- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TRẦN DẦN TRONG CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH VÌ TỰ DO DÂN CHỦ

20 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 115698)
trandan-content

NHỚ TRẦN DẦN

Ông khóc những người bay không có chân trời
Tôi khóc ông
Nước mắt ta là giọt máu hồng
Nhỏ cùng nhân thế
Nhỏ vào vũ trụ
Vẽ chân trời
Thành trái tim chung

Nguyễn Thanh Giang

Trong buổi tọa đàm về cuốn tiểu thuyết “Những ngã tư và những ngọn đèn” của Trần Dần tổ chức ngày 16 tháng 6 năm 2011 tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội, nhà thơ, dịch giả Dương Tường đã tâm sự: Ở Việt Nam, nếu có một người xứng đáng được nhận giải Nobel thì người đó là Trần Dần. Theo Dương Tường: “Trần Dần là một người khổng lồ, không dưới 30 tập thơ, ba tiểu thuyết, không kể những bản thảo bị mối mọt hay thất lạc … Còn phải nhiều năm nữa người ta mới đánh giá được kho tàng văn học do Trần Dần để lại”. Theo Dương Thụ thì ngoài “Người người lớp lớp” Trần Dần còn có sáu tiểu thuyết nữa.

Nói chung, người ta nghĩ đến giải nobel văn học cho Trần Dần. Tuy nhiên, Trần Dần còn có thể được xét tặng một giải nobel nữa: nobel hòa bình, nobel chính trị. Bài viết này đề xuất vấn đề đó.

Người coi sáng tạo là lẽ sống –

Có thể ghi nhận những vần thơ trích trong trường ca “Hãy đi mãi” sau đây là tuyên ngôn sống của Trần Dần:

 “Tôi chửa có khi nào quên táo bạo
chửa khi nào quên hát
........ quên đau .
Tôi yêu đất mẹ đây ---
....... có cỏ hoa làm chứng
Tôi yêu chủ nghĩa này
....... cờ đỏ cãi cho tôi .
Nhưng
...... chẳng thể rúc kèn củ rích ,
vác loa mồm kêu :
...... "Hiện tại rất thiên đường !"
Không !
Thiên đường chúng ta
....... là nối đuôi nhau
....... vô tận triệu Thiên đường .
Đi mãi
...... chẳng bao giờ thỏa .
Tôi có thể mắc nhiều
...... tội lỗi,
chẳng bao giờ quá ngu đi
....... mắc tội : nằm !
Han rỉ
....... khác gì cái chết ?
Chết con tim chẳng còn dám đau thương .
Chết khối óc
........... chẳng còn dám nghĩ !
Nếu
..... tôi chửa đến ngày thổ huyết
phổi tôi còn xâu xé mãi
.............. lời thơ .
Tôi có thể mặc thây
............. ngàn tiếng chửi tục tằn
trừ tiếng chửi : ---
..........."Sống không sáng tạo !"
………
Tôi vẫn nâng chiếc đầu lâu
............... nặng nề sáng tạo
như
.... nâng một viễn vọng đài

Và trong trường ca “Đây, Việt Bắc”:

“Hãy thù ghét
mọi ao tù
nơi thân ta rữa mục
mọi thói quen nếp-nghĩ mù loà!
Hãy sống như
những con tàu
phải lòng
muôn hải lý
mỗi ngày
bỏ sau lưng
nghìn hải-cảng-mưa-buồn!”

Tư duy sáng tạo đánh vật trong con người Trần Dần làm ông không thể chấp nhận hạnh phúc đương thời: “Thôi đi những hạnh phúc - quần đùi may sẵn! giầy dép - đóng sẵn! Số? Cỡ? Hạnh phúc chẳng mua ở công ti-may mặc-sẵn? những si lip sách chẳng vừa…cóoc sê jáo khoa ca mà thịt hở ” (Sổ thơ kể kệ 1976).
Ông cam đoan: “Chết đi, tôi vẫn mất ngủ” (Sổ bụi 1988), cho nên đã mắng mỏ: “Họ cứ vu oan mặt trời ngủ” (sổ bụi 1986).
Ông nhìn thấy niềm khắc khoải sáng tạo cả nơi con chim rừng Việt Bắc:

“Chính
 chiếc nôi Việt Bắc
 bế bồng ta
qua
 tất cả
 tháng năm đầy lửa
nuôi ta
 nuôi cách mạng lớn khôn
Ta bầu bạn
 củ khoai môn
 nương sắn
Bạn
 con chim mất ngủ
 rừng già…
”

 (Đây Việt Bắc)

Và ông kiêu căng, tự hào, vững tin ở thành quả sáng tạo của mình:

“Anh mới đấm lên trời
dăm quả đấm
bây giờ anh
ngồi
chết
một gian buồng
bốn bức tường
nó giữ chịt người
anh
để giáo dục anh về nhiều chuyện
và chuyện yêu
- là chuyện chúng mình...
Em đọc kỹ
trang thơ này nhé
Em đếm xem
bao chữ
bao vần
cũng tựa bao đêm
em ngắm sao trời
em đã thấy
một vì sao
ngất ngưởng
vì - sao - anh
nó chuyển bến bên trời
đuôi nó cháy - đúng là
vì sao dữ
Anh cho phép
em khóc nhiều
khóc nữa
Em ơi
tình yêu em
không có tuổi bao giờ
mươi thế kỷ
vì sao
anh
vẫn cháy...


(Tình yêu)

Dương Tường từng khẳng định Trần Dần là nhà cách tân thơ số một của Việt Nam. Ông giải thich:

"Suốt một thời gian dài, thơ Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Thơ Mới. Người đầu tiên tạo nên một vết cắt, đưa thơ Việt Nam ra khỏi quỹ đạo đó là nhà thơ Nguyễn Đình Thi. Nhưng Nguyễn Đình Thi không đi hết con đường của mình. Còn Trần Dần, từ những ảnh hưởng của Maiakovski, ông chuyển sang viết Jờ Joạcx, Mùa sạch... với những cuộc tìm kiếm không ngừng đến cái mới. Thơ Trần Dần đầy chuyển động, không bao giờ lặp lại chính mình, nhưng vẫn giữ nguyên cái cốt cách Trần Dần".
Trần Dần từng kêu gọi "Phải chôn Thơ Mới" ...."phải viết khác đi, phải cách tân, phải quên những thành tựu của tiền chiến để sáng tạo nên những thành tựu mới, phải cướp được độc giả của tiền chiến"...

“Tệ” hơn, ông còn đòi “chôn” cả Nguyễn Du: “Với tôi, Du (Nguyễn Du), Hương (Hồ Xuân Hương), Khiêm (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Quát (Cao Bá Quát) hay Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương là thầy. Nhưng học trò phải "chôn" thầy. Thơ nay hầu như vẫn đặt nghĩa. Tôi đặt thơ là chữ. Con chữ nó làm nghĩa. "Mai sau dù có bao giờ" là con chữ "Chữ tài liền với chữ tai một vần" là đặt nghĩa”. Bởi vì, ông tuyên bố: “Tôi đã leo nhiều ngõ cụt cổ điển” (Sổ bụi 1979). Ông đòi hỏi nhà văn phải là: "Kẻ viết? đạp đổ chân trời?xổng xích các chân mây?" (Sổ bụi - 1985).

Bộ sách Trần Dần ghi 1954-1960 gồm ba quyển: quyển một là những suy nghĩ về sáng tạo, quyển hai chụp lại thời kỳ đấu tố với những hình ảnh khủng khiếp kinh hoàng, quyển ba viết về cuộc sống con người trong những năm bị cầm tù.
Trong quyển một, có những dòng sau:

- Người Sáng tạo là đại biểu cho Tương lai. Nên hắn mâu thuẫn rất mạnh với Hiện tại.

- Người Sáng tạo chỉ làm chủ được ở Tương lai. Còn ở Hiện tại, hắn phải chịu như là thua, nhường cho những kẻ tầm thường khác làm chủ.

- Nếu có chịu được búa rìu của thành kiến mới có thể làm người sáng tạo được. Phải có dạ lim trí sắt.

- Phải có gan đứng lên trên dư luận, chửi mắng, mưa bão. Phải biết đạp mưa xéo gió. Phải phá vỡ cái luân-lý-hiện-hành, những nguyên tắc tục lệ hiện nay đang làm chủ. Đó là bỏ cái ba lô của hiện tại, mới có thể xốc tới tương lai.

- Số phận người sáng tạo bao giờ cũng phải chịu hiểu lầm, chịu những sấm sét của cái cũ nó phản công. Vì người sáng tạo là kẻ thù không đợi trời chung của cái cũ. Mà cái cũ nó không chịu chết ngay, nó nhiều kế độc, hại ngầm và hại ra mặt.


Điều kiện tiên quyết để sáng tạo: Tự do -

Năm 1946, chàng trai Trần Dần 20 tuổi đã dắt một bạn gái du ngoạn Huế. Sau 42 năm mưa dập gió vùi, tháng 5 năm 1988 ông mới có dịp trở lại Huế cùng Phùng Quán - người vừa cùng ông được "trở lại" Hội Nhà Văn Việt Nam - Hai nhà thơ ghé thăm Hội Văn Nghệ tỉnh, gặp gỡ gần 100 nghệ sĩ và trí thức đang công tác tại Huế. Trong buổi này, trả lời câu hỏi “Anh quan niệm thế nào về đổi mới hiện nay?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Dần đã nói: “Theo tôi, đổi mới là tạo nên sáng tạo. Phải để cho các thế hệ tự do sáng tạo. Nếu nói Trần-Dần-Giá-Trị, đấy phải là Giá-Trị-Tự-Do”.
 
Tự do với Trần Dần là giá trị, là ý nguyện, là bản thể. Đến nỗi cảm thấy Quả Đất này với ông thật chật chội: “Tôi chẳng phải tù binh quả đất” (Sổ bụi 1979), vì ông nghĩ rằng: “Tôi chôn rau ở tận trời sao. (Sổ thơ 1973).

Trong nhật ký ngày 20/12/54 của Trần Dần người ta đọc được những dòng sau: " Cơ quan văn nghệ chưa có gì thay đổi. Vẫn những tư tưởng: "coi rẻ lao động nghệ thuật", "đơn giản coi văn nghệ bộ đội là bộ đội", không tin văn nghệ". Vẫn những chính sách gò bó, mệnh lệnh và máy móc "quân sự hoá văn nghệ". Đời tôi chìm chết trong chính sách này, cũng như những anh em khác. Khó lắm. Nhưng tôi nghe nhiều tiếng cất lên. Phản đối. Bàn cãi. Mỉa mai. Và cả chửi bới. Cái đó có nghiã là tiếng trống báo tử của những tư tưởng và chính sách áp chế văn nghệ bộ đội. …”.

Đầu tháng 10 năm 1954, Trần Dần được cử đi Trung Quốc 2 tháng để viết bản thuyết minh cho phim “Chiến thắng Điện Biên Phủ”. Phụ trách đoàn là một cán bộ chính trị. Vì ý thức tổ chức, lúc đầu Trần Dần rất phục tùng người cán bộ chính trị khi dự thảo thuyết minh, và hoàn toàn theo sát những vấn đề chính trị sẽ đặt ra khi thuyết minh. Nhưng rồi, khi ông cán bộ công nông lập trường macxit thô bạo “tối hậu quyết định cả từng câu chữ” thì Trần Dần bỏ mặc, nhường cả phần “văn chương” cho đồng chí cán bộ kia. Những dòng nhật ký trên ghi lại sự búc bối sau chuyến đi đó.

Trần Dần phàn nàn: “ Có thể nói ngày nay trong văn chương chúng ta có lắm điều giả tạo (có thể nói đạo đức giả). Văn chương viết theo hình thức, mẫu mực sẵn có, đơn giản hóa và ấu trĩ. Các nhà văn đóng khung sẵn và bắt buộc sự thật phải đi vào khung ấy”.
Ông đòi hỏi: “Trách nhiệm cao cả của nhà văn là tôn trọng chân lý. Đó là tiêu chuẩn cao cả để đánh giá nhà văn và tác phẩm. Tôn trọng chân lý là bổn phận, là trách nhiệm, là căn bản, là phương pháp của nhà văn trong công việc của họ”.

Ông nã súng liên tục vào sự “bóp gò sự thực vào chính sách”:

"... Sự thực lớn gấp triệu triệu lần bất cứ chỉ thị, lý luận nào... Nếu như sự thực ngược lại chính sách chỉ thị, thì phải viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thực vào chính sách. Không bao giờ được biến chính sách, chỉ thị thành định kiến "đinh ninh"... "... Người viết chỉ viết do thôi thúc của thực tế. Những chân lý lớn, nhỏ, anh ta tự giác thấy ở cuộc sống, ở quân đội. Không phải viết để vừa lòng Tuyên huấn, vừa lòng cấp trên. Để có cái danh phục vụ kịp thời. Một triệu lần, không có mùi mè giác ngộ, phục vụ gì cả! Cái áo không thể che được mùi thối trong ruột. Cách mạng không cần những người vỗ tay hoan hô nhắm mắt. Những anh hót ca chính sách. Thậm chí những anh "thày cúng chính sách", leng keng bóp méo, nghèo nàn...”.

Ông ráo riết quảng bá:

“Tôi nghe người ta nói đừng viết cuộc sống telle qu'elle est (cuộc sống như nó đang diễn ra) mà phải viết la vie telle qu'elle doit être! (cuộc sống như nó phải được diễn ra) - Tôi lại hiểu rằng: viết cuộc sống telle qu'elle est tức là viết cuộc sống telle qu'elle doit être.- Tôi hiểu rằng không có gì đẹp hơn, không có gì cao cả hơn, không có gì cộng sản hơn là: Sự Thực không tô điểm, Sự Thực trần truồng. Và cũng không có gì xấu hơn, không có gì yếu ớt hơn, phi cộng sản hơn là Sự Thực tô điểm, Sự Thực mặc áo hồng, áo xanh, áo hoa. Tôi nói rằng, dù áo hoa đó thích hợp, dù sự tô điểm đó là tô theo phương hướng thực của cuộc sống thực, thì cái áo đó và sự tô điểm đó vẫn cứ là không đáng tán thành. Cuộc sống cởi truồng, nó có ý nghĩa như những sự tô điểm và những bộ áo đẹp và lý tưởng nhất. Màu da của cuộc đời toute nue, đó là tất cả các bộ áo của trần gian rồi] (trích những dòng ghi từ 16/9 đến 1/10/54, trang 43-48).

Còn phải thấy rằng, không phải đến dưới ách chuyên chính vô sản con người tự do trong Trần Dần mới thấy ngột ngạt. Trong bài thơ đầu tay viết trước cách mạng Tháng Tám Trần Dần đã thấy “Những ngọn đèn mờ trên phố lạnh”, đã thấy “núi Cô Sơn hờn tuế nguyệt”.

Bài thơ có tên “Hồn xanh kỳ dị”: “Ta từ biển vắng về đây mộng/ Gặp lúc Thăng Long lụi ánh đèn/ Những ngọn đèn mờ trên phố lạnh/ Đời đương yên giấc biết ai tìm?/ Ôi kẻ xa chơi lẻ trúc đình/ Quê nhà ai khóc? Lệ ai xanh?/ Hồn em mây chở về đâu nhỉ?/ Có gặp buồn trong cuộc lữ trình/ Kìa núi Cô Sơn hờn tuế nguyệt/ Kìa vầng trăng héo nẻo ra đi/ Nửa đêm trở giấc trong phòng lạnh/ Chợt thấy hồn xanh đến dị kỳ”.

Và rồi Trần Dần đã cùng Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương thành lập nhóm thơ tượng trưng “Dạ đài” với tuyên ngôn 16-11-1946: “Chúng tôi - một đoàn thất thố - đã đầu thai nhằm lúc sao mờ...Chúng tôi đã sống, sống hết cả những hình thức dương trần, đã đau khổ hết cả những mối sầu vui nhân loại. Thế cho nên chúng tôi - thi sĩ tượng trưng – chúng tôi có nói cũng chỉ là nói cái tâm trạng của thời nhân, của những thời nhân đã có ngày cô độc…”

Tháng 2 năm 1955 Trần Dần viết bản “Đề nghị Chính sách Văn nghệ”. Với sự góp ý của Tử Phác, Đỗ Nhuận, Hoàng Cầm, Trúc Lâm, Hoàng Tích Linh.
Bản Đề nghị dài 12 trang đánh máy nêu các yêu cầu tự do sáng tác, trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ, thủ tiêu hệ thống chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội, sửa đổi chính sách văn nghệ trong quân đội ….
Ban đầu đã có nhiều ý kiến thuận. Một vài cán bộ cao cấp trong quân đội như Lê Liêm, Lê Quang Đạo, Trần Độ đã ủng hộ nhưng ông tướng Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - bỗng vung đại đao sát thủ: “Tinh thần bản đề nghị này chính là một thứ tư tưởng tự do của tư sản. Nó chứng tỏ tư tưởng tư sản đã bắt đầu tấn công vào các đồng chí!”.
Thế là Trần Dần đành xin xuất ngũ, xin bỏ Đảng để được đạp qua những quy định của sự kỳ thị độc ác về thành phần giai cấp, về lý lịch gia đình, để sống chết với tự do ái tình, để cứ thế mà xăm xăm yêu và sống với Bùi thị Ngọc Khuê, một người con gái con nhà tư sản. … Hơn thế nữa, còn đi đạo. “Tệ hại hơn”, còn bỏ thiên đường XHCN, theo địch vào Nam.
… Thế là, ông kêu gọi dấn thân vươn tới tự do dù quằn quại xót đau:
"Đừng ngại mây che từng cây số buồn rầu!
Đừng ngại mở trong lòng vài khung cửa nhớ...

Thì hãy lấy mùi soa đêm chùi đôi mắt khổ
Hơn là mỏi răng nhai ràu rạu vỉa hè"
...
… Thế là, ông vật vã hành xác, sám hối cùng tự do:
“Tôi vẫn thế! Vết nhăn bổ dọc trán…
Tôi có gì đau?
Đau có vì gì?
Ai bảo tôi cách nào thoát khỏi chấn song tôi?....
Lậy tất cả! Tha cho tôi
Cả những lỗi tôi làm
Cả những lỗi người khác phạm
Tha cho tôi. Tôi không đánh vỡ gì cả
Tôi chỉ đánh vỡ của mọi người một mảnh sống: đời tôi”

 (Đường Cùng - Tập thơ Cổng Tỉnh)
Trong cơn vật vã, ông nhìn thấy
“Ai mửa sao đêm
đầy các ngõ
để hầm hập bồ hôi
cơn sốt phố về đêm?
”
 (1959)
Và, xin hãy đọc lại bài thơ “ Nhất định thắng”. Ở đấy đâu chỉ có cái điệp khúc than thở: Bước đi không thấy phố, không thấy nhà mà là lời kêu gọi thiết tha xả thân đấu tranh không chỉ cho Thống nhất, Độc lập mà là Dân chủ. Dân chủ với Tự do. Dân chủ để được Tự do.
“..... thành phố
..... thôn quê
Đói no lành rách
Người đang vui
Người sống đang buồn
Tất cả !
.... Ra đường !
Đi !
.... hàng đoàn
.... hàng đoàn
Đòi lấy tương lai :
HÒA BÌNH
.... THỐNG NHẤT
.............. ĐỘC LẬP
........................DÂN CHỦ
Đó là tim
.... là máu đời mình
Là cơm áo ! Là ái tình
Nhất định thắng”
.

Mục tiêu cao cả và thiêng liêng như vậy nhưng năm 1956 khi bài thơ “Nhất định thắng” in trong “Giai Phẩm” thì Trần Dần đang bị giam ở Việt Bắc.Tờ tạp chí bị tịch thu ngaỵ Trần Dần bị gọi về, mang ra đấu tố giữa một cuộc hội nghị gồm đông đủ các văn nghệ sĩ. Ông bị quy rằng trong các bài thơ của mình đã dùng chữ "Người" viết hoa để ám chỉ, đả kích cụ Hồ. Trại giam Việt Bắc, do vậy, với ông, vẫn được xem là thoáng đãng quá, tự do quá, người ta phải tống ông vào nhà pha Hỏa Lò ở Hà Nội cho hả cơn. Uất ức quá, Trần Dần dùng lưỡi dao cạo cứa cổ, nhưng không chết. Trong bức ký họa của Nguyễn Sáng, cái sẹo ở cổ Trần Dần được đặc tả rất rõ.

Không phải chỉ ”quyết Thơ phải khua gió bão” –

Có người nói Trần Dần “chết” vì tự do vô kỷ luật. Quả có vậy. Không “chết” sao được khi một anh bộ đội cụ Hồ mà dám xông tới tỏ tình mãnh liệt đến mức nữ chiến sỹ đồng đội hoảng hồn bỏ chạy.
Có người bảo Trần Dần “chết” vì ngông nghênh quá. Không sai. Với một nhà thơ được tôn vinh là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, đang trên đường trở thành ứng cử viên Tổng Bí thư ĐCSVN mà sao Trần Dần dám hạ bút phê:
"Nói chung thơ Tố Hữu có rất nhiều cái lười biếng. "Ý lời tầm thường (...), rất nhiều cái kiểu "lòng ta xao xuyến, rung rinh", - "chúng bay chỉ một đường ra, một là tiêu diệt hai là tù binh", - hoặc "đời vẫn ca vang núi đèo", hoặc "Cụ Hồ sáng soi". Không phải là thiên lệch trích ra một số câu như vậy, hãy đọc lại cả tập Việt Bắc xem, ta thấy nhan nhản những lối lười, nhạt, cả lảm nhảm nữa (...) Phá đường: "Nhà neo việc bận vẫn đi" - làm thì thi đua -, thi đua kết quả thì rồi mai địch chết. Ta đi tới: đủ cả Bắc Nam, Việt, Miên, Lào, Itsala, Itsarắc... xem ra thì có vẻ đúng chính trị. Nhưng xét sâu xem? (...) Tố Hữu nhìn sự vật nó chính trị công thức quá, lười tìm tòi quá. Chỗ nào hay thì là lập lại Nguyễn Du, Tản Đà. ca dao... Tố Hữu chưa đem tới một cái nhìn mới mẻ gì. (Trần Dần ghi, trang 141).
Nếu “chết” vì như vậy thì thật oan và tội nghiệp cho Trần Dần. Ông không ngông nghênh, không kèn cựa, không kỳ thị Tố Hữu. Hãy nghe ông tâm sự trong buổi họp mặt năm 1992 cùng hơn trăm đồng nghiệp và bạn đọc tại Huế:
“Tôi với anh Phùng Quán còn thân hơn anh em. Nhưng thơ anh Phùng Quán là thơ quảng trường. Cũng như anh Hoàng Cầm, anh Phùng Quán đọc thơ rất lôi hút người nghe. Tôi lại không thích thơ để đọc (cho nhau nghe). Tôi nghĩ cái tai ngu hơn cái mắt. Trần Dần thì con mắt chạy vào trong, nhưng thơ thì mỗi người mỗi kiểu.. Có kiểu bầy thơ, thơ triển lãm. Tôi làm thơ mini ….”

Nào phải ông chỉ chê người khác, ông chê cả chính mình:
"Tôi vừa viết xong cuốn Người người lớp lớp. Viết về chiến tranh ở Điện Biên Phủ đấy. Nhưng mà tôi chán rồi. Tại vì rằng tôi ít thấy sự thực của chiến tranh trong đó quá. Và vì rằng tôi ít thấy sự thực của bản thân tôi trong đó quá. Chưa phải là chiến tranh, chưa phải là tôi. Cho nên tôi viết tới hơn 300 trang mà không thích bằng một bài thơ tôi cũng mới làm về chiến tranh: "Anh đã thấy" (mes douleurs) trên dưới có 6 trang!" (Trần Dần ghi, trang 47).
Ở Trần Dần ta gặp lại quan niệm phê phán rất trong sáng của Nietzsche: "Phê phán không phải là phản ứng của sự phẫn hận mà là biểu hiện tích cực của một lối sống tích cực: tấn công nhưng không trả thù", “Phê phán là sự phá hủy trong tư cách là niềm vui, là sự xâm hấn của kẻ sáng tạo”. Trần Dần từng nói: “Nói tóm tắt: tôi ghét những lối tạo hình ảnh dễ dãi, tầm thường, hủ lậu. Đó là đặc tính của những người và những giai cấp sắp chết
”.

Cho nên, chính Tố Hữu đã nói rất đúng về lý do “chết” của Trần Dần: “Hành động của bọn Nhân Văn không phải là câu chuyện văn nghệ đơn thuần mà là cả một âm mưu chính trị” (*)
Quả vậy, chính Trần Dần thú tội đam mê chính trị:

“Tôi vẫn quyết Thơ phải khua bão gió
Nhưng hôm nay
....tôi bỗng cúi đầu
Thơ nó đi đâu ?
....Sao những vần thơ
Chúng không chuyển, không xoay trời đất ?
Sao chúng không chắp được cõi bờ ?
Non nước sụt sùi mưa
Tôi muốn bỏ thơ
... làm việc khác
Nhưng hôm nay tôi mê mải giữa trời mưa
Chút tài mọn
... tôi làm thơ chính trị
”
Làm thơ chính trị, lại làm văn chính trị nữa, như chính Trần Dần đã thú nhận:
“Còn sáng tác tôi chỉ xin đơn cử vài ví dụ:
•  “Nói thật” (thơ) cho rằng cán bộ ta không dám nói thực với Đảng, nên mới xẩy ra như Cải cách ruộng đất, và công thức trong xã hội.
• “Nhân văn làm lớn mọi con người” (thơ) nhân để hoan nghênh Đại hội lần thứ hai mươi để chửi cán bộ ta là không dám suy nghĩ, là chỉ suy nghĩ bằng cấp trên. Chỉ có tôi (và báo Nhân văn) là có óc suy nghĩ đối lập, không giao cho bất cứ ai suy nghĩ hộ mình!
• “Một bài thơ chưa có đề”. Tôi đánh “Những nhà thơ ti tỉ đờn bầu” (ám chỉ trường thơ Tố Hữu). Cho là xoàng cả. Chỉ có tôi là nhà thơ “Vận tải trên mọi mặt trận của quần chúng hàng tấn cả gan”. Tự xưng hùng xưng bá trong thơ ca như vậy.
• “Chú bé làm văn” (truyện) nhà chú khổ nhưng chú phải làm một bài văn “Tả cảnh gia đình êm ấm của anh trong một buổi tối”. Thế là chú bé nói giối suốt bài văn. Mục đích bài này là để vu cáo cho ta giáo dục mọi người nói dối từ thuở bé, cho rằng sự giáo dục của ta, là chỗ dựa, là cơ sở của nạn bôi hồng trong văn nghệ.
• “Mâu thuẫn với cả nước” Tả một anh nhạc sĩ bất tài, chỉ có tài sử dụng lập trường (ám chỉ Lương Ngọc Trác) nên được trên tin cậy. Còn anh nhạc sĩ khác có tài, mâu thuẫn với anh nhạc sĩ kia, thì lại bị kiểm thảo, đâm ra mắc lỗi “mâu thuẫn với cả nước”. Bài này đánh và xuyên tạc chính sách đối với cán bộ văn nghệ của Đảng.
• Vân vân… như “Cái đầu trọc”, “Mẹ sự đời”… đều là cái loại đả kích vào các chính sách của Đảng cả. Nếu đọc cả một đống như thế người ta sẽ cảm thấy sự lãnh đạo của Đảng là một sự ngột ngạt, không thể nào sống nổi.
Đi đôi với những sáng tác như thế tôi phát ra những luận điệu bênh che cho nó. Chẳng hạn sáng tác phải phát hiện mâu thuẫn xã hội; người sáng tác phải có quyền và có gan như nhà viết sử thời xưa, vua chém đi hàng sáu người, đến người thứ bảy vẫn chép sử đúng như sự thật, vua đành phải chịu vậy. Hoặc nói người sáng tác phải đi đầu, bây giờ là phải đứng ở mũi nhọn đấu tranh với chủ nghĩa Staline… Toàn là những luận điệu phỉnh nịnh và hô hào người ta đi vào con đường chống Đảng” 
(**).

Không chỉ làm thơ, làm văn, dịch thuật cũng với ý đồ chính trị:

“Không những chỉ trong sáng tác, ngay trong việc dịch tôi cũng vẫn nhằm quan liêu mà đánh; Ví dụ dịch Bretch Cái mặt nạ hoặc Những người ở trên không ở đó mãi đâu. Hoặc đánh vào lãnh đạo văn nghệ, dịch Gorki, Tchékov cho người ta thấy sự lãnh đạo của mình gò bó ngòi bút. Dịch Le portrait của Gogol để nói một điểm: Vẽ cho bọn quý tộc là con đường tiêu ma nghệ thuật. Hoặc góp thêm vào cái ảm đạm của tình hình, tôi dịch Crime et Châtimentcủa Đốt, tôi nghĩ xã hội này thì hoặc là cười (tiếu lâm) hoặc là khóc mà phản đối nó mà thôi! Vân vân…”. (**)

Không chỉ “làm thơ chính trị”, làm văn chính trị, làm dịch thuật chính trị, ông còn hiệu triệu chính trị:

"... Ngày nay, trong văn chương, kẻ thù ghê tởm là chủ nghiã công thức, giản đơn sơ lược. Phải nói trắng ra là nó ở cả người viết, ở cả xã hội... Cho nên chống công thức giản đơn sơ lược không phải là chỉ làm ở người viết mà được đâu. Nó phải là một mặt trận lan ra cả xã hội...”.
Không chỉ hiệu triệu, ông còn cần cù làm tổ chức để thực hiện tư tưởng cách mạng của mình.
Có thể xem Trần Dần là mảnh sót của nhóm Dada. Nhóm Dada hoạt động chỉ trong bốn năm 1916-1920, nhưng nguồn sinh lực “hậu hiện đại” trong văn học Việt Nam còn để lại dư hưởng trong “Xuân Thu nhã tập”, “Thi sĩ Tượng trưng” mà hiện thân xuất sắc là Trần Dần ở Hà Nội, Thanh Tâm Tuyền ở Sài Gòn.
Cầm tấm bằng tú tài Triết, khi Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Trần Dần trở về quê hương Nam Định tham gia công tác thông tin tuyên truyền ở huyện Vụ Bản rồi làm việc ở Sở Tuyên truyền Khu IV.

Năm 1948, khi tham gia Vệ quốc quân, ở Ban Chính trị Trung đoàn 148 Sơn La (nay thuộc Sư đoàn 316), ông đã cùng Trần Thư, Hoài Niệm tham gia sáng lập nhóm văn nghệ quân đội đầu tiên - Nhóm Sông Đà.
Tham gia Nhân Văn Giai phẩm, ông thú thật đã đi tiên phong xét lại chủ nghĩa Mác:
“Chúng tôi đi sâu vào kiểm điểm sáng tác hơn nữa. Kiểm điểm sáng tác cho sâu mới thật là khó sao! Cứ như phải rứt bỏ một mảng thịt của mình …. Tôi chịu cái hình phạt ấy, nhẫn nại và đau khổ. Hình phạt của một người bị bung dừ ... Tôi vừa là một tội nhân, vừa phải cố tách mình ra, làm một đao phủ thủ, hành hạ cái chủ nghĩa xét lại có thực trong tôi và đám Nhân Văn." (Trần Dần ghi trang 244).

“Sau “Nhân văn” tôi xin ra bộ đội … nhìn phe ta, Đảng ta như là Stalinisme, và coi việc sáng tác là để đả kích vào đó”. (**)
Theo báo Nhân Dân, hiện tượng ly khai ĐCSVN của Trần Dần đã dấy lên một phong trào cuốn theo ông, bỏ Đảng.
Và ngày nay, phải chăng trong các cuộc biểu tình ta còn nghe vang vọng lời giục giã của Trần Dần:
“Nhưng sự kiện thế giới trong nước ngấu trong tôi. Nhiều lúc tôi cũng mong có những cuộc biểu tình, chủ yếu là văn nghệ, sinh viên và trí thức, thật có trật tự không đổ máu, để mà yêu sách Trung ương cải tổ chính sách nới rộng dân chủ!” (*)

Như để thanh minh cho Trần Dần Goerge Boudarel từng viết: “Năm 1943, anh có quan hệ với nhà xuất bản Hàn Thuyên in sách Macxit có khuynh hướng Trốtkít (của Trương Tửu dưới bút danh Nguyễn Bách Khoa, Lương Đức Thiệp) hoặc những cuốn sách tựu cho là thuộc Đệ Tam Quốc tế. Liệu có thể suy ra đó dà Trần Dần có tham gia chính trị? Xét bối cảnh thì thấy xu hướng câu trả lời là chữ “không” ”.

Tôi không đồng ý với G. Boudarel, Trần Dần là người có ước nguyện chính trị từ trong huyết quản. Ông đã làm chính trị vương đạo, đã dấn thân quả cảm, đã hy sinh oanh liệt và rất vinh quang vì làm chính trị.

Tôi cũng không đồng ý với việc sửa mấy câu thơ của Trần Dần: "Tôi yêu đất nước này có cỏ cây làm chứng / Tôi yêu chủ nghĩa này cờ đỏ cãi cho tôi", thành ra: "Tôi yêu đất mẹ này có cỏ hoa làm chứng / Tôi yêu đại nghĩa này nhật nguyệt cãi cho tôi".

Chắc chắn Trần Dần, cũng như chúng ta, đã từng yêu cái chủ nghĩa dương cao lá cờ đỏ búa liềm. Nhưng đúng như Bí thư đảng CS Nam Tư Milovan Djilas đã nói: "20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim, 40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu".

Trần Dần, cũng như Trần Độ theo Cộng sản để “Những mong xóa ác ở trên đời” nhưng khi thấy nó quay lại tước đoạt tự do của con người, của sáng tạo thì phải làm chính trị để chống nó.

Viễn kiến Trần Dần –

Sau 1954, trước hiện tượng từng dòng người bỏ Miền Bắc di cư vào Nam, báo chí của Đảng lên án họ là những phần tử phản động theo địch phản bội tổ quốc, là bị lừa gạt theo Chúa, là ngại khó ngại khổ bỏ quê đi tìm bơ thừa sữa cặn của tư bản, đế quốc …. nhưng Trần Dần thì đã nhìn thấy cái nguyên nhân sâu xa tự bên trong.
“Tôi muốn khóc giữ từng em bé
Bỏ tôi ư? -- từng vạt áo -- Gót chân
Tôi muốn kêu lên -- những tiếng cọc cằn ...
- Không ! Hãy ở lại !
Mảnh đất ta hôm nay dù tối
Cũng còn hơn
.... non bồng Mỹ triệu lần ...
Mảnh đất dễ mà quên?
Hỡi bạn đi Nam
Thiếu gì ư? Sao chẳng nói thực thà?
Chỉ là :
- thiếu quả tim, bộ óc !
Những lời nói sắp thành nói cục
Nhưng bỗng dưng tôi chỉ khóc mà thôi
Tôi nức nở giữa trời mưa bão .
Họ vẫn ra đ
i” .
 (Nhất định thắng)

Cái nguyên nhân sâu xa ấy càng được chứng thực, càng hiển hiện qua đợt di cư ào ạt hơn sau thống nhất đất nước 1975.
Đánh thắng đế quốc Mỹ. tổng bí thư Lê Duẩn huyênh hoang tuyên bố: Đất nước từ nay vĩnh viễn sạch bóng quân thù. Nhưng Trần Dần tiên đóan:
“Mỗi bước đi lại một bước trưởng thành
Thắng được Chiến tranh
... Giữ được Hòa Bình
Giặc cũ chết --- lại lo giặc mới
Đoàn quân ấy kẻ thù sợ hãi
Chưa bao giờ mất bụng dân yêu
Dân ta ơi ! Chiêm nghiệm đã nhiều
Ai có Lý ? và ai có Lực ?
Tôi biết rõ đoàn quân sung sức ấy
Biết nhân dân
... Biết Tổ quốc Việt Nam này
Những con người từ ức triệu năm nay
.... Không biết nhục
........ Không biết thua
.............. Không biết sợ !
”
 (Nhất định thắng)

Quả nhiên, năm 1979 Đặng Tiểu Bình đã dạy cho Lê Duẩn một bài học, và ngày nay rõ rang ai cũng thấy: “ Giặc cũ chết … lại lo giặc mới”. Chúng đang trắng trợn xâm lăng Biển Đông. Bọn giặc mới này còn đáng lo hơn, đáng ghê tởm hơn, đáng khinh bỉ hơn bất kỳ bọn giặc cũ nào.
Cho nên ngay từ chuyến đi làm thuyết minh cho bộ phim “Điện Biên phủ”, được tiếp xúc với nền văn hóa và xã hội Trung Quốc, trở về ông đã nói lên dự cảm này: "Chớ nên theo đường lối văn nghệ của Trung Quốc".
Trần Dần đã vạch rất đúng nhiều nguyên nhân sâu xa tự bên trong của các sự kiện trong và ngoài nước:

“Hồi ấy mọi chính sách và nhận định về thời sự của Đảng ý kiến của tôi đều đối lập. Ví dụ: Cải cách ruộng đất ruộng đất theo tôi không thể gọi là thắng lợi căn bản. Vấn đề Hung-ga-ri, tuy công nhận địch là nguyên nhân trực tiếp, song tôi nhấn mạnh đến nguyên nhân sâu xa là tập đoàn Racôxi. Vấn đề tự do và chuyên chính, tôi nói: Ta thừa chuyên chính bố láo rồi, chỉ thiếu tự do thôi. Nhất là trong địa hạt văn nghệ thì không thể nào dùng biện pháp hành chính được”. (**)

Tổng bí thư Lê Duẩn không chỉ huênh hoang tuyên bố vĩnh viễn sạch bóng quân thù mà còn hợm hĩnh cho rằng đã lãnh đạo đánh thắng được đế quốc trùm sò thì sẽ lãnh đạo làm cái gì cũng được. Nhưng ngay trong “Trần Dần ghi” khi chiến tranh vùa kết thúc, Trần Dần đã tiên liệu và nhắc nhở:

“Cho nên bạn nói Chiến tranh là rèn luyện;- bạn cần nghĩ thêm Hoà Bình cũng rèn luyện, mà còn rèn luyện hơn là chiến tranh nữa”
“Chiến tranh rèn luyện. Chúng ta được nhiều điều. Nhưng [...] tôi nói nó là bộ xương. Chiến tranh làm chúng ta rắn xương rắn thịt, làm cho tâm hồn chúng ta có hình cốt, có cái khung rất tốt rất bền. Nhung bạn đừng lầm bảo rằng bộ xương đó là người, hình cốt và cái khung là tâm hồn rồi đó. Nói vậy là một sự dối trá”
“Hoà Bình rồi, người ta mới có thể biết trong chiến tranh người ta đã mất mát và thu hoạch được những gì. [...] Tôi nói rằng chúng ta mất nhiều hơn. Tại vì tôi nghĩ tới chiến tranh và tội ác của nó. Và tại vì tôi so sánh những cái thu hoạch 9 năm chiến tranh vừa qua với những cái thu hoạch lớn hơn gấp bội nếu 9 năm qua là 9 năm kiến thiết Hoà Bình. [...] Vì thế tôi muốn viết nhiều, muốn viết những cái tôi chưa dám viết. Và tôi muốn viết không có kiểm duyệt”
.

Cho nên sau chiến tranh Trần Dần càng háo hức sống, để được sáng tạo cật lực hơn, để được bù đắp những gì ông chưa tọai nguyện.

Hãy đọc đoạn thư ông gửi lãnh đạo sau kết thúc chiến tranh năm 1975:

“Rồi đám cháy tắt. Đất nước dập tắt cái đám cháy ngoại xâm ấy. Mỹ cút...Tôi hy vọng...vấn đề cuộc đời tôi lại đặt ra, ít nhất cũng với tôi, vợ con, gia đình, ở ngưỡng cửa của Đất nước chiến thắng...Tôi vẫn hy vọng. tôi còn ít nhiều năm tháng. Còn một phần đời. Một phần đời, một ngày cũng đáng sống. Dù một buổi chiều. Nhất là trong khi ngày ấy, buổi chiều ấy, phần đời ấy dù là bé bỏng nhưng nằm ở ngưỡng cửa Khải hoàn môn. Tôi hy vọng. Tôi còn một phần đời. Để sống nó. Để làm việc.Con cái. Sự gây dựng. Sự chuộc lại...Tôi xin sự giúp đỡ. Sự rộng lượng. Ở các anh. Ở tổ chức”.

… Và những dòng thơ bi tráng này:

“Dù bị vứt bên lề đường
Dù bị tàn tật
Ta vẫn khăng khăng yêu Tổ quốc thật lòng
Dù manh tải đùm thân
Bị gậy bơ vơ trời không che đất không chở
Dù đêm nghe gió quét gậm cầu
Chỉ vài ánh sao lu làm củi lửa
Ta vẫn khăng khăng yêu Tổ quốc thật lòng
Dù chỉ còn một bên tai
Tai sẽ đón tiếng chim ru
Còn một bên tay - tay sẽ quờ quào
Vục một chút màu xanh quê cũ
Cho đôi môi khô uống một hụm trời
”
 (Hy vọng)

Cảm phục biết bao nhiêu! Thương xót biết bao nhiêu! Phẫn hận biết bao nhiêu!

Di sản lớn của Trần Dần -

Nhờ lao động cật lực, lao động có năng suất, Trần Dần đã để lại cho đời một kho tác phẩm đồ sộ. Ngoài “Về nẻo thanh tuyền” (Dạ đài) 1946. Phạm Thị Hoài trong bài “Trần Dần: cuộc đời, tác phẩm, thời đại” (in trongTrần Dần ghi) đã điểm danh những tác phẩm sau đây:

1954: Anh đã thấy, Tiếng trống tương lai (trường ca).
1955: Cách mạng tháng Tám, Nhất định thắng (bản Hoàng Văn Chí, in lại trong Trần Dần thơ, nxb Nhã Nam Đà Nẵng, 2007)
1957: Hãy đi mãi, Đi! Bài thơ Việt Bắc (trường ca), (nxb Hội Nhà Văn 1991)
1959: Sắc lệnh 59 (thơ), Con tàu xã hội (thơ), 17 tình ca (thơ).
1959-1960: Cổng tỉnh (thơ), (nxb Hội Nhà Văn 1994)
1961: Đêm núm sen (tiểu thuyết)
1963: Jờ Joạc (thơ) (in trong Trần Dần thơ, 2007)
1964: Mùa sạch (nxb Văn học 1997), Những ngã tư và những cột đèn (tiểu thuyết)
1965: Một ngày Cẩm Phả (tiểu thuyết)
1967: Con trắng (thơ văn xuôi, in trong Trần Dần thơ, 2007)
1968:177 cảnh (hùng ca lụa)
1974: Động đất tâm thần (nhật ký thơ)
1978: Thơ không lời - Mây không lời (thơ - hoạ)
1979: Bộ ba: Thiên Thanh - 77- Ngày ngày
1980: Bộ ba: 36 - Thở dài - Tư Mã dâng sao.
1987: Thơ Mini. (in trong Trần Dần thơ, 2007).

Đấy mới kể về số lượng. Mà chỉ là phần nổi của số lượng. Nhà thơ Dương Tường cho biết: “Tôi nhớ khi đám tang anh Trần Dần xong, tôi soạn lại di cảo của anh. Bề bộn. Một mình tôi làm vài ngày đầu không xuể. May quá nhờ được Phạm Thị Hoài vốn học ở Đức, khoa Thư viện, tôi gọi đến soạn cùng. Thưa với các anh chị và các bạn là hơn 200 hồ sơ di cảo còn nằm đấy. Còn nhiều thứ ở Trần Dần mà chúng ta chưa biết lắm. Thơ thì còn Tư Mã dâng sao, 177 cảnh Jờ Joạcx, rồi 36 thở dài… Tiểu thuyết còn Đêm núm sen, Một ngày Cẩm Phả, Những ngã tư và những cột đèn… Đúng là phần chìm của núi băng”.

Song le, còn một phần chìm thiêng liêng nữa, phần chìm tinh túy nữa, phần chìm nằm trong chất lượng tác phẩm, trong lõi cứng của sáng tạo.

Nhà thơ Nguyễn Duy suy tôn: “Nếu đời viết của đa số người cầm bút là công cuộc tìm tòi, gom nhặt, sàng lọc chữ nghĩa, thì Trần Dần là người chế tạo ra hệ ngôn ngữ mới”. “Trần Dần lặng lẽ mài giũa ngôn ngữ, là tấm gương, là người thầy của tôi”.

Nhà lý luận văn học Phạm Xuân Nguyên: “…những con chữ Trần Dần sẽ khuấy động, khuấy đảo tâm cảm mỗi người đọc và gây ra những phản ứng thơ mạnh mẽ có thể khiến bàng hoàng trước một khối năng lượng sáng tạo cực mạnh, cực lớn từ gần nửa thế kỷ trước soi chiếu và phóng nổ vào hôm nay” (***) 
 
Phó giáo sư, tiến sĩ Trần Ngọc Vương: “Sáng tạo đích thực bao giờ cũng cô đơn và không được chia sẻ. Một sự sáng tạo được mọi người tung hô ngay thì chắc chắn sau đấy sẽ bị quên rất nhanh. Chúng ta ngồi đây, ít nhiều đều là độc giả có chuyên môn, nhưng liệu chúng ta có đủ tinh để cảm nhận và hiểu biết những gì Trần Dần viết cách đây 3-4-5 chục năm về trước? Không có chuyện tất cả đọc và hiểu đúng Trần Dần ngay được. Tập thơ vừa rồi tôi đã mang về đọc một cách cẩn thận, nhưng cũng có những chỗ bị bần thần, không hiểu nguyên ý tác giả thế nào. Nhiều chỗ tôi không hiểu và tôi kính cẩn sự không hiểu ấy. Bởi ít nhất người ta cũng làm cho một đầu óc không đến nỗi mít đặc như mình không hiểu được, mà còn phải tìm để hiểu cho ra được lâu lâu nữa. Thế là sáng tạo, thế là cái gì đó mới”

Nhà bình luận văn chương xuất sắc Thụy Khuê: “Trần Dần thơ, ngoài những tác phẩm tạm gọi là classique đã in như Bài thơ Việt Bắc và Cổng Tỉnh, còn có những tác phẩm mới hơn. Những thử nghiệm thơ độc âm Mùa sạch, biến tấu âm con OEE, và thơ bè Con I, còn nhiều cường điệu và nệ hình thức, hoặc lập dị như Jờ Joạcx. Ngược lại, với Sổ bụi và thơ Mini, Trần Dần thực sự đã thành công, hai tác phẩm này xác định tinh thần cách tân thơ của Trần Dần, khác với Đặng Đình Hưng và Lê Đạt. Vậy lần công bố này, tầm quan trọng và sự độc đáo nằm trong Sổ bụi, và thơ Mini. Sổ bụi, tập hợp lối ghi chép đặc biệt Trần Dần: đó là những bài thơ văn xuôi cô đọng, mới, đầy biến ảnh, thể hiện cái mỹ học khổ đau của ông một cách toàn diện. Thơ Mini, là những triết luận thu gọn đến cạn kiệt. Một Trần Dần đi từ thực tại thi nhân để đến với tâm linh hiền triết”.

Giáo sư Phong Lê, "Trần Dần vẫn cứ là một ẩn số đối với lớp người đọc như tôi, muốn biết nhiều hơn về sức sáng tạo của ông, nói đúng hơn về một khát vọng sáng tạo không ngớt hành hạ ông, đến là quyết liệt và dai dẳng. Dai dẳng cho đến ngày ông qua đời ở nhà riêng số 5 phố Vũ Hữu Lợi...” …..

Di sản Trần Dần không chỉ có tác phẩm văn học, ông còn để lại cho đời một tấm gương, một tấm gương lớn về nhân cách, nhân phẩm, về ý chí. Trong nỗi nhớ Việt Bắc của Tố Hữu ta chỉ thấy chủ yếu những “Trung ương Chính phủ luận bàn việc công”, những ”Người đi rừng núi trông theo bóng người”, nỗi nhớ trong Trần Dần mới thật sâu đậm nghĩa tình, thật da diết:
 “Ở đây
ta mắc nợ
núi rừng.
Một món nợ
khó bề trang trải.
Việt Bắc
cho ta vay
địa thế!
Vay từ
bó củi
nắm tên.
Vay từ
những hang sâu
núi hiểm.
Cả
trám bùi
măng đắng
đã nuôi ta.
Ta mắc nợ
những rừng sim bát ngát.
Nợ
bản mường heo hút
chiều sương.
Nợ củ khoai môn
nợ chim muông
nương rẫy.
Nợ
tre vầu
bưng bít
rừng sâu.
Nợ con suối
dù trong
dù đục,
Nợ
những người
đã ngã
không tên!
Ôi
thế kỉ muôn quên ngàn nhớ!
Nợ này
đâu dễ trả
mà quên!
Đi!
Tất cả!
Dù quen tay vỗ nợ,
cũng chớ bao giờ
vỗ nợ
nhân dân!”

 (Bài thơ Việt Bắc)

Ôi, nếu ta biết nhớ bằng nỗi nhớ Trần Dần thì ngày nay cách biệt giầu nghèo đâu đến nỗi lớn như thế này. Đâu đến nỗi hùa nhau mua quan bán chức đê tiện đến thế này. Đâu đến nỗi tham nhũng tàn bạo đến thế này …!

Trần Dần vốn là người có tinh thần phản kháng hơi quá mạnh mẽ, mạnh mẽ đến mức như thiền sư Quảng Nghiêm:

Nam nhi tự hữu xung thiên chí
Hữu hướng Như lai hành xử hành

(Thanh niên tụ nó có cái chí hướng tung thẳng trời xanh.
 Há có phải đi theo con đường mòn của Đức Phật).

Lời lẽ ông đôi khi dữ dằn như là ác khẩu:

“Yêu là chết: hai điều đó đã hòa hợp với nhau từ ngàn năm nay. Muốn yêu chính là sẵn sàng để chết. Tôi nói với các bạn như vậy đó, hỡi những người khiếp nhược”
"Tôi thích những cuộc đối thoại với nhau như tra tấn. Đọc là tra tấn có một chiều. Đối thoại là tra tấn lẫn nhau."
“Thơ là mạng sống, là lý lịch thực của đời tôi
”….
Trách làm chi cái sự đại ngôn ngay từ “Bản Tuyên ngôn Tượng trưng”, khi Trần Dần chưa đầy 20 tuổi:
“Thế cho nên chúng tôi – Thi sĩ Tượng trưng – chúng tôi đón về đây tất cả những thế giới quay cuồng, chúng tôi sẽ bắt một vầng trăng phải lặn, một ánh sao phải mờ đi ……và một bài thơ phải vô cùng linh động”

Song le, bao quát hơn cả, bản chất hơn cả, ta vẫn thấy ông là người có một niềm tin vừa đáng kính nể, vừa đáng cảm thương. Nièm tin vừa sắt đá, vừa ngây thơ, vừa sáng suốt, vừa dại khờ …

Mấy lần rồi nhưng cứ đọc lai đọan văn sau đây trong bài “Con người Trần Dần” của Hoàng Cầm tôi vẫn không cầm được nước mắt:
“…….Lần đầu tiên tôi vào thăm anh, với một món quà nhỏ: Một túm nhãn tôi mua ngoài phố. Anh vồ lấy ăn ngấu nghiến rồi cười oang oang: “Thi đua với các cậu làm thơ nhé!”.
Thấy tôi rơm rớm nước mắt, anh bỗng hạ thấp giọng:
“Đừng buồn cho mình. Mình cũng nhiều khuyết điểm lắm: có tự kiêu, có nóng nảy, có tự do vô kỷ luật thật. Nhưng không bao giờ không trung thành với Đảng, dù bị mắc tiếng oan, dù bị kỷ luật. Và mình tin những cái độc đoán của một vài cá nhân rồi đây sẽ không còn nữa. Đảng là một khối sáng suốt. Tương lai chúng mình, Đảng sẽ đảm bảo, dù bây giờ Đảng có thể chưa hiểu mình.”
……..Mùng hai Tết, tôi ăn bữa cơm cuối cùng với Trần Dần. Giữa hai tợp rượu, đã thấy những cơn bão đe doạ, mà lần này chắc ghê hơn lần trước. Chị K. không biết gì vẫn vui vẻ ngồi bóc bánh, rồi xếp dọn ba lô cho chồng để anh ăn xong thì lại đi công tác.
Không khí văn nghệ như sắp sửa có trận bão. Không biết từ đâu cái tin “Trần Dần phản động” “Trong Giai phẩm có mấy tên phản động” bỗng truyền ra rất nhanh. Những tin không hay dồn đến, bổ vây tôi và anh Trần Dần còn đang ăn dở miếng bánh chưng Tết. Chị K. tái mặt, để rơi đôi đũa, nước mắt đã vòng quanh:
“Thế là thế nào hả các anh? Phen này lại bị bắt nữa thì tôi sống thế nào được? Các anh rủ nhau làm những chuyện gì mà khổ sở thế không biết!”
Trần Dần cũng tái mặt, anh cắn chặt môi, xốc ba lô lên vai, an ủi vợ:
“Em đừng lo. Tin đồn bậy bạ đấy thôi. Anh đi công tác đây, gần đến tháng đẻ, em đừng lo nghĩ gì cả.”
Nhưng chị K. không thể bình tĩnh được. Chị tiễn chồng ra cửa khóc oà lên:
“Anh ơi… Anh có về nữa không, anh ơi!” ”
……
Trần Dần cứ thế mà tin yêu, mà mong ước, mà chờ đợi, mà vật vã vươn tới.

Và, ông đã để lại cho đời không chỉ một tài sản văn học lớn, một tinh thần cách mạng sáng tạo mà còn một tấm gương học hỏi, lao động cần cù. Nguyễn Trọng Tạo kể:
“Tôi khâm phục sự học của ông. Ông học bằng cách đọc thế giới (sách), đọc và quan sát suộc sống, học làm người nghĩa là làm một nhân cách cá biệt, đôi khi như kẻ lập dị giữa đời, giữa đám đông. Học bằng cách làm việc cật lực cho văn thơ. Học bằng cách ngồi dịch sách, dich tài liệu để kiếm sống. Năm 1983, nhạc sĩ Văn Cao nhờ tôi sang nhà Trần Dần mời ông đến nhà uống rượu nhân 60 tuổi, tôi chú ý vết đen trên tường sau chiếc ghế ông ngồi. Cái vết đen như một hình nhân, như cái bóng của ông. Ông đã ngồi dựa tường như vậy suốt mấy chục năm, để đau khổ, để cô đơn toàn phần, để suy nghĩ, để đọc và để viết”.
 *
Năm 1997, một ngày Hà Nội âm u giá buốt, nhà thơ Khương Hữu Dụng khi ấy đã gần trăm tuổi đến bên quan tài Trần Dần khóc và đọc hai câu thơ cổ:
Nhất thất cước thành thiên cổ hận
Tái hồi đầu thị bách niên thân

(Lỡ một bước nghìn năm ân hận.
Quay đầu lại đã thành người trăm năm).

Tôi rất kính và yêu nhà thơ Khương Hữu Dụng. (Trong thập niên 60 thế kỷ trước, sau một buổi tọa đàm thơ ở báo Văn Nghệ, tôi đèo cụ về (bằng xe đạp). Đến cổng, cụ níu lại trò chuyện. Đứng lâu mỏi chân, cụ lôi tôi lên nhà đàm đạo đến gần hai giờ sáng, để tiếp tục giảng giải rằng cụ khen mấy bài thơ vừa đăng trên “Tác Phẩm Mới” của tôi là khen thật. Về nhà, tôi phải khóa xe để ngoài, trèo tường vào). Tuy nhiên, ở chỗ này, tôi không đồng ý với Cụ.
Tôi cũng rất nể phục nhà bình luận văn chương Thụy Khuê, nhưng tôi cũng không đồng ý nhận xét này: “ Tháng 12 năm 1959, Trần Dần thốt lên: "Chao ôi! Con đường để đi tới chỗ "Đúng" mới nhiều máu làm sao". Con người “ Nhất định thắng” ấy, đã thua, đã hàng, chấp nhận ly khai những lý tưởng ngày trước của mình”.
Trần Dần không lỡ bước, không thua, không đầu hàng cái gì cả.
Cho đến bây giờ, nhìn lên trờì sao đất nước, nhìn vào lịch sử văn học Việt Nam, tôi vẫn thấy một Trần Dần rất đáng mãn nguyện.
“Tôi có nghèo đâu, trăng sao lủng liểng. Mây phơi dằng dặc khắp chân trời. Hương hỏa của tôi, kho nào chứa xuể? Ê hề vũ trụ sao bay. Tôi di lại cho ai giờ? Tầng tầng mây, lục địa lục địa của cải”. (Sổ bụi 1979).

Kỷ niệm 85 năm ngày sinh Trần Dần
Hà Nội 23 tháng 8 năm 1926

Nguyễn Thanh Giang
 


(*) Tố Hữu – “Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân Văn Giai phẩm trên mặt trận văn nghệ”.
(**) Tạp chí Văn nghệ số 12, tháng 5 năm 1958 – “Những lời thú nhận bước đầu của một số phần tử trong nhóm phá hoại Nhân văn-Giai phẩm”.
(***) Phạm Xuân Nguyên – “Trần Dần – Thơ ở đâu?”




Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 154012)
T hì cứ gầm lên biển quê nhà Lòng ta vừa dậy sóng Trường Sa Sừng sững oai linh hề! Tổ-Quốc Truyền đăng, gờn gợn máu ông cha.
25 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 146174)
G ót giày đạp vào cái mặt một người một người yêu nước thân chăng bốn góc công an
17 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 149725)
A nh đã tới chỗ ấy Đã gặp vầng trăng mươn mướt của anh Nó ngồi đó, một mình, không cô đơn nhưng tràn trề tĩnh lặng Nó tự sáng hay em làm nó sáng
17 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 139577)
LTS : Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, nhà văn Quý Thể hiện định cư tại USA.Hân hạnh giới thiệu một trong những truyện ngắn như những nụ cười ý nhị của Quý Thể gởi đến quí độc giả và văn hữu của Hợp Lưu. TCHL
17 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 124349)
S au năm 75, cũng như bao nhiêu nhà văn khác, Hạc Thành Hoa bị rơi vào vùng hẫng hụt của những nghị quyết, bo bo, sắn mì… Cả bối cảnh xã hội và hoàn cảnh cá nhân đã đặt ông vào tình cảnh trì trệ, đầu óc khô cứng. Dẫu vậy ông vẫn cầm bút và tiếp tục viết, để cuối cùng cũng cho ra mắt độc giả 2 tập Phía Sau Một Vầng Trăng và Khói Tóc. Song thú thật, khi đọc tôi có cảm giác như thơ ông đã sắp ngừng hơi thở những cơn mộng mị đẹp, đối mặt với thực tế có phần khắc nghiệt hơn nhiều, bởi hoàn cảnh xã hội đã chọn chúng ta chứ chúng ta không có quyền chọn lựa gì cả. Cái quyền thiêng liêng bất khả kia giống như ngọn đèn cạn dầu, leo lét.
17 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 119888)
T ôi điếng người sau cú phôn. Phôn của anh bạn ở Portland. Phụng dính ung thư gan! Tôi loanh quanh chẳng biết mình đang làm gì và đang muốn làm gì. Có lẽ nào! Đang khi không bỗng trời ập xuống.
17 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 117018)
Đ ây là bài viết thứ ba, đề cập tới nhu cầu xây dựng các hồ chứa nước ngọt từ hai vùng trũng thiên nhiên Đồng Tháp Mười và Đồng Cà Mau nhằm giữ lại được phần nước đổ xuống từ thượng nguồn và cả lượng nước mưa hàng năm, đáp ứng nhu cầu khẩn thiết về nước uống, phục vụ canh tác và kỹ nghệ cho ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL thay vì đổ phí ra Biển Đông qua các cửa sông. Quan trọng hơn thế nữa là bảo vệ được các tầng nước ngầm / underground aquifers ngăn đất sủi phèn đưa tới acít hóa toàn vùng đất đai ruộng vườn.
29 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 113383)
H ợp Lưu 114 đến với quí độc giả và văn hữu trong những ngày đầu tháng 7 khi những cơn mưa bất chợt ở Sài Gòn và Hà Nội báo hiệu một mùa ngập lụt mới. [...] Những ngày đầu hè thật nóng như các cuộc xuống đường liên tục của người dân Việt Nam để phản đối Trung Quốc về sự lấn chiếm vùng biển đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Những cuộc biểu tình của người Việt cùng khắp từ trong nước ra hải ngoại; từ Hà Nội, Sài Gòn đến Liên bang Mỹ, Pháp, Nhật, Úc...
15 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 127180)
N hưng những cuộc hỗn chiến xảy ra ngày càng quyết liệt giữa cái gia đình nhà Monney con & Kít với con chó lai Nhật mang tên Lucky - Cún . Cuộc hỗn chiến nhiều khi làm Cún tơi tả, máu chảy ròng ròng. Càng khiến tôi nhớ lại chuyện Money từng ăn thịt xác con. Cả sân nhà thối hoăng vì phân chó, nước đái chó, thức ăn ôi thiu…
12 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 153716)
T ôi xin lỗi rất đau lòng nhưng phải nói ra ngày mất Hoàng Sa chỉ nửa nước đau thương căm hờn lũ giặc chỉ nửa nước sục sôi niềm đau mất đất
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3816)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13279)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19646)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18619)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1612)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1760)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2280)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2395)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1440)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2203)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1941)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1987)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1361)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2387)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2598)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2361)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 234)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 789)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 988)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1100)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6399)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15878)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38853)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1469)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6892)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10662)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9868)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9995)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10786)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3435)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11148)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10350)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi