- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Võ Đình Ngày Xuân, Lại... Tìm Hiểu Truyện Kiều

Wednesday, January 28, 20151:28 AM(View: 61278)

VoDinh-hl74
Nhà văn Họa sĩ Võ Đình


 Nguồn: "Ngày Xuân Lại Tìm Hiểu Truyện Kiều" của Võ Đình trên HL74 tháng 12-2003



 

Xuân Giáp Thân, Hợp Lưu mời bạn đọc ngâm Kiều với Võ Đình qua bài tranh luận với nhà văn quá cố Bình Nguyên Lộc. “Ngày Xuân, lại..tìm hiểu truyện Kiều” tuy xuất hiện đã 17 năm nhưng vẫn còn là bài tranh luận thi vị nhất, đầy hương vị rắn rỏi bóng bẩy của chữ nghĩa một thời. Qua bài viết của Võ Đình, Hợp Lưu và tác giả cầu chúc chủ bút tạp chí Văn Học, nhà văn Nguyễn Mộng Giác sớm bình phục sau cơn bạo bệnh vừa qua. (L.T.S)



Anh G thân mến,

Gửi bài cho anh về hội họa để cho vào Văn Học số sau, chẳng nhớ tôi có nói gì về hai cái truyện ngắn của Mai Kim Ngọc và Vũ Quỳnh Hương không? Hai truyện của Thế Giang quả là đặc biệt. Nhưng tôi nghĩ “khám phá” lớn kỳ này của Văn Học là MKN và VQH. Rất khó tin rằng đó là hai cây bút mới. “Mới” từ lúc nào?

Ngoài ra Văn Học số 8-9 tháng 10/1986 có bài Tìm hiểu truyện Kiều (tr.19) của ông Bình Nguyên Lộc. Tôi đã thích thú và ngẫm nghĩ. Tính viết ngay những ý tưởng của mình, nhưng lại thôi. Mình không rành về Kiều, không chuyên về ngôn ngữ, mình là cái thứ làm văn nghệ lai rai, nên để cho những vị học rộng biết nhiều bàn về những khía cạnh... phiền toái của tác phẩm văn nghệ. Ông BNL lại là một bậc niên trưởng, một người có chân tài, sách của ông thì mình vốn là đứa đã xa xứ lâu năm, chỉ được đọc có đôi ba cuốn, mà đã mê, đã phục ông rồi. Nay dù bài của ông có chăng đôi điểm mình không chịu, thấy cũng nên chờ coi có ai khác rành rọt hơn lên tiếng. Nghĩ vậy, nhưng cứ ấm ức, ngứa ngáy không yên. Đã mấy hôm. Cực chẳng đã đành phải bắt ông Phụ trách bài vở & Điều hành chung (sao anh rắc rối thế, gọi phăng là Chủ bút cho rồi!)  của báo nhà Văn Học nghe chuyện vậy.

 

 

1

 

Trước hết, “chuyện vặt” ông BNL nêu ra: Phong tình cổ lục hay là Phong tình có lục? Tôi không biết bản chuyển Nôm ra Việt ngữ của Tản Đà ra đời năm nào. Chỉ biết từ ngày thấy câu “Phong tình có lục còn truyền sử xanh” trong bản đó, ông BNL phân vân. Phân vân thật lâu vì mãi đến ngày hôm nay “hễ ngâm Kiều tới đó thì tôi (BNL) ngập ngừng”. Tôi (VĐ)  không biết bản chuyển Nôm Tản Đà xuất hiện trước hay sau 1925. Vì trong Truyện Thúy Kiều (do hai cụ Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo) mà lời tựa viết năm 1925, câu tám này được in là “Phong- tình cổ- lục còn truyền sử xanh”. Ở đây Phong tình & cổ lục đều có dấu ngang và được đóng dấu kép, và hai cụ Bùi và Trần chú: “Phong- tình cổ- lục” là bộ sách nói những chuyện phong tình đời xưa. Một bên, “phong-tình cổ-lục” có dấu kép là tên sách. Bên kia Phong tình không đóng dấu kép là một danh từ. Thôi, thế cũng được đi. Nhưng, vẫn theo ông BNL, Tản Đà bảo rằng “chữ Nôm thì Cổ và Có đều viết như nhau”. Rồi vì chắc chắn rằng “không bao giờ có cuốn sách cổ nào tên là Phong Tình cả”, Tản Đà nhất quyết rằng phải là Có chứ không phải là Cổ. Đến nay, ông BNL vẫn còn phân vân không biết đó là Có hay Cổ. Tôi thì tôi không phân vân. Bỏi vì Phong tình cổ lục (không dấu ngang, không dấu kép) thì tôi còn biết nghĩa là gì chứ “phong tình có lục” thì tôi chịu. Chẳng lẽ Tản Đà lại nghĩ rằng Nguyễn Du muốn nói “Có truyện phong tình đã ghi (chép) lại còn truyền sử xanh”? Nếu thật Nguyễn Du muốn nói vậy, thì tôi... hơi buồn cụ Tiên Điền. Cụ không có cách nói nào êm tai hơn ư? Trong trường hợp dù cả bốn chữ là tên một pho sách đi nữa (“Phong-tình-cổ-lục”, như Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim) thì đó có thể chỉ là một thứ literary licence, vì Kiều là một sáng-tác-phẩm, không phải một bộ sách biên khảo. Không bao giờ có một bộ sách “phong tình” cả mà cứ nói có thì đã sao!

 

 

2

 

Ông Bình Nguyên Lộc viết (tr.20) “hai câu Kiều dưới đây đã bắt tôi tốn thì giờ khá nhiều”:

 

Rấn thân về với triều đình

Hàng thần lơ-láo phận mình ra sao.

 

Đây là lần đầu tiên tôi thấy câu sáu có chữ RẤN. Người nói giọng Bắc thường đọc r thành d (nghe như  z). Ví dụ rườm rà thành ra d(z)ườm d(z)à. Ông BNL thật ra muốn viết “Dấn thân về với...” chăng? Sao lại dấn thân? Dấn thân vào con đường nghệ thuật, dấn thân vào cuộc đấu tranh v.v... chứ ai lại dấn thân về với... triều đình! Hơn nữa, thời Nguyễn Du đã có chăng cái từ rất thời thượng này, một từ rất...engagé, à la Malraux? Xưa nay, tôi vẫn nghĩ câu đó là: “Bó thân về với triều đình...” Sao lại bó? Bởi vì đọc truyện Tàu chúng ta hãy còn nhớ, người ra đầu hàng thường tự trói mình trước, trói đại khái thôi, dĩ nhiên. Trường hợp Từ Hải “Bấy lâu bể Sở, sông Ngô, tung hoành!” thì chữ bó (thân) còn có một nghĩa bóng quá rõ rệt, quá cay đắng.

 

 

3

 

Tuy nhiên, chuyện “rấn” hay “bó” không phải là chuyện ông BNL nói đến. Ông chỉ “tốn thì giờ khá nhiều” về mấy chữ “hàng thần lơ-láo” mà thôi. Ông thắc mắc thật nhiều bởi vì “là người miền Nam”, tôi (BNL) chẳng biết lơ-láo là gì hết”. Và vì chẳng biết, ông mới tra tự điển Khai-Trí Tiến-Đức. Và từ đó mới có câu chuyện ông đoan chắc rằng “hai câu thơ của Tiên Điền phải hiểu là (Nếu ta) dấn thân vào với triều đình thì hàng bề tôi của vua sẽ thờ ơ (với ta và) thân phận này sẽ ra sao?”

Trước hết, tôi nghĩ rằng ông BNL quá yêu chữ nghĩa..., ông quá tò mò! (và đây cũng là một nét đáng yêu của nhà văn lớn miền Nam của chúng ta). Ông tra tụ điển KTTĐ, thấy lơ láo : sượng sùng. Ông nói “sượng sùng là gì tôi đã biết, vì miền Nam cũng dùng sượng sùng”. Nhưng ông không đứng lại đó, ông biết rồi mà muốn cho chắc ăn, cứ đi tìm, ông tọc mạch moi móc một chốc, với kết quả: lơ láo: sượng sùng: bẽn lẽn: mắc cỡ: hổ thẹn... và ông cho rằng “nếu thế thì cũng ổn”. Và ông kết luận rằng nếu lơ láo là mắc cỡ thì Từ Hải, người hùng hàm én mày ngài, sức mấy mà mắc cỡ.  Ai mắc cỡ cứ mắc, không có chuyện Từ Hải mắc cỡ. Mà chẳng lẽ triều đình vua quan lại mắc cỡ. Thế là ông lại tiếp tục đi tìm: lơ láo:(‘dân tộc Phù Nam nói là lơ là’) lơ là : thờ ơ: lãnh đạm. Ông còn cho biết lơ láo được dịch ra tiếng Anh là heedless (ấn công hãy cẩn thận: heeedless, không phải là needless). Rất tiếc ông không ghi tên của tác giả người Anh “giáo sư đại học ở London” và cuốn tự điển của ông này.

Một khi đã nhất quyết :

a) Từ Hải không thể “bẽn lẽn”, và

b) lơ láo : lơ là

Ông BNL gạt Từ Hải qua một bên và xua hàng thần qua một bên. Mặc dù tôi rất kính trọng ông BNL và tôi cũng rất thiếu... tự tin ở sự hiểu biết về ngôn ngữ nói chung, về Kiều nói riêng, tôi vẫn thấy không thể, ở đây theo bước ông BNL được. Vì đó mà tôi đã nói với anh là mấy bữa nay tôi ấm ức, ngứa ngáy hoài!

Lý do thật giản dị. Tôi không phải là người miền Nam, mà cũng không phải là người miền Bắc. Tôi sinh ở Huế, đi học ở Huế, đến năm chưa tới hai mươi đã đi ngoại quốc. Vậy mà theo cái nhớ của tôi, thì lơ láo không có nghĩa là mắc cỡ, hổ thẹn... như ông BNL đã tìm thấy sượng sùng/ bẽn lẽn ở KTTĐ rồi lại “diễn” Nam ra thành hổ thẹn, mắc cỡ. Trong mấy chục năm qua, tuy hình như chẳng khi nào dùng đến lơ láo tôi vẫn nhớ rằng nó dùng để chỉ (imply, denote) một khuôn mặt, một dáng bộ trơ trơ ra làm  sao ấy. Trơ trơ trong nghĩa trơ trẽn chứ không phải trong nghĩa “Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ”. Tôi nói trơ trơ vì trơ trơ nhẹ hơn, mơ hồ hơn trơ trẽn. Một kẻ lơ láo? Tôi thấy ngay một kẻ đứng một mình, đứng một cách trống trải, xa lạ với chung quanh, có vẻ thừa thãi, vô tích sự, có thể là mục tiêu của sự dòm ngó của người khác. Tôi còn nhớ hình như người ta còn nói “mặt lơ mày láo” nữa kìa.

Tự điển KTTĐ định nghĩa lơ láo là sượng sùng. Tôi nghĩ lơ láo không hẳn là sượng sùng. Và vì thế lơ láo khác xa với bẽn lẽn, mắc cỡ. (Với lại, từ điển có khi sai là cái chắc) Định nghĩa lơ láo, KTTĐ chép câu: ‘hàng thần lơ láo phận mình ra chi?” Nếu là chi thì làm sao mà vần với hai câu 6/8 tiếp sau:

 

“Áo xiêm buộc trói lấy nhau

Vào luồn ra cúi công hầu mà chi”

 

Ông BNL chép là: “phận mình ra sao?” và ông bảo rằng Từ Hải phân vân lo lắng về một tương lai bất an. Trong khi ấy bản Truyện Thúy Kiều thì chép là “phận mình ra đâu?”, có thể được hiểu như là: (có) ra (gì) đâu. Nghĩa là Từ Hải không đứng đó mà ái ngại về tương lai của mình một khi đã về hàng. Chàng biết quá rồi. Có chăng là cái ý thức mình sẽ là một kẻ “trơ trơ”, thừa thãi, “vô duyên”, nói gọn là một kẻ lơ láo, vì biết thân phận mình sẽ chẳng ra gì. Cảm giác đó, ý thức đó, ở ngay cả một người như Từ Hải, tôi thấy chẳng có gì là quá đáng.

Khổ nỗi, một khi đã không chịu rằng Từ Hải có thể “mắc cỡ” khi về hàng, mà chẳng lẽ vua quan bên kia lại ‘mắc cỡ” với Từ Hải, ông BNL quả quyết rằng hàng ở đây không có nghĩa như chúng ta vẫn tưởng xưa nay là (tướng, quan về) đầu hàng. Theo ông, hàng là hàng ngũ, hàng xóm, v.v... Tôi phải nói là đến đây, tôi đã lấy làm thú vị cái... quá quắt của tác giả Rừng mắm tuyệt vời!

Tôi tự hỏi, một tay phù thủy ngôn ngữ như Nguyễn Du (xin vái cụ Tiên Điền ba vái!) thì thiếu gì chữ mà phải viết một câu thơ vất vả như vậy, gò ép như vậy. Nếu hàng thần lơ láo, theo ông BNL, có nghĩa là bọn bề tôi lãnh đạm thờ ơ (với Từ Hải) thì tại sao Nguyễn Du không viết:

 

Quần thần rẻ rúng, phận mình ra đâu?

 

Theo Đào Duy Anh, bách quan trong triều còn được gọi là thần công. Tại sao Nguyễn Du lại không viết:

 

Thần công lãnh đạm, phận mình ra đâu?

 

cho nó khỏe cái thân già đã nhọc nhằn đi sứ mấy lần?

Đúng vậy, hàng cũng có nghĩa là hàng ngũ. Nhưng gọi toàn thể các quan văn võ trong triều (‘bọn bề tôi của vua Tàu’, ông BNL nói) là hàng thần thì quả là một việc quá mới mẻ. Tôi tôn trọng sự chọn lựa của ông BNL. Nhưng tôi xin chịu, không thể làm như thế được.

Tuy nhiên, trên đây chỉ là cái ý của chữ nghĩa. Ngoài ra, lại còn cái tình của tâm lý nữa. Tôi đồng ý với ông BNL rằng Từ Hải là hình ảnh một anh hùng Nguyễn Du vẽ nên với những đường nét thật tuyệt. Ông nhắc đi nhắc lại Từ Hải là một đấng trượng phu: không lì lợm, không mặc cảm, không bẽn lẽn, không mắc cỡ,v.v... và “cho đến phút chót (...) cũng chưa xem mình là bề tôi của vua Tàu”... Tôi nghĩ, một người như thế, khi vùng vẫy thì oanh liệt, khi yêu thì yêu say đắm, một người như thế khi ra hàng dầu có băn khoăn chi nữa thì cũng là băn khoăn chuyện lớn. Đằng này, theo lời giải nghĩa của ông BNL, người hùng họ Từ lại lo ngại rằng “hàng bề tôi của vua sẽ thờ ơ (với ta và) thân phận này sẽ ra sao?”. Nói cách khác, ông BNL viết rằng một người như Từ Hải, một người đã từng

 

“Trước cờ ai dám tranh cường,

Năm năm hùng cứ một phương hải tần”,

 

một người

 

“Giang hồ quen thú vẫy vùng,

Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”,

 

một người như thế mà khi ra hàng, lòng chỉ thấp thỏm không biết cái bọn áo mão thậm thượt kia có chạy ra mà... welcome mình không, để cho mình nhập bọn với chúng, để cho mình khỏi lẻ loi, khỏi thiệt thòi. Tôi nghĩ đó khó có thể là một Từ Hải đáng yêu. Một Từ Hải đáng phục. Nghĩa là không phải một Từ Hải dưới ngòi bút của Nguyễn Du. Nếu Từ Hải có lo xa chăng thì có thể Từ Hải lo không biết rồi đây đấng Thiên tử sẽ đối xử với mình như thế nào, chứ Từ Hải xưa nay đã có coi bọn bề tôi ra gì đâu:

 

“Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những phường giá áo túi cơm sá gì!”

 

Chẳng lẽ ông BNL lại gán cho người hùng họ Từ một tâm trạng tầm thường như vậy ư?

 

Trong khi đó, tôi nghĩ rằng ngoài một Từ Hải trượng phu, một Từ Hải lẫm liệt, còn có một Từ Hải... “dễ thương” hơn nữa, vì đó là một Từ Hải gần gũi hơn với chúng ta. Đó là một Từ Hải sẵn sàng biết cưng người yêu, biết cưng vợ! Từ Hải biết cái phận mình ra đâu mà vẫn cứ ra hàng, chung quy chỉ vì những lời năn nỉ ỉ ôi ngọt lịm của Kiều:

 

Nghe lời nàng nói mặn mà

Thế công, Từ mới trở ra thế hàng”

Từ dại hay không, tưởng không cần nói ở đây. Chỉ biết rằng Từ dám sống, dám yêu, và vì dám như vậy mà đi đến cái chết. Một người như thế, không lẽ nào khi còn do dự chẳng biết nên về hàng hay không lại đã tính toán chi li về thái độ thờ ơ hay niềm nở của bọn bề tôi trong triều, cái bọn bề tôi chắc chắn Từ đã xem như cỏ rác khi còn “riêng một biên thùy”, “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”!

 

 

4

 

Ở cuối trang 22 của Văn học số 8-9, ông BNL đưa ra những nghi vấn về chữ ghềnh trong câu Chiếc cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Ông cho rằng ghềnh có nghĩa là vũng nước xoáy—whirlpool—như tự điển KTTĐ định nghĩa “khá đúng”. Nhưng điều làm cho ông BNL bận tâm nhất là “Nếu ta cứ dịch là whirlpool,  người ngoại quốc đọc, rủi ro họ biết rõ cách thức lập nghĩa địa của Tàu, họ sẽ chê Nguyễn Du tả không đúng thì hơi phiền cho văn chương ta”. Mặc dù tôi không biết gì về cách lập nghĩa địa của người Tàu, cũng xin liều bàn đôi lời, để nói rằng, vì những lý do khác, tôi không lo ai chê Nguyễn Du cả, nghĩa là chẳng có gì phiền cho văn chương ta cả.

Trước hết, chưa chắc gì ghềnh chỉ là vũng nước xoáy, như tự điển KTTĐ định nghĩa. Chúng ta có thể để tạm whirlpool sang một bên. Tự điển Nguyễn Đình Hòa, tự điển Lê BáKông/ Lê Bá Khanh bảo ghềnh là waterfall, là cataract. Ai trong chúng ta cũng biết rằng hai từ này có nghĩa là thác, thác lớn, thác nhỏ gì không biết, chỉ biết là thác.  Trong bản dịch The Tale of Kieu, tuy ông Huỳnh Sanh Thông tránh không dịch chữ ghềnh, người đọc vẫn thấy được “dòng nước uốn quanh” và “nhịp cầu nho nhỏ” đi qua, và đó là cái khéo của ông. Trong bản dịch Pháp văn Kiều của ông Nguyễn Văn Vĩnh, ta thấy ghềnh được dịch thành arroyo. Mà cả ba ông, Đào Đăng Vỹ, Thanh Nghị, Đào Văn Tập, trong ba cuốn tự điển Pháp Việt của họ, lại bảo arroyo là kinh, hói, lạch, sông đào... Vậy ghềnh là cái gì? Cái gì bí hiểm tối tăm đến nỗi không có sự... nhất trí như vậy.

Chỉ vì đọc được bài của ông BNL trong Văn Học mà tôi loay hoay xét lại chữ ghềnh, chứ thật tình, mấy chục năm nay tôi vẫn yên chí rằng ghềnh là một thứ “mỏm”, một thứ “lưỡi” đá “lè” ra từ chân núi, trên mặt nước. Nói ghềnh là thấy cheo leo, hiểm trở xa cách. Yên chí như vậy trong bao nhiều năm trời: mới cách đây mấy tháng tôi hãy còn tí toáy viết mấy câu thơ trong đó có chữ ghềnh, với cái nghĩa mà tôi vẫn cho là đúng:

 

(...)

Ngày đêm mây trắng ngủ trên ghềnh

Trời thở dài đất cũng làm thinh

(...)

 

Nay bỗng nhiên thấy ông BNL đem chuyện này mổ xẻ, tôi đâm ra phân vân. Nhưng phân vân chưa đầy một trang sách thì lại... khoái chí thấy hai câu ca dao do chính ông BNL chép lại trong bài của ông, hai câu trước đây tôi chưa từng biết:

 

Chiều chiều ra đứng Ải Vân

Chim kêu ghềnh đá, gẫm thân thêm buồn.

 

Có thể tôi rất... chủ quan, vì  tôi nghĩ rằng nếu ghềnh là thác thì khó mà có cái vụ chim kêu lắm. Thác đổ ào ào, nước bắn tung tóe, chim bay quanh đó làm gì? Còn nếu ghềnh là vũng nước sâu, xoáy mạnh thì hình ảnh đám chim vừa bay vừa kêu trên vũng nước xoáy là một hình ảnh rất đẹp. Rất đẹp và rất khó tin. Sao chim không kêu ở đâu mà lại nhè cái vũng sâu có nước xoáy mạnh mà kêu? Còn nếu ghềnh là arroyo như ông Nguyễn Văn Vinh đã dịch, và arroyo lại có nghĩa là hói, kinh, lạch,v.v... thì làm gì có chuyện “chim kêu ghềnh đá”! Hạ hồi chưa biết ra sao, chứ tôi thấy hiện nay chỉ còn lại “ghềnh” như tôi vẫn hiểu. Không phải chỉ ghềnh mà thôi, mà còn là ghềnh đá. Như trong câu ca dao mà ông BNL đã có công chép lại. Ở Ải Vân mà có chim. Tiếng kêu lớn nghe được thì có thể là hải âu. Cả ngày nhào lộn chán chê, tôm cá đớp nuốt phủ phê rồi thì chiều về, mặt trời sắp lặn xuống biển, chim bèn tà tà hạ xuống cả đám, đứng trên ghềnh đá mà kêu nhau, kêu nhau về tổ trước khi đêm về. Có ai đó, một mình “chiều chiều ra đứng Ải Vân” nhìn ngắm quanh cảnh “chim kêu ghềnh đá” như vậy, mới “ngẫm thân” mình (đơn chiếc, cô độc, lẻ loi, xa nhà,v.v...) thì “thêm buồn” là cái chắc!

Trong tranh sơn thủy cổ của người Tàu, xưa nay tôi vẫn nghĩ là tôi thường thấy hình ảnh của ghềnh. Đây, tôi quệch quạc vài nét theo bức tranh của ông họa-thánh thời Nam Tống là Hạ Khuê (1190-1230) cho anh coi:

                    

Suy đến đây, chưa kịp yên tâm, đã giật mình. Nếu thật là ghềnh có nghĩa như tôi hiểu, thì làm thế quái nào có được ghềnh ở gần mộ Đạm Tiên? Chính ông BNL cho rằng KTTĐ định nghĩa ghềnh là vũng sâu, có nước xoáy mạnh là “khá đúng”, ông cũng bảo không thể có ghềnh ở gần mộ Đạm Tiên. Vậy thử coi ở gần mộ Đạm Tiên có những gì. Chúng ta thấy mấy chị em Kiều:

 

Bước lần theo ngọn tiểu khê

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ, cuối ghềnh bắc ngang.

 

Có suối nhưng chỉ là suối nhỏ, phong cảnh thì không hùng vĩ, thanh thanh thôi, nước thì không xoáy, không cuốn, nước chỉ uốn nao nao, còn cầu, con cầu bắc ngang cả một cái “ghềnh” chỉ là một nhịp cầu nho nhỏ. Toàn những chữ cho ta cảm tưởng một nơi chốn có kích thước hạn hẹp, hiền hòa, gần gũi với con người. Không phải cảnh tượng của thác lớn, sông rộng, nước xoáy, núi cao, vực thẳm.

Tôi không biết  mảy may gì về kỹ thuật xây mộ của người Tàu, nhưng tôi lại sực nhớ rằng người Tàu vốn thích tạo nên cảnh thiên nhiên tại nơi mình đang ở. Nghệ thuật Trung Hoa về làm cảnh (landscaping) đã bước đến một trình độ Đông Tây khó ai qua mặt. Người phong lưu dám bỏ “nghìn vàng” để mua một hòn đá lớn hình thù quái dị đem về để ở sân nhà. Thú chơi hòn non bộ của các cụ ta một thời có lẽ cũng phát sinh từ cái “gu” đó của người Tàu. Vậy thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ở một vùng đất chọn làm nơi yên nghỉ nghìn thu cho thân nhân, người Tàu không quản công của để tạo nên một cảnh trí thật đẹp đẽ.  Mà chúng ta vẫn biết rằng lý tưởng của cái đẹp cảnh trí của người Tàu từ xa xưa đã là cái đẹp thiên nhiên, như nền hội họa đồ sộ của họ đã chứng minh từ nhiều thế kỷ. Vì thế tôi nghĩ rằng, cái con tiểu khê, cái dòng nước nao nao, chính là cảnh trí nhân tạo của một nghĩa địa (hiểu theo nghĩa Đông phương). Và như thế thì dùng đất đắp thêm, rồi dùng đá xây lên một một cái ghềnh tí hon, để bắc ngang một cái cầu nho nhỏ, hiển nhiên là chuyện đáng làm, phải làm.

Thành thử cái chuyện ghềnh là gì thật cũng đáng đem ra mà bàn lắm. Nhưng có điều quan trọng hơn nữa là dẫu dù ghềnh có là vũng nước xoáy, hay cái thác, hay con ngòi, hay như tôi hiểu khi tôi nói về chuyện “chim kêu ghềnh đá”, Nguyễn Du đã không tả... ẩu khi cụ vẽ cái “ghềnh” vào cảnh mộ Đạm Tiên. Để cho phong cảnh toàn vùng đất mồ mả“ngổn ngang gò đống kéo lên”, với những kích thước khiêm tốn, được giống hệt như một chốn hùng vĩ và hữu tình hơn. Mà có như vậy mới dễ dàng cảm thấu  nỗi xúc động và lòng thương xót của Kiều khi nàng nhìn thấy cái cảnh xơ xác tàn tạ của:

 

Sè sè nấm đất bên đường,

Dàu dàu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh.

Nhưng đây lại là một chuyện khác.

 

Thăm anh và các bạn được vui mạnh. Anh đưa những cảm nghĩ của một tay ngang ra thử xem anh em bên nớ nghĩ sao.

Thân ái,

 

VÕ ĐÌNH

19-10-1986

 

 

 

 

T.B. Mới viết xong, có bạn là T.H.S. gọi điện thoại hỏi thăm. S. bên ngoại miền Trung, bên nội miền Nam, bèn hỏi thử chàng hiểu “lơ láo”ra làm sao. T.H.S. đáp, không ngần ngừ: “Lơ láo là đứng xính rính, chẳng biết làm cái gì! Còn anh nghĩ sao?” Tuyệt! Theo T.H.S., không những có xính rính (một từ tôi mới biết sau 75) mà lại có cả đứng xính rính. Phù hợp hoàn toàn với cái hiểu của tôi: đứng một mình, đứng lơ láo, thừa thải, vô tích sự. Tuy rằng xính rính hay thật, linh động thật, liệu có ai dám đổi câu tám của cụ Nguyễn Du thành “Hàng thần... xính rính, v.v.” không?!

Reader's Comment
Tuesday, February 3, 20156:23 AM
Guest
Trước đây tôi, và ngay gần đây vẫn đọc Kiều. Vừa rồi tôi tự thấy Kiều có gì đó không ổn. "Kiều càng sắc sảo mặn mà" sao gia đình vừa gặp khó đã "bán mình". Đứng ở góc độ nào đi nữa theo tôi đây là điểm yếu chết người, chết người vì nhưu vậy truyện Kiều không nâng tâm người đọc được. Có lẽ thế vì chăng mà Tố Như "Mua vui cũng được một vài trông canh". Hình tượng Kiều thấp hèn (không cao sang), trong truyện không hề có một nghĩa cử dấn thân cứu đời cao thượng để nữ giới đọc mà nâng thêm trí lực, nam giới đọc mà cảm thấy xốn xang.
Send comment
Your Name
Your email address
Saturday, February 13, 201012:00 AM(View: 135012)
Tên anh là gì tôi không biết, nhưng tôi quen anh qua một trang tìm bạn bốn phương với cái tên đẹp đẽ Vũ Quang.
Wednesday, February 10, 201012:00 AM(View: 133610)
Có những bến bờ không thể nào gặp được Ký ức xa xăm mây khói lưng trời Réo gọi tuổi thơ chỉ hư không đồng vọng Dòng sông đời soi bóng tóc sương rơi
Wednesday, February 10, 201012:00 AM(View: 116834)
Xuân vừa về trên bãi cỏ non… Nghe câu hát ấy của Phạm Duy, ta nghe mùa xuân về đâu đó quanh đây, về trên những thảm cỏ xanh mướt, về trên những bông hoa dại đủ sắc mầu dọc theo con đường chúng ta đi.
Wednesday, February 10, 201012:00 AM(View: 119097)
Nhiều tiếng nổ ầm ì vẳng lại từ xa. Tiếp theo những loạt phản pháo chấn dội phát ra từ khu rừng trước mặt. Một đoàn xe nhà binh mở đèn từ phía Tân Cảng Sài Gòn rầm rộ tiến trên xa lộ Bình Dương, kéo lê theo sau những thùng sắt khổng lồ chứa đựng quân lương và đạn dược.
Friday, February 5, 201012:00 AM(View: 137456)
thu đi qua chập chờn đèn lồng đỏ thu đi lại nghiêng ngó giọt trăm năm hể trăm năm bướm ong còn cõng gió thu hả hê vắt tóc suốt bờ câm
Friday, February 5, 201012:00 AM(View: 134172)
Đến đi rồi tiễn biệt Chiều cuối năm bay Về nhau dọ dẫm từng giây Hòa cùng cây lòng tôi hẹp lại
Thursday, January 28, 201012:00 AM(View: 131527)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng tạp chí Hợp Lưu.Thạc sĩ, nhà văn Vũ Đảm hiện là Phó tổng biên tập Tạp Chí Nhà Văn tại Hà Nội Việt Nam, chúng tôi hân hạnh giới thiệu truyện ngắn "Chín Tháng Mười Ngày" của Vũ Đảm đến quí độc giả và văn hữu Hợp Lưu. TCHL
Friday, January 15, 201012:00 AM(View: 122595)
Một lần anh hỏi Ước mơ của tôi là gì? Tôi chợt nhớ đến mùa hè xa… Năm 1980, chị em tôi tíu tít khi ông Chín từ Sài Gòn về Quy Nhơn. Chúng tôi thích thú, cái gì ông cũng biết, đêm nào chúng tôi cũng cùng ông ra bờ biển hóng gió và chơi nhảy sóng. Nhìn trời đêm lấp lánh, ông dạy cho chúng tôi cách nhận ra những chòm sao.
Monday, January 4, 201012:00 AM(View: 124118)
Trọn năm 1946, New Times chỉ đăng hai bài của A. Guber và Vera I. Vasilyeva (1900-1959), cựu chủ nhiệm Văn Phòng Đông Dương của Ban Phương Đông QTCS về “French-Indochina.” Guber yểm trợ mô hình Khối Liên Hiệp Pháp [L’Union francaise] trong Dự thảo Hiến Pháp của Pháp, và nhấn mạnh vào sự thắt chặt liên hệ giữa “nhân dân Đông Dương” với “lực lượng tiến bộ” Pháp, vì đây là chỗ nương dựa cho những đòi hỏi chính đáng.
Monday, January 4, 201012:00 AM(View: 125794)
Trong đời hoạt động của Hồ Chí Minh–ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911–mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris–do Quốc Tế Cộng Sản [QTCS] dàn xếp–là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Hồ giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ QTCS chuyên nghiệp [agitprop = political agitation and propaganda].
Friday, August 7, 2026(View: 3801)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Saturday, August 16, 2025(View: 13227)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, December 18, 2024(View: 19618)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Wednesday, December 18, 2024(View: 18601)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Sunday, October 18, 20266:14 PM(View: 1548)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Sunday, October 18, 20266:04 PM(View: 1719)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Friday, October 9, 20266:39 PM(View: 2235)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
Friday, October 9, 20266:09 PM(View: 2357)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(View: 1413)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(View: 2178)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(View: 1908)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(View: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Sunday, October 18, 20264:43 PM(View: 1304)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
Friday, October 9, 20265:49 PM(View: 2345)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Friday, October 2, 202612:54 AM(View: 2544)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Wednesday, September 23, 202610:53 PM(View: 2327)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Tuesday, October 27, 2026(View: 215)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Wednesday, October 21, 2026(View: 764)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Monday, October 19, 2026(View: 970)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Monday, October 19, 2026(View: 1038)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
Friday, June 5, 2026(View: 6379)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, June 6, 2025(View: 15854)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Friday, December 22, 2023(View: 32115)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Wednesday, April 27, 2022(View: 38827)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(View: 1410)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(View: 13869)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(View: 6867)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(View: 10628)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(View: 9829)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(View: 9950)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(View: 10755)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Monday, September 14, 20262:19 AM(View: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
Friday, October 31, 202510:09 PM(View: 11097)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Saturday, October 25, 20251:53 AM(View: 10323)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi