- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Người Đàn Bà Phía Bên Này Doi Đất

11 Tháng Mười Một 20143:00 SA(Xem: 54324)
ChauDoc-AnGiang-VN-nhn
Châu Đốc- An Giang- ảnh Nguyễn Hoàng Nam



K
hi cô mở mắt ra, đã thấy con thuyền chỏng chơ cập sát vào sàn nước nhà mình. 
Lặng không một chớm chòng chành. 
Nước mắt cô ứa ra từng giọt nặng chĩu. Doi đất phía bên kia chỉ còn là một vệt mờ mờ phủ trong màu xanh dừa nước và bần Đước.
Đã hết thật rồi.

*

Lần mở mắt thứ nhất là bầu trời xanh trong chói chang trên mặt sàn nước.
Ngày cô mới chào đời, mẹ của cô, theo tục lệ, đã vội ẵm cô trong bọc khăn rằn nhàu nhò ra chào sàn nước. Một dòng sông in bóng bầu trời xanh mênh mang mở ra trong con mắt ký ức của tuổi thơ. 
Tuổi thơ mênh mang ngập tràn nước.
Và từ đó trở đi, cuộc đời của cô gắn liền với sàn nước. Như cuộc đời của ngoại, của mẹ, của Gái chị, Gái em, Gái lớn và cô, Gái nhỏ rồi sẽ cắm xuống mặt sông, cột vào chân sàn nước của người đàn ông đã chọn mình.
Cũng như bao nhiêu làng xóm ven sông khác, nhà mẹ cô nằm vắt vẻo bên bờ sông, con sông chạy ngoằn ngoèo theo đường lộ cái. Con sông bao đời thân thuộc hơn con đường. Cái sàn nước, nhà nào cũng làm chồm ra mặt sông trở thành cái bộ mặt xanh mướt của mỗi nhà. 
Bước chân chập chững tập đi của cô chỉ loanh quanh nơi sàn nước, nơi mẹ cô ngồi lui cui, lưng còng, vai gầy cắm đầu xuống mặt sông vò tay đám áo quần cứng còng nhiễm phèn của cả nhà. Rồi Gái chị, Gái em, Gái lớn lần lượt giã từ sàn nước nhà mẹ từng chiều muộn tắt nắng với rất nhiều bịn rịn, lưu luyến rời sàn nước thân quen từ nhỏ để đến cột cuộc đời mình vào sàn nước nhà người đàn ông xa lạ nào đó.
Cuộc đời một người đàn bà chỉ tính bằng chiều dài cái sàn nước.
Một chiều mẹ ôm chặt cô vào lòng, mùi trầu, mùi dầu tràm quyện với mùi lục bình, mùi rong rêu quấn quanh chân cột sàn nước, cái mùi theo cô mãi những ngày đêm xa nhà trắc trở sau này, thành một mớ ký ức chòng chành và sóng sánh không ngừng:
- Cả đời mẹ đã cột chặt vào cái sàn nước này. Con phải đi xa khỏi cái sàn nước mới khá lên được
Bóng mẹ đổ dài qua bóng sàn, trượt xuống mặt sông, vỡ ra thành những vệt dài. Cái vệt dài mong nhớ đó đi theo cô hết phần đời còn lại.

Lần mở mắt thứ hai, là bầu trời xanh chao nghiêng hắt lên từ một lòng sông lạ.
Cô không còn nhớ nổi vì sao mình nằm chỏng chơ dưới lòng con thuyền này, neo cột vào một bến sông lạ. Chồm ra giữa mặt sông như một doi đất cô độc bị đánh rơi trên đường con sông vùng chạy ra biển. Đêm trước, cô còn nép trong vách phên lát tường hăng mùi trầu và áo quần con nít cũ của nhà mình. Đêm sau cô đã nằm ngửa trong lòng thuyền, mái tóc con gái 17 tuổi xổ tung lênh láng trăng muộn.

Đêm đó trăng 17, cô còn nhớ, và mùi người đàn ông xa lạ đó, mùi rượu nồng nặc, mùi áo quần bắt nắng khê nồng, mùi tanh của bùn đất dưới thân ghe… Tất cả ập vào cô cùng một lúc, cùng một câu nói qua kẽ răng, như nhát rựa chém vào cột sàn:
- Cô về đây là để trừ nợ, chẳng phải vợ chồng gì! Hiểu chưa?
Và từ đó đời cô bắt đầu tập quen với những chòng chành sóng sánh va lắc mới ở bên này doi đất.
Người đàn ông cô gọi là chồng, chưa bao giờ biết tên thật của cô. Trong cơn say bí tỉ mềm mụp mỗi khuya anh gọi cô bằng tất cả những cái tên anh học được từ những quán nhậu kiêm tiệm karaoke mọc lên chi chít như nấm đầu mùa mưa trong thị xã:
- Hồng, Cúc, Hoa, Diễm, Đẹp…
Cô chấp nhận những cái tên xa lạ đó, cảm thấy mình được an toàn trong vỏ bọc của những cái tên lạ. Miễn là anh không chạm được vào con bé Gái nhỏ, ẩn núp sâu trong tim cô, thắt thỏm run rẩy trong cái kẹp ba lá, áo bà ba vá, cặp nách hai bẹ chuối cây, bập bềnh theo trái dừa khô thả nổi đập chân bành bạch quẩn quanh bên sàn nước nhà mẹ. Miễn là anh để yên cho con bé Gái nhỏ ngủ yên trong vùng ký ức ngọt ngào của tuổi thơ. Và những xúc cảm, những rung động, yêu thương âu yếm cũng ngủ yên sâu trong tim cô, như con bé ấy.

Con sông cắt hai doi đất bằng dòng chảy sâu và xiết của con nước lớn lúc nào cũng đầy ăm ắp nên hai doi đất nhô ra giữa sông, nhìn từ xa như chạm mũi vào nhau, đến gần mới thấy từ mũi này qua mũi kia phải mất hết mấy tiếng đồng hồ tay chèo khỏe.

Bên này doi đất bồi, bên kia doi đất lở. Dần dần doi đất bên này nhà cửa lấp đầy vội vã, xiên xẹo, chạy theo mép nước. Những người đàn bà hàng xóm lạ, sau một đêm giở liếp cửa ngượng nghịu nhìn nhau chào, khóe mắt nhăn chĩu chịt chân chim, trên gò má lốm đốm tàn nhang và những vết bầm tím. 

Doi đất bên kia vẫn xanh rậm rịt bần đước, dừa nước chen chúc và những câu chuyện hoang đường về vùng nước xoáy dìm chết thuyền bè mon men lại gần bờ.

Mặt trời mọc lên từ doi đất bên này và lặn ở doi đất bên kia. 

Mỗi chiều, từ doi đất bên này, khói bếp trấu, bếp rơm thơm len lỏi rập rềnh trên sàn nước, mùi cơm gạo mới, mùi rau cỏ tập tàng vườn nhà, mùi cá sông tép đồng, mắm nẫu dìu dịu ngây ngây giục những người đàn ông nhanh tay neo ghe vào chân sàn, khoát nước sông rửa vội tay chân, tiện tay ngắt ngang trái ớt xanh trong bụi ớt rung rinh đầu sàn. Rồi khoan khoái ngồi khoanh chân chữ ngũ, cầm đôi đũa tre xới vội bát cơm dẻo thơm hạt gạo mới, cắn một đuôi ớt non, quẹt một miếng nước mắm nhĩ, hít hà như đang lùa cả hương đất trời Nam bộ vào lòng.
Mỗi chiều, cô ngồi lặng bên sàn nước nhà mình nhìn doi đất bên kia chìm trong màu vàng lung linh kỳ ảo, thứ ánh sáng hắt lên và khuếch tán rực rỡ từ lòng sông trong vắt. 
Một chiều như vậy, khi người đàn ông của cô đi lưới cá muộn chưa về, cô cao hứng nhảy ào xuống chân sàn tắm vội. Cảm giác bập bềnh theo trái dừa khô thả nổi, đập chân bành bạch quẩn quanh chân sàn nước nhà mẹ rưng rưng trở về. Từ đâu xa trên mặt sóng dập dềnh văng vẳng tiếng gọi thì thào:
- Gái nhỏ à, Gái nhỏ…
Cô rùng mình, ngưng tay khỏa nước, quay mặt nhìn về doi đất phía bên kia. Từ sát mép nước, bóng một người đàn ông đứng ngược sáng, ánh nắng cuối ngày dát một màu óng ánh như bụi vàng quanh thân hình rắn rỏi sừng sững.
Cô giật mình, leo hẳn lên trên mặt sàn nước, ngồi cúi người hong khô mái tóc ướt. Nhưng cảm giác từng vùng da thịt hằn lên dưới tà áo bà ba nóng bỏng trong tia mắt săm soi sờ sững của người đàn ông làm cô vừa bối rối vừa ngộp thở, cảm giác bồi hồi, hối hả cô chưa từng có với chồng. Bên kia sông, từng hồi âm thanh xao xuyến vẫn lan đi không ngừng:
- Gái nhỏ à, Gái nhỏ…
Và cô cứ ngồi như vậy, co người lại, mắt nhìn sững vào doi đất bên kia, nơi người đàn ông trong ngược bóng chiều tà cũng đăm đăm cắm tia nhìn vào cô, không rời. 
Cho đến khi bóng tối sụp xuống. Che phủ mọi thứ.
Cô lết thết, thờ thẫn bước vào nhà, thổi bùng bếp trấu, khơi lại ngọn đèn dầu tù mù trên bàn thờ. 
- Cô xoay bức hình của bả vào trong tường giùm tui!
Giọng của chồng cất lên đục ngầu, đột ngột từ sau lưng làm cô giật nảy mình. Cô biết anh đã say mềm. Bao giờ cũng vậy, khi say mềm về, anh sẽ úp tấm hình má chồng trên bàn thờ vào tường. Anh vừa sợ vừa căm ghét đôi mắt sáng quắc nhưng thê thiết của bà.
Anh ngồi bó gối một góc nhà, cười gằn với cô:
- Bà ấy có gì mà tiếc nữa. Đáng lẽ bà ấy không có chỗ trên bàn thờ. Tía tui còn thì không đời nào có chuyện đó đâu. 
Anh lôi tay cô ra, chỉ vào vết chém mờ mờ trên chân cột sàn.
- Đây nè, đây là chỗ tía cột bả lại, để coi bả còn dám bỏ nhà đi theo thằng kia không! 
Và sau đó cười gằn thêm vài hơi nữa:
- Cái vệt máu này, cái vệt máu khô trên mặt sàn này. Đêm đó bả tự mình tháo dây chèo xuồng đi, tui gọi “tía ơi, má bỏ đi kìa tía”. Lúc đó tui mới có 10 tuổi, một thằng con nít 10 tuổi, biết làm gì khi mẹ mình bỏ mình mà đi! Tía tui trở cán rựa, chặt đứt sợi dây xuồng, tui thề là ổng chỉ chặt đứt sợi dây xuồng….
Rồi anh cất giọng cười u u thê lương, nghe nổi da gà hơn tiếng khóc.
Vệt máu ấy, có ngày cô thấy rõ, có ngày không. Nhất là những ngày mưa, nước nhỏ ròng ròng từ mặt sàn xuống mặt sông cũng thẫm một màu nâu đỏ như máu ứa. 
Nhất là những ngày mưa, đôi mắt má chồng từ bức hình chân dung nhìn xuyên qua anh, qua cô, qua căn nhà trống ra mặt sông khắc khoải như sắp bước xuống chạy xấp xãi đi. Những lúc như vậy, cô cũng chịu không nổi, và phải lật đật úp mặt bà vào tường.
**
Chiều nay nữa, chiều rất muộn, chồng cô vẫn chưa về.
Cô ngồi trầm mình trong nắng chiều rớt, nhìn đăm đắm về doi đất phía bên kia. Người đàn ông vẫn đứng đó, im phăng phắc. Chợt xuyên qua khoảng cách của chiều dài lòng sông, cô thấy cánh tay anh đưa lên vây vẫy, mơ hồ nhưng quả quyết, đôi môi mấp máy không rõ lời. Từ trong vô thanh, cô nghe đầu óc mình ong ong đồng vọng và tim nhói buốt đau đớn :
- Anh chờ em, lâu lắm rồi. Anh sẽ chờ.
Cô quay phắt người, đi vào nhà. Đôi mắt đau đáu vẫn dính theo vào người cô, khắp người cô nhức nhối như bị ai đánh đập. Và kiệt sức.
Chiều sau, chiều sau nữa, mỗi chiều muộn, cô giấu mình sau liếp cửa, mắt nhìn qua bên kia doi đất. Người đàn ông vẫn đứng đó, sát mép nước, nhưng khuôn mặt sầu muộn, đầu cúi xuống, tất cả nét u buồn tan chảy đều rõ ràng chói lọi trong nắng quái ủ rũ cuối ngày. Cô úp mặt vào tay, nước mắt ràn rụa. Trái tim nhói lên từng hồi như có ai xiết chặt, rồi buông ra, rồi lại xiết chặt.

Chồng cô lảo đảo bước vào nhà, say mèm, nằm vật ra tấm phản gỗ, miệng không ngớt lẩm bẩm:
- Hồng, Cúc, Diễm, Hoa…
Cô bậm môi, cầm lấy cái mái chèo, hai chân lật đật như quấn vào nhau xiên xẹo bước ra đến cửa. Đi ngang bàn thờ, đôi mắt của má chồng nhìn theo cô hun hút, nửa bồn chồn, nửa ẩn ức. Cô lập cập lật bức hình xoay vào tường, rồi đi như chạy ra phía sàn nước.

Một cơn mưa rào ào ào trút xuống, hai hàm răng của cô đập vào nhau lẩy bẩy, nước tuôn chảy từ mặt sàn xuống lòng thuyền đùng đục màu nâu đỏ như màu máu khô.
Cô rùng mình, vừa vì lạnh, vừa vì sợ hãi, nước quất vào mặt cô ràn rạt, lòng sông nổi sóng ùng ục trong cơn giông gió. Sức mạnh của tuổi 20 và tiếng gọi không ngừng từ bên kia doi đất đẩy cô bươn bải như cái máy chèo về phía trước. Doi đất bên kia từ từ hiện ra sau màn mưa, chơm chởm rễ bần đước và dừa nước ken dày, dưới sát mép nước, người đàn ông vẫn đứng, cơ ngực nổi vồng, mắt nhìn trân trân về phía trước. 
Sóng từ bờ xô đẩy cô như điên cuồng về phía giữa sông, trong khi gió trên đầu ràn rạt hắt cô về phía ngược lại, chiếc thuyền mỏng manh quay vòng vòng, mất phương hướng. Một màn nước từ trên cao úp chụp xuống, trời đất quanh cô tối sầm lại.
Khi cô tỉnh dậy, trước mắt cô là bầu trời màu vàng trong vắt, sau đó đến khuôn mặt trầm ngâm cúi xuống bên cô và tiếng gọi thì thào:
- Em đã tỉnh rồi à?
Cô òa khóc, thì ra người đàn ông đó, cô đang ở trong vòng tay của người đàn ông đó, người đàn ông mỗi chiều làm từng thớ thịt trong người cô run rẩy, khao khát và chờ đợi. Cô nhắm nghiền mắt, hít sâu mùi da thịt trộn lẫn bùn đất, cây cỏ, mùi sình và mùi gió sông lồng lộng khoáng đạt thanh thản. Khi cô mở mắt ra, người đàn ông vẫn cúi xuống bên cô, gần hơn, gần hơn nữa. 
- Có phải em từ doi đất bên kia qua? Người em có mùi khói bếp, mùi rơm rạ. Mùi trẻ con.
Cô rùng mình, thảng thốt. Người đàn ông này bị mù. Thay vì đôi mắt, chỉ là một khoảng không trống rỗng, đục ngầu.
Cô vùng dậy rời khỏi tay người đàn ông. Khuôn mặt ông cau lại, trong một thoáng.
- Em nên trở về đi, trước khi trời sụp tối. Không có em, bên ấy không có mùi khói bếp. Chiều nào tôi cũng nương theo hướng gió để nghe mùi khói bếp bay về. 
- Còn cơn mưa? – cô lẩm bẩm.
- Không có cơn mưa nào. Đừng lo, tôi sẽ đưa em về!
Cô rời tay người đàn ông, tập tễnh đi về phía chiếc xuồng của mình. Trời hanh khô và trong veo, từ bờ bên này nhìn thấy rõ sàn nước nhà cô nhuộm vàng trong nắng chiều và bóng chồng cô lờ mờ nằm vắt ngang chiếc phản gỗ mệt nhọc.
- Tôi tự đến, tôi sẽ tự về lại được- Cô vừa nói vừa ứa nước mắt.
Chỉ bằng một cái đẩy nhẹ nhàng, xuồng của cô đã ở giữa dòng nước, phân chia rõ ràng, một bên trong đến thấy nắng dưới lòng sông , một bên đục ngầu màu nâu đỏ. Là dòng nơi cô quay về.
Cô nhắm mắt lại, trời đất tối sầm, một tiếng nổ nhỏ trong đầu cô làm tất cả xoay tròn đảo lộn:
- Người đàn ông ấy bị mù, chưa bao giờ ông ta nhìn thấy mình cả!

Khi cô mở mắt ra, đã thấy con thuyền chỏng chơ cập sát vào sàn nước nhà mình. 
Lặng không một chớm chòng chành. 
Nước mắt cô ứa ra từng giọt nặng chĩu. Doi đất phía bên kia chỉ còn là một vệt mờ mờ phủ trong màu xanh dừa nước và bần Đước.
Đã hết thật rồi.

**

Nửa đêm cô tỉnh giấc, bên vuông cửa mở toang hoác, chồng cô đứng nhìn chăm chăm hướng doi đất phía bên kia. Một quầng sáng như lửa lan cháy rực rỡ trên mặt sông:
- Người ta đốt phá sạch rừng đước để làm bờ kè. Đất đó được quy hoạch rồi.
Cô nghe khắp người nhộn nhạo, đau buốt:
- Còn người đàn ông mù?
- Làm gì có người đàn ông mù nào! Bên đó trước giờ vẫn là rừng đước hoang vu không người thôi!

UYÊN LÊ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 107890)
T hơ Việt đi về đâu? Đây là câu hỏi mà tập thể các nhà thơ và giới làm văn hoá-giáo dục VN phải trả lời, với sự đóng góp của ý thức và bản lĩnh từ mỗi cá nhân. Những trang dông dài trên đây chỉ muốn phác họa quang cảnh và vài xu thế chính mà các nhà văn nhà thơ VN đang chứng kiến và đối diện: Sự hình thành nền cộng hòa văn chương VN trong bối cảnh toàn cầu hóa một chiều, cộng thêm bóng đen của toàn trị-mafia và vòng kim cô tự kiểm duyệt trên đầu. May mắn được làm một người quan sát từ ngoài nước [...] Chỉ xin đóng góp ở đây vài ý kiến nghề nghiệp.
07 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 95967)
Q ua chiến tranh, Việt Nam đã chịu biết bao đau thương tan nát. Bằng những hình ảnh và những trang viết, Hợp Lưu 113 sẽ đưa chúng ta một lần nữa... lội qua chiến tranh. Nhìn lại, không phải để đào sâu thêm sự thù hận bởi biên giới chính trị, mà để suy nghiệm về cuộc chiến Việt Nam như những “trận hậu chấn” dần dần tan vào lịch sử...
04 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 145830)
K hông còn gọi là vũ khí, một khẩu colt giữa điệp trùng AK chỉ còn để yên tâm biết trong tay có bạn giữa mịt mùng núi rừng không tìm ra lối đi
04 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 103254)
... D ạo ấy tôi là người yêu của lính. Ban đầu là thiếu úy thông dịch viên chiến trường, xong tụt xuống chuẩn úy Quân Trường Thủ Đức, rồi leo lên trung úy Quân Y, chặp sau đại úy Hải Quân, cuối cùng trở lại hàm thiếu úy binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. [...] Mấy tay này, tiếc thay, chết như sung rụng. Tôi ôm nỗi buồn góa phụ cô đơn rên rỉ nhạc Trịnh anh nằm xuống sau một lần đã đến đây ...
02 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 138588)
l úc chúng mình cùng ưu tư chung một đoạn cuối tiếng ve rền nuối tiếc em lẩm cẩm hỏi về điều kỳ diệu của mùa xuân tôi vội nén lại một mùa xuân thất sủng...
01 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 106311)
T ừ ngày 7/3/1975, khi Văn Tiến Dũng bắt đầu cô lập Ban Mê Thuột, tới ngày 30/4/1975, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, vừa chẵn 55 ngày. Thật khó ngờ chỉ trong vòng 55 ngày và 55 đêm mà đạo quân hơn một triệu người–có hơn phần tư thế kỷ kinh nghiệm tác chiến, với những vũ khí khá hiện đại như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa [VNCH]– bị sụp đổ hoàn toàn [...] Những hình ảnh điên loạn mà ống kính các phóng viên quốc tế thu nhận được chẳng khác cảnh vỡ đê trước con nước lũ, hay sự sụp đổ của một tòa lâu đài dựng trên bãi cát, khi nước triều dâng lên.
31 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 114608)
C on gái lớn của chúng tôi lấy chồng đã nhiều năm, có hai con. Ông bà thông gia theo đạo Phật. Ông là cư sĩ của một đạo tràng và ăn chay trường từ mấy chục năm qua. Vốn là một dược sĩ, nhưng ông lại nghiên cứu về đạo Phật và có bằng cử nhân Phật Học của trường đại học Vạn Hạnh, Saigon. Kỳ nào có ông đến giảng pháp lý là được nhiều người đến đón nghe. Chúng tôi không phải Phật tử thuần thành, nhưng mỗi năm cũng đi chùa mươi lần và ít khi bỏ lễ Giao Thừa trong đêm trừ tịch.
31 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 123596)
T ôi sinh năm 1991 — năm Liên Xô tan rã, người bố quân nhân oai hùng của tôi phải rời quân ngũ vì có người thân vượt biên, hoen ố lí lịch trong sạch mấy đời bần nông của gia đình.
31 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 140973)
(tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang) đ à lạt của một thời mệt nhọc một thời chiến tranh đi qua tuổi trẻ việt nam những đêm thức trắng
31 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 112328)
L ời tác giả : Viết Ký ức Hà Nội, tôi xem như là một sự đối thoại với Hà Nội, ba mươi sáu phố phường của chị Ban Mai. Cái nhìn của tác giả Ban Mai là của một người phương Nam về Hà Nội với nhiều suy nghĩ và ưu tư. Còn tôi, là cái nhìn của một người trẻ đã từng sống và học tập ở đây...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9505)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16400)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15311)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15698)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2049)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2037)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2090)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2435)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4482)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6293)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5594)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6190)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1694)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1893)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2115)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1963)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1763)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1583)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1778)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1755)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12573)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28741)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35275)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35141)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10082)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12104)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1429)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2037)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2435)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2534)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2977)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7188)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6597)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8703)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.