngàn người, ra chính sách ‘’ bán chính thức’’ thu vàng đuổi người, đẩy con em ra khơi vượt biển. Số thuyền nhân chết chìm đếm ra đến vài trăm ngàn, và những người tha hương lên đến ba, bốn triệu. Đất không lành, chim bay được thì bay, đậu lại chỉ mang cái kiếp ‘’cột đèn’’ không đi được. Thế quyền độc trị đánh mất chính danh, nay thấp thỏm mong thời gian xóa mờ tội  trạng.

 

3-      Mặt khác, từ 40 năm nay, hứa hẹn xây dựng một xã hội vững mạnh với một nền kinh tế hiện đại và lành mạnh nay là những lời hứa suông. Dư luận nay đều rõ: kinh tế Việt Nam đang trên đà tiêu vong, chuyên bán nguyên vật liệu và gia công giá rẻ,  bị Trung Quốc lũng đoạn gần như toàn bộ, ngân sách thâm thủng, nhập siêu, nợ nần còn hơn Chúa Chổm. Người Việt nay sưu cao thuế nặng, công ăn việc làm bấp bênh, đa số vất vưởng với một nền Giáo Dục và Y Tế không đáp ứng  được những nhu  cầu tối thiểu. Tệ nạn xã hội, đặc biệt đạo lý xuống cấp, là hệ quả của một nền độc trị thiểu năng, chỉ biết phục tùng người anh em phương Bắc, và thẳng tay áp bức con dân mình.

 

4-      Không thể không nói đến sự kiện Trung Quốc xâm lăng Việt Nam trên biển và ở những vùng đất biên giới. Thế quyền phản ứng e dè, nhượng bộ, và tránh né khiến những vấn đề chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nổi cộm. Đã có những ví von những  kẻ đương quyền với những Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc. Lá cờ độc lập vàgiải phóng dân tộc đang có cơvuột tay họ. Hơn nữa, rập khuôn mô hình xã hội Trung Quốc với những con mèo trắng cũng như đen, lá cờ XHCN  cũng thành những lá phướn vô hồn trong một chuyến xe tang mang ra nghĩa địa chôn những nắm chữ không còn nghĩa. Không có gì...Phải, không có gì quí hơn Lợi Ích Nhóm, không  có gì  ngoài phồn vinh giả tạo xây lên từ những công  trình rút ruột đến 40% đểlàm giầu cho những đại gia xuất thân con ông cháu cha, không có gì ngoài chuyện cướp đất, phá rừngmang cho Trung Quốc thuê những vùng địa lý có tính chiến lược quốc phòng. Không có gì..., không có gì khác hơn là xử dụng côn đồ của xã hội đen  đánh đập lương dân, bịt miệng những nhóm xã hội dân sự đòi công  lý. Không có gì...Không có gì qui hơn Độc Lập Tự Do. Nhưng nay không Độc Lập, cũng chẳng Tự Do thì những kẻ kế thừa ông Hồ Chí Minh làm sao giữ được chính danh.

 

5-      Cuối cùng. khác với thời NVGP, ngày nay thông tin mạng trở thành phổ cập. Rất khó chận bắt tin tức như những người thợ săn. Đối phó, thế quyền có hàng trăm tờ báo in, hàng trăm trang mạng lề phải và vô số dư luận viên, đúng  kiểu biện chứng biến lượng thành phẩm, cả vú lấp miệng, gõ thùng rỗng mong thấu đến trời cao. 

Thời VĐĐL như vậy hẳn khác xa với thời NVGP. Xu thế của thời đại nay  là con đường  tiến tới dân chủ, tự do và tôn trọng nhân quyền trên toàn thế giới. Việt Nam thì cứ tách riêng nhưmột ốc đảo lạc loài. Quan trọng, là thế quyền ởđóhầu như mất gần trọn gói tính chính danh. Phía trái của cái cạp quần quyền lực là sự suy sụp xã hội và kinh tế Việt Nam. Bên phải, kiếp nạn mất biển mất đảo mất cả đất liển mà vẫn ngậm đắng nuốt cay ‘’ bốn tốt’’ và ‘’ 16 chữ vàng’’. Nói cách nói của nhà văn quá cố Trần Dần thời NVGP, hãy nắm lấy cạp quần mà vật xuống. Quần tuột, vua cởi truồng, và tồng ngồng lông lá thì ai cũng như ai, con người cả mà!

Việc gạch tên 9 nhà văn không cho bầu làm đại biểu tham dự Đại Hội 9 của HNVVN là một cú đánh lén dưới thắt lưng, chứng tỏ tính ấu trĩ của một cơ quan có tầm quan trọng được thế quyền chỉ đạo và điều hành. Thái độ xởi lởi của ông Hữu Thỉnh với nhà văn Trần Kỳ Trung[vi], một động thái chính trịrẻ tiền, chỉ hùng hồn nói lên được cái tính vô liêm hèn hạ. Vì sao? Vì họ đã mất chính danh rồi! Hiểu như thế, chắc hẳn chẳng mấy ai  chui vào cái bẫy tự gạch tên mình ra khỏi BVĐVĐĐL

Nhưng VĐĐL  phải làm gì ở thời điểm này?

Tuyên xưng mục đích góp tay xây dựng mộtnền văn học đích thực, dân chủ, tự do và nhân bản...cần, nhưng HNVVN cũng có thể phát ngôn cùng một tôn chỉ. Khác là VĐĐL  đứng ngoài mọi hệ thống tổ chức và thiết chế trong cũng như ngoài nước, không hoạt động dưới sự chỉ đạo và vòng kim cô quản lý của ĐCSVN. Cái khác cơ bản này mới tạo hy vọng có thể xây dựng một  nền văn chương thôi ‘’phải đạo’’, không ‘’minh họa’’ bôi hồng trát son như từ xưa.

Làm gì để xây dựng? Trang mạng Văn Việt của BVĐVĐĐL (http://vanviet.info/) đã thực hiện nhiều đề mục quan trọng trong phần Nghiên Cứu-Phê Bình. Mục Văn Học Miền Nam 54-75 trả lại công  bằng và  danh dự cho những  nhà văn nhà thơ miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.  Mục Thảo Luận với những  bài về Viện Khổng Tử và Việc Dạy-Học Ngữ Văn  rất bổích. Về Văn và Thơ,  đề  nghị  thêm một diễn đàn riêng cho những  người  viết trẻ, trẻkhông ở nghĩa tuổi tác mà rộng hơn, trẻ ở cái mới trong khai phá và sáng tạo. Và để đốc thúc sáng tạo ở khâu này, tại sao Văn Việt  không  tổ chức những Bàn Tròn hội thảo trên những tác phẩm cũng như phương cách tiếp cận văn chương hiện đạiở trong  cũng như ở ngoài nước. Tại sao VĐĐL  không tạo ra những  Giải Thưởng tương tự như Giải Phan Châu Trinh mà nay được xã hội đánh giá nhưmột  mốc đo phẩm tính của những người làm công việc văn hóa.Nhắm đến lớp Trẻ trong số nhữngngười viết - người đọc rất quan trọng. Cũng hệt như NVGP xưa kia, VĐĐL ngày nay giới hạn vào lớp trí thức ưu tú thành thị, đặc biệt là ở những thành phố lớn. Lớp này phần đông đứng tuổi, và hiển nhiên, lớp trẻ hơn hẳn tự thân có nhiều xung lực dấn thân cần thiết cho những bước đường dài.

Làm gi để VĐĐL có vị thế tách bạch với HNVVN? Vụ Nhã Thuyên về vấn đề  tự do học thuật là một thí dụ điển hình cho thấy VĐĐL có quan điểm rõ rệt  chứ không ngậm miệng ăn tiền. Trong trường hợp những nhà văn bị chính quyền sách nhiễu, bắt bớ...HNVVN thường không lên tiếng bảo vệ hội viên. VĐĐL đã có hành xử  khác.  thí dụ như lên tiếng bênh vực nhà văn Phạm Đình Trọng, nhà thơ Đỗ Trung Quân, và kêu gọi hỗ trợ Bọ Lập khi nhà văn này bị bắt giam.  Việc VĐĐL cất tiếng nói mỗi khi tự do tư tưởng và tự do ngôn luận bị chà đạp là tất yếu .

Làm gì để VĐĐL không bị đánh đồng với một hội ái hữu con con của HNVVN? Gạch tên 9 nhà thơ, nhà văn là xúc phạm họ, và đồng thơì làm tổn thương đến uy tín của BVĐVĐĐL. Động thái thiếu trưởng thành này cần được xử lý rạch ròi về mặt luật pháp. VĐĐL nên tường trình sự vụ lên ông Đinh Thế Huynh, trường ban Tuyên Giáo TW, đòi ông Hữu Thỉnh giải trình một cách chính thức, và nếu không  thỏa đáng  thì khởi tố trên cơ sở pháp quyền dân sự.

Mặt khác, có thể thời điểm này là lúc VĐĐL nên chính thức ra đời với cương lĩnh và nội qui như từng thông báo (và hứa hẹn). Đó làmột bước dậy lên phong trào cho một nền văn học đích thực, tự do và nhân bản với những  nhà văn trong và ngoài nước thiết tha  thực hiện tiêu chí cao đẹp này. Đã có 22 tổ chức dân sự  độc lậpởViệt Nam, vàđối lại, lực cản với cái cáo buộc ‘’ diễn biến’’ lúc nào mà chẳng có. Nhưng co mìnhtrong thế thủ mãi thì  khó mà đánh động được những nhà văn đồng tâm huyết, đồng tâmý, nhưng còn nhiều ‘’tâm tư’’ đang mong chờnhững sự kiện rõ ràng thôi thúc họ dấn thân. Mở lối lót đường  tiến tới tương lai cần trí tuệ. Hiển nhiên, dũng khí làđiều kiện đủ.

NAM DAO

19-05-15

 

 



[i] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/05/150505_hoi_nhavan_van_doan_doc_lap

[ii]http://vanviet.info/van-de-hom-nay/tuyen-bo-van-dong-thanh-lap-van-doan-doc-lap-viet-nam/

[iii]http://vanviet.info/van-de-hom-nay/tuyen-bo-tu-bo-hoi-nha-van-viet-nam/

[iv] Biên khảo NVGP và Vấn đề Nguyễn Ái Quốc của nhà nghiên cứu Thụy Khuê làmột tài liệu công phu (http://nhanvangiaipham.free.fr/) tôi xử dụng.  Để có cái nhìn trực tiếp của một nhân chứng và nạn nhân, tôi dựa thêm trên tập Ghi 1954-1960  của Trần Dần, do nhà văn Phạm Thị Hoài biên tập và hiệu đính, xuất bản bởi td mémoire, Paris, 2001

[v]Tháng 1/1956, Giai Phẩm Mùa Xuân ra đời do Lê Đạt, Hoàng Cầm chủ trương, với những bài chính: Nhất định thắng của Trần Dần, Anh có nghe thấy không của Văn Cao...Tháng 2/56, Giai Phẩm Mùa Xuân bị tịch thu, Tố Hữu triệu tập Đại Hội Cán Bộ Tuyên Huấn toàn miền Bắc để phê phán Giai Phẩm Mùa Xuân, ra lệnh bắt Trần Dần, Tử Phác. Hội Văn Nghệ tổ chức Đại hội, gồm 150 văn nghệ sĩ, ở 51 Trần Hưng Đạo để đánh Trần Dần. Trên báo, chiến dịch này bắt đầu với bài của Hoài Thanh "Vạch trần tính chất phản động trong bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần" trên Văn Nghệ số 110, ngày 7/3/56.

Sau khi Khrouchtchev tường trình tội ác của Staline tại đại hội XX của đảng Cộng sản Liên Xô, và Mao Trạch Đông phát động "Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng", Ba Lan nổi dậy. Gió có vẻ đổi chiều, Hội nghị X Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động phát động Sửa Sai Cải Cách Ruộng Đất. Trường Chinh từ chức Tổng Bí Thư. Hồ Chí Minh kiêm Tổng Bí Thư lẫn Chủ Tịch. Võ Nguyên Giáp đọc Bẩy sai lầm trongCải Cách Ruộng Đất. Hội Văn Nghệ được lệnh tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày. Nguyễn Hữu Đang đọc tham luận tổng kết chỉ trích gắt gao đường lối lãnh đạo văn nghệ của Trung Ương Đảng. Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi và bộ phận lãnh đạo văn nghệ phải "thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng và hứa hẹn sẽ sửa chữa". Hoài Thanh viết bài nhận lỗi đánh Trần Dần.

Tình hình quốc tế rối rắm của khối CS phà dưỡng khí cho cuộc đấu tranh cho tự do ngôn luận ở Việt Nam. Giai Phẩm Mùa Thu, tập I, ra đời vào cuối tháng 8 năm 56, với những bài chủ chốt: Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi, Tỉnh giấc chiêm bao của Nguyễn Bính, Tiếng sáo tiền kiếp của Trần Duy...Tháng sau, Nhân Văn số 1, với bài Phỏng vấn Nguyễn Mạnh Tường về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ, bài thơ Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt, bài Con người Trần Dần của Hoàng Cầm và tranh Nguyễn Sáng vẽ Trần Dần với vết sẹo ở cổ...Rồi Nhân Văn số 2, với bài Phỏng vấn Đào Duy Anh về mở rộng tự do và dân chủ, bài Trả lời Nguyễn Chương và báo Nhân Dân của Nguyễn Hữu Đang (ký tên Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Duy), bài Phấn đấu cho trăm hoa đua nở của Trần Duy...

Giai Phẩm tái xuất hiện vào mùa Thu, với bài Bệnh sùng bái cá nhân của Trương Tửu, Ông bình vôi của Phan Khôi, Những người khổng lồ của Trần Duy, Chống tham ô lãng phí của Phùng Quán, ... Giai Phẩm Mùa Xuân tái bản. rồi Nguyễn Bính xuất bản báo Trăm Hoa, lập trường bênh vực Nhân Văn. Nguyễn Mạnh Tường diễn thuyết "Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lãnh đạo" tại Mặt Trận Tổ Quốc, Hà Nội.

Nhân Văn số 4, với bài Cần phải chính quy hơn nữa của Nguyễn Hữu Đang, Thành thật đấu tranh cho dân chủ của Trần Duy, Con ngựa già của chúa Trịnh của Phùng Cung, Những ngày báo hiệu mùa xuân của Văn Cao ...Tiếp đến báo Đất Mới cùa sinh viên, rồi báo Sáng Tạo của nhóm sân khấu, điện ảnh xuất hiện. Tháng 11 năm 56, Nhân Văn số 5, với bài Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ thế nào? của Nguyễn Hữu Đang, Bài học Ba Lan và Hung-ga-ri của Lê Đạt (ký tên Người Quan Sát). Tháng 12/56, Giai Phẩm Mùa Đông, tập I, với bài Tự do tư tưởng của văn nghệ sĩ và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích của Trương Tửu, Nội dung xã hội và hình thức tự do của Trần Đức Thảo ...

Tháng 11 năm 1956, Nhân Văn số 6 đang in, bị đình chỉ. Tự Do Diễn Đàn, tạp chí chuyên về lý luận, phê bình, sáng tác, do Minh Đức phát hành cuối tháng 12-1956, bị cấm. Tạp chi này đăng Qua sai lầm của Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo của Nguyễn Mạnh Tường; truyện ngắn Chú bé làm văn của Trần Dần, Tại sao quần chúng nhân dân tha thiết đến cuộc đấu tranh văn nghệ? của Nguyễn Hữu Đang, Nhiệm vụ của văn học không phải là giải thích chính sách của Phan Ngọc...

[vi]http://vanviet.info/van-de-hom-nay/nhung-tieng-vo-tay-cam-dong/

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 145096)
Em Người đàn bà sống dậy lúc nửa đêm icon bật sáng Lang thang trong thế giới ngôn từ Đi về bằng đôi chân giả Dối gạt nhau qua lũ hình nhân sặc sỡ Sắc màu
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 99646)
Một cái chết tức tưởi, phi lí như thân phận con người trên cõi đời, như Albert Camus đã nhận xét trước kia. Ở tuổi 46, hai năm sau ngày lãnh giải Nobel. Trong túi xách của ông có đựng bản thảo cuốn tự sự hư cấu còn dang dở Le Premier Homme (Người đầu tiên), kí ức tặng mẹ, “người sẽ không đọc được nó’’. Cây ngô đồng (không hiểu sao) nay không còn nữa, chỉ có đài tưởng niệm dựng ở ven làng. (1)
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 125705)
Sự thật là tôi không khóc khi chị cướp mất người đàn ông của tôi. Chị trơ trẽn mơn trớn anh ngay trước mắt tôi, rồi lại giả đò lúng túng vì những hành động ấy. Giá tôi có thể đẩy chị về nơi thật xa. Đẩy chị vào khoảng không vô chừng của bóng tối, trong sa mạc, cát bụi.
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 113446)
Thật trơ trẽn, chúng nó hít hà, giá mà bóp vú em - dù chỉ qua lớp áo bà ba và áo nịt - được cái thì dù tử thần bảo phải nhượng cho mươi tuổi thọ, chúng cũng ký cả hai tay. Chàng cười diễu, bọn mày chẳng biết thế nào là tình ái. Chẳng chịu khó tìm phương đến đích. Nếu chinh phục được họ, sá gì hai quả đào mưng sữa kia chứ, bao nhiêu hầm mỏ ruộng nương mà các cô không dâng sạch cho tình lang?
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 126055)
...Cô y tá nựng tôi! Tôi chồm lên ngang vai rồi liếm vào mồm, cô ngã ngửa ra, tôi tiếp tục vồ lấy. Tôi hôn cô. Tôi hít cô. Tôi xé quần áo cô. Tôi kiên quyết không rời cô. Tôi không có ý thức, mà cũng chẳng biết đạo đức là gì? Tôi đã tấn công cô y tá, đấy là họ bảo tôi thế, có người bàn thiến hai hạt dái của tôi...
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 120304)
Nơi nào mùa xuân bắt đầu? Mùa Xuân bắt đầu từ những mầm cây non còn ngủ sâu dưới lòng đất giữa mùa Đông giá buốt. Chúng là những đứa con của các cây bố cường tráng, khỏe mạnh; và những cây mẹ dẻo dai, sum suê kết quả suốt mùa Hạ thơm lừng; sau những đêm ấm nồng lửa nhiệt đới và mặt trời không bao giờ tắt giữa đôi tay. Các bố mẹ cây gửi tình yêu của họ trong bọc lụa theo gió, để những đứa con mang mùa Xuân đến cho mặt đất và muôn loài.
15 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 125968)
Chuyên đề Tạp chí Văn : Nhiều Tác Giả (văn hóa) Sau chuyên đề về Tập san văn chương Ý THỨC, Văn Chương Việt hân hạnh được giới thiệu chuyên đề về Tạp chí Văn và chân dung những người đã dựng nên tờ tạp chí một thời vang bóng này.
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 149180)
Cũng chẳng cần mầu xanh của lá mầu đỏ của hoa hồng chỉ thấy trong veo như nước lọc nước tan trên môi nước hòa trong mắt làm thế nào mà tách được nước ra
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 153893)
Tháng sáu bắt đầu bằng cành hoa mong manh Trưa nắng chói chang lấp lánh mảnh thuỷ tinh vỡ Theo vòng tay buông lơi Mùa hè trở lại ở góc 360 Những cánh phù du trĩu nặng mắt chiều
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 146945)
Sông như lọn tóc dài cầu gầy như cánh tay Sa Lung ga chờ anh vời vợi con tàu qua rất vội như là trốn chạy nhau
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3851)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19663)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18645)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1645)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1803)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2320)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2427)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1465)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1960)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2005)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1378)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2420)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2635)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2384)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 249)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 820)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1011)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1126)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6417)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15901)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32161)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38865)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1491)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6914)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10712)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9906)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10029)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10836)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3464)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11157)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10363)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi